Chủ nhật 05/04/2026 05:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ trẻ em khi cha mẹ ly hôn thông qua quy định về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

Theo Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

1. Bảo vệ trẻ em thông qua quy định về việc nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn

Sau khi ly hôn, một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra đó là ai sẽ người trực tiếp nuôi con. Theo quy định của pháp luật thì cha, mẹ có thể thỏa thuận hoặc Tòa án có quyền quyết định xem ai sẽ là người trực tiếp nuôi con. Nếu con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất cho đứa bé mới sinh trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con[1]. Chỉ trong những trường hợp như người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con thì người mẹ mới không có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con. Quy định trên của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm trực tiếp bảo vệ trẻ sơ sinh, bảo đảm sự chăm sóc cần thiết nhất cho trẻ. Đối với trẻ sơ sinh thì cuộc sống không thể tách rời người mẹ, chỉ người mẹ mới có thể chăm sóc tốt nhất cho đứa trẻ trong giai đoạn này. Do đó, quy định giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp.

Khi hai bên cha mẹ không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên nuôi căn cứ vào lợi ích mọi mặt của con cũng như xem xét nguyện vọng của con nếu con trên 07 tuổi. Quy định này là hợp lý vì trẻ em từ 07 tuổi trở lên bước đầu đã ý thức được những điều xung quanh cuộc sống nên được trao cho quyền tự chủ, quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình. Việc xem xét ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên là phù hợp với quy định ở Điều 12 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1990: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em...”.

Cũng cần phải khẳng định rằng, không phải trong mọi trường hợp khi đứa con từ 07 tuổi trở lên bày tỏ nguyện vọng sống cùng ai thì Tòa án sẽ chấp thuận theo nguyện vọng của đứa trẻ. Bởi lẽ, đôi khi sự lựa chọn của trẻ em về việc chung sống cùng cha hay mẹ phần nhiều là dựa theo cảm tính. Chính vì vậy, nguyện vọng của đứa trẻ cũng chỉ là một căn cứ để Tòa xem xét còn việc quyết định quyền nuôi con còn dựa vào điều kiện kinh tế, phẩm chất đạo đức của cha, mẹ...

Thỏa thuận người trực tiếp nuôi con giữa vợ, chồng hay quyết định việc ai sẽ là người nuôi con của Tòa án có thể được thay đổi trong các trường hợp sau: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con[2] . Khi cha mẹ là người trực tiếp nuôi con không đủ khả năng để tiếp nuôi con hoặc nhận thấy việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ tốt hơn cho con thì việc thay đổi này sẽ giúp con có môi trường sống thuận lợi hơn, từ đó phát triển tốt hơn về thể chất cũng như tinh thần. Tuy nhiên, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng cần xem xét tới nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Như đã khẳng định, trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên đã có khả năng nhận thức về cuộc sống của bản thân mình. Nếu như các em đã làm quen và ổn định với việc sống cùng cha hoặc mẹ sau khi ly hôn thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cần phải xét đến tâm tư, nguyện vọng của các em, tránh việc khiến các em phải liên tục thay đổi để thích ứng với môi trường mới.

2. Bảo vệ trẻ em thông qua quy định về cấp dưỡng nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tại khoản 2 Điều 82 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”; khoản 1 Điều 110 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Có thể hiểu, nghĩa vụ cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu[3]. Cấp dưỡng là sự biểu đạt vật chất của tình đoàn kết giữa các thành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với một thành viên gia đình, theo đó, thành viên này phải giúp đỡ về vật chất cho thành viên khác khi người đó trong tình trạng túng quẫn và không thể tự giải quyết vấn đề về điều kiện sống của mình.

Pháp luật quy định cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn nhằm bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống ổn định nhất sau khi chịu những thiệt thòi so với bạn bè khác. Cấp dưỡng được coi là bù đắp phần nào cho đứa trẻ khi gia đình tan vỡ, thiếu đi sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha hoặc mẹ là tổn thất vô cùng lớn đới với trẻ. Nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con được bảo đảm ngay cả trong trường hợp cha mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau: (i) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; (ii) Phá tán tài sản của con; (iii) Có lối sống đồi trụy; (ix) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Bị hạn chế quyền đối với con hoàn toàn là lỗi của cha, mẹ, do vậy, mặc dù bị hạn chế về quyền nhưng cha, mẹ vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác đối với con, trong đó có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý. Mức cấp dưỡng không phải là một con số cố định trong suốt thời gian cấp dưỡng mà có thể thay đổi[4]. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định về sự thay đổi mức cấp dưỡng là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ mức cấp dưỡng thường được quyết định dựa trên các điều kiện thực tế tại thời điểm ly hôn. Sau khi ly hôn, các điều kiện này có thể thay đổi, và để đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi của đứa trẻ thì mức cấp dưỡng cũng cần thay đổi cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt, học tập thực tế của các em.

Việc thực hiện nghĩa vụ này là sự tự nguyện dựa trên mối quan hệ tình cảm gắn bó máu thịt giữa cha mẹ và con cái nhưng cũng là sự bắt buộc về mặt trách nhiệm pháp lý. Trong trường hợp cha, mẹ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng thì người còn lại đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án buộc người kia thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình. Nếu cha mẹ cố tình không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên, hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định này. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định” của Tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Ngoài việc bảo đảm về mặt vật chất thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái là nghĩa vụ của bố mẹ dù trong thời kỳ hôn nhân hay khi đã ly hôn. Bởi vì trẻ em là những phải chịu nhiều tổn thương từ việc ly hôn nên càng cần sự chăm sóc, yêu thương từ cha, mẹ hơn lúc nào hết. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chưa thành niên là nghĩa vụ đương nhiên của cha mẹ. Về tính chất pháp lý, nghĩa vụ (quyền) này của cha mẹ đối với con mình là tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối này vừa thể hiện quyền của cha mẹ nuôi dạy con mình là đương nhiên “ưu tiên” so với các chủ thể khác, vừa xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm của cha mẹ đối với mình. Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”. Hậu quả pháp lý của việc ly hôn là quan hệ nhân thân cũng như quan hệ tài sản giữa vợ và chồng chấm dứt, nhưng quan hệ giữa cha mẹ với con cái thì không hề thay đổi. Do vậy, cha mẹ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con như trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm điều kiện sống tốt nhất cho đứa trẻ có cha mẹ ly hôn, pháp luật cũng đã quy định một số hạn chế trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn, cụ thể là quy định về hạn chế quyền thăm nom của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn.

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Đây là một trong những quyền quan trọng của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, trong trường hợp người này lạm dụng việc thăm nom để gây ảnh hưởng xấu đế sự phát triển, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng đứa trẻ có trách nhiệm bảo vệ con trước những nguy cơ đến từ người không trực tiếp nuôi con. Theo đó, người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con đều là hành vi, vi phạm pháp luật, khi đó, người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con[5].

Cũng cần khẳng định rằng, thăm nom vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha và mẹ đối với con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, có nhiều người vì hiềm khích cá nhân, vì sự ích kỷ đã gây khó khăn trong việc thăm nom, chăm sóc con của người kia. Không ít trường hợp người trực tiếp nuôi dưỡng con tìm mọi cách để ngăn cản quyền thăm nom con của người kia như liên tục chuyển chỗ ở, không cho gặp con, gửi con cho người thân chăm sóc, thậm chí còn có các hành vi đe dọa dùng bạo lực. Theo quy định của pháp luật thì sau khi ly hôn, vợ hoặc chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Đây là quyền lợi và nghĩa vụ về nhân thân, mang tính bắt buộc của cha mẹ. Nếu như người nuôi con gây khó khăn, cản trở người kia đến thăm con; hoặc người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con thì đều là các hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài ra, hành vi gây khó khăn, cản trở quyền, nghĩa vụ trong quan hệ giữa cha, mẹ và con cũng được xem là hành vi bạo lực gia đình[6]. Hành vi này không những vi phạm đạo đức khi cắt đứt sợi dây tình cảm thiêng liêng của tình cảm mẫu tử, phụ tử mà còn vi phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) thì hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Quy định này là cần thiết, vừa nhằm bảo vệ quyền của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn, vừa nhằm bảo đảm quyền nhận được sự nuôi dưỡng bình thường từ hai phía của trẻ em có cha mẹ ly hôn. Hơn nữa, quy định này cũng phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, theo đó, Điều 9 Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị cách ly cha mẹ trái với ý muốn của họ, trừ khi những nhà chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét của tòa án quyết định là theo luật pháp và các thủ tục áp dụng thì việc cách ly như thế là cần thiết vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”.

3. Một vài kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn

Thứ nhất, cần quy định cấp dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc kể cả trong trường hợp bên trực tiếp nuôi con từ chối. Quyền được cấp dưỡng là quyền lợi của người con nên người trực tiếp nuôi dưỡng không có quyền từ chối vì như vậy là đi ngược lại lợi ích của người con. Nghĩa vụ cấp dưỡng vừa là nghĩa vụ nhưng cũng vừa là quyền của người cấp dưỡng.

Về thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con của mình mà không phải là từ lúc vợ chồng phải ly hôn, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Bởi lẽ, theo định nghĩa tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu cần thiết của người không sống chung với mình”. Như vậy, kể từ khi không trực tiếp chăm sóc con và không đóng góp để nuôi con thì nghĩa vụ cấp dưỡng của họ đã phát sinh và phải thực hiện mà không phải chờ đến lúc ly hôn.

Thứ hai, về cơ chế xử lý những trường hợp vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng. Trên thực tế, vấn đề vi phạm về nghĩa vụ cấp dưỡng rất phổ biến mặc dù đã có chế tài xử lý do chưa đủ nghiêm khắc và vấn đề xử lý hành vi vi phạm vẫn còn chưa kiên quyết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật...”. Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Theo tác giả, chế tài như trên chưa đủ tính răn đe đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn. Vì vậy, tình trạng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn còn khá phổ biến. Một bộ phận cha mẹ sau ly hôn vì “oán hận” đối phương nên cố tình bỏ bê, trốn tránh trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Do đó, pháp luật cần có chế tài nghiêm khắc hơn cũng như kiên quyết xử lý đối với những người có hành vi vi phạm vấn đề này. Nhà nước cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho người dân về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn, để người cha, người mẹ tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn.

Bên cạnh đó, cũng cần có giải pháp nhằm nâng cao ý thức của những người thân trong gia đình để Tòa án giải quyết được nhanh chóng hơn; khi lấy lời khai của những người thân trong gia đình thì phải khai báo trung thực không được vì tình riêng mà khai báo sai sự thật hoặc giả tạo.

Ngoài việc áp dụng các chế tài nghiêm khắc thì cũng cần phải nâng cao ý thức của người phải chấp hành nghĩa vụ. Vì vậy, công tác giáo dục ý thức pháp luật, lối sống có trách nhiệm cần thực hiện ngay đối với mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Để thực hiện được việc này, pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng cần được tuyên truyền, phổ biến qua các phương tiện thông tin đại chúng nhiều hơn, đặc biệt ở những nơi mà trình độ dân trí còn thấp. Cần có những chương trình phát thanh, truyền hình hay sách báo có nội dung pháp luật dễ hiểu, cụ thể, trong đó đưa ra các trường hợp thực tế để tạo được sự quan tâm của mọi người, từ đó, nâng cao sự hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân.

Thứ ba, khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Tuy nhiên, Luật lại không quy định cụ thể trong trường hợp nào mức cấp dưỡng được thay đổi mà lại do “các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Việc quy định như trên là chưa hợp lý, vẫn là ý kiến chủ quan từ phía cha, mẹ của trẻ và phía Tòa án. Do vậy, Luật Hôn nhân và gia đình cần bổ sung các trường hợp mà mức cấp dưỡng buộc phải thay đổi như trẻ em được cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn hơn do bị bệnh tật, tai nạn; hoặc đứa trẻ ngày càng lớn, nhu cầu chi tiêu cho việc học ngày càng nhiều; giá cả thị trường có sự biến động; người trực tiếp nuôi con không còn việc làm nên không có lương hoặc có thu nhập hợp pháp khác,… Trong những trường hợp trên, mức cấp dưỡng cần phải được điều chỉnh theo hướng tăng lên để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của trẻ em.

Hoàng Đình Dũng
Tòa án quân sự Khu vực, Quân khu 4


[1] Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] https://nganhangphapluat.thukyluat.vn/tu-van-phap-luat/quyen-dan-su/cap-duong-la-gi-10725.

[4] Khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Điểm d khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: