Thứ tư 04/03/2026 05:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm tính nhất quán và xuyên suốt trong việc áp dụng Luật Thủ đô (sửa đổi) trong hệ thống pháp luật hiện hành

Quy định về áp dụng Luật Thủ đô (sửa đổi) nhằm xử lý mối quan hệ giữa Luật Thủ đô với các luật, nghị quyết của Quốc hội; giữa các văn bản quy định chi tiết, văn bản do Chính phủ, bộ, ngành, chính quyền Thành phố ban hành để thực hiện những nội dung được phân quyền trong Luật Thủ đô với văn bản khác của các cơ quan nhà nước là vấn đề quan trọng, quyết định đến hiệu quả, hiệu lực thi hành của Luật Thủ đô sau khi được ban hành. Trong đó, Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định áp dụng Luật Thủ đô với các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội áp dụng riêng cho Thành phố.

Tại khoản 8 Phần III Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 quy định hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thủ đô với cơ chế, chính sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới với những nội dung cụ thể như sau: “Trên cơ sở tổng kết, bổ sung, sửa đổi Luật Thủ đô, khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật với các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội cho Thủ đô; xác lập rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm và quyền hạn, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của Hà Nội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo chuyển biến rõ nét về môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, chú trọng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi và tiết giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp; Tăng cường phân cấp, phân quyền cho Thủ đô trên một số lĩnh vực nhằm tạo sự chủ động, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Thủ đô gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực; các chương trình, dự án kết nối liên vùng, liên tỉnh, phục vụ đa mục tiêu, kết nối hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực của vùng… Sớm tổng kết mô hình thí điểm việc thực hiện không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp phường trên địa bàn Hà Nội, hoàn thiện tổ chức, bộ máy chính quyền Thủ đô theo hướng tinh gọn, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, liên thông, phù hợp với vai trò, vị trí và yêu cầu phát triển, quản lý Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới”.

Nội dung nêu trên đã phần nào thể hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc đưa Nghị quyết số 15-NQ/TW vào thực tiễn xây dựng Thủ đô theo mục tiêu đề ra, đó là xây dựng, hoàn thiện Luật Thủ đô (sửa đổi) với hai nội dung cần quan tâm gồm: (i) Hoàn thiện hệ thống pháp luật với các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội cho Thủ đô; (ii) Tăng cường phân cấp, phân quyền cho Thủ đô trên một số lĩnh vực gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực. Chính vì vậy, cần phải xây dựng một nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật dành riêng cho Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng như các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thi hành có những điểm khác biệt so với quy định tương ứng theo nguyên tắc quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quy định này vừa bảo đảm khả năng thực thi trên thực tế, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của Luật Thủ đô (sửa đổi) nhưng vẫn duy trì được nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định pháp luật.

Tại Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định về áp dụng Luật Thủ đô như sau: “1. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định khác với quy định của Luật Thủ đô về cùng một vấn đề mà cần áp dụng thì phải quy định cụ thể ngay trong luật, nghị quyết đó; trường hợp chưa có quy định cụ thể về việc áp dụng pháp luật và việc áp dụng quy định đó cần thiết cho việc xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng theo đề nghị của Chính phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

3. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung của Luật Thủ đô, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Thủ đô được áp dụng trong trường hợp có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng quy định về một vấn đề”.

Phân tích đánh giá cụ thể nội dung trên như sau:

Theo khoản 1 Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)[1] quy định: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”. Đây là quy định nhằm xác lập phạm vi áp dụng trong trường hợp giữa Luật Thủ đô (sửa đổi) và luật, nghị quyết khác của Quốc hội có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Cách làm này đã được quy định trong một số luật như: Tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) quy định: “Trường hợp luật khác có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật đó”; khoản 1 Điều 4, Luật Dầu khí năm 2022 quy định: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Dầu khí và luật khác về cùng một vấn đề cụ thể liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thì áp dụng Luật Dầu khí, bao gồm: a) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư dự án dầu khí; b) Thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và trách nhiệm của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến về việc sử dụng vốn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, doanh nghiệp 100% vốn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khi thực hiện quyền tham gia vào hợp đồng dầu khí, quyền ưu tiên mua trước quyền lợi tham gia trong hợp đồng dầu khí và khi thực hiện hoạt động dầu khí theo các giai đoạn của hợp đồng dầu khí, dự án dầu khí; việc tham gia của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với doanh nghiệp có vốn góp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam vào các hợp đồng dầu khí; nguyên tắc xử lý chi phí; quản lý, sử dụng thông tin, dữ liệu, tài liệu, mẫu vật, công trình dầu khí và tài sản khác đã được lắp đặt, đầu tư của hợp đồng dầu khí đã kết thúc để tiếp tục triển khai hoạt động dầu khí, thu dọn công trình dầu khí đã tiếp nhận và xử lý thu dọn; c) Việc lựa chọn nhà thầu ký kết hợp đồng dầu khí”; khoản 1 Điều 3 Luật Đấu thầu năm 2023 cũng quy định: “Hoạt động đấu thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp có quy định khác nhau về đấu thầu giữa Luật này và luật khác được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”… Tuy nhiên, nội dung quy định tại khoản 1 Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) có sự khác biệt so với quy định của các luật khác trong hệ thống pháp luật về cùng một vấn đề khi mà đặt Luật Thủ đô (sửa đổi) được ưu tiên áp dụng trong tổng thể hệ thống pháp luật. Mặt khác, quy định này còn là sự cụ thể, chi tiết hóa nội dung khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nhưng được tiếp cận dưới một khía cạnh khác.

Tại khoản 2 Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định: “Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định khác với quy định của Luật Thủ đô về cùng một vấn đề mà cần áp dụng thì phải quy định cụ thể ngay trong luật, nghị quyết đó; trường hợp chưa có quy định cụ thể về việc áp dụng pháp luật và việc áp dụng quy định đó cần thiết cho việc xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng theo đề nghị của Chính phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”. Đây là nội dung được thiết kế nhằm mục đích tạo ra “cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội cho Thủ đô” một cách thường xuyên, liên tục mà không cần phải sửa đổi, bổ sung trực tiếp Luật Thủ đô khi các đạo luật khác có liên quan được sửa đổi, bổ sung. Cách thức quy định tương tự như trên cũng đã được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 13 Luật Đầu tư năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) như sau: “1. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư mới, ưu đãi đầu tư cao hơn thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư, trừ ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 20 của Luật này. 2. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư”.

Tại khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung của Luật Thủ đô, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Thủ đô được áp dụng trong trường hợp có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng quy định về một vấn đề”. Nội dung này nhằm cụ thể hóa yêu cầu “hoàn thiện hệ thống pháp luật” được ghi nhận tại khoản 8 Phần III Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hơn nữa, việc quy định như vậy mới bảo đảm tính khả thi của Luật Thủ đô (sửa đổi) trên thực tế cuộc sống./.

Nguyễn Bích Thủy

Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội


[1] Dự thảo ngày 05/6/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam: Nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước

Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam: Nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước

Đề cương Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới" xác định cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất tầm nhìn, định hướng, các giải pháp cơ bản hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, bảo đảm bao quát đầy đủ các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội cần điều chỉnh pháp luật, tinh gọn, thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định và dễ tiếp cận, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới, với tầm nhìn đến năm 2045.
Tăng cường

Tăng cường 'nội lực vật chất' và củng cố 'nội lực tinh thần'

Hai nghị quyết mới là sự bổ sung những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần”.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Tăng cường vai trò luật sư, luật gia trong rà soát pháp luật

Tăng cường vai trò luật sư, luật gia trong rà soát pháp luật

Sáng ngày 10/02/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh làm việc với các đơn vị về dự thảo Đề án tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Đề án). Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Phan Chí Hiếu và đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031

Đây là nội dung Đề án đang được Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật nghiên cứu xây dựng nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng cơ chế tổ chức thi hành pháp luật công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Hội thảo khoa học “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới”

Hội thảo khoa học “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới”

Hội thảo dự kiến được Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức ngày 05/02/2026 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến nhằm nhận diện những vướng mắc, đánh giá kết quả đạt được và kiến nghị giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật về tiếp cận thông tin, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong “kỷ nguyên mới”.
Hoàn thiện pháp lý để tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật toàn quốc

Hoàn thiện pháp lý để tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật toàn quốc

Đề án "Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng nhằm xác định các giải pháp cụ thể để tổ chức kịp thời, khoa học, hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực.
Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới; phát huy vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tế, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, giảm chi phí tuân thủ pháp luật.
Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thẩm định Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Tiếp tục hoàn thiện quy định về thành phần hồ sơ theo hướng chấp nhận bản sao, bản sao điện tử và khai thác dữ liệu; không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Căn cứ Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và những yêu cầu, đòi hỏi mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của một số đối tượng liên quan, Bộ Tư pháp dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng

Chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trong tình hình mới; xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Phát triển cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia

Phát triển cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia

Dự thảo Luật Hộ tịch (dự thảo Luật) được xây dựng nhằm thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm quyền nhân thân, quyền công dân của cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân; nâng cấp, phát triển cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia...

Theo dõi chúng tôi trên: