Thứ hai 21/09/2026 04:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần có cơ chế đột phá để tạo nguồn lực cho Thủ đô phát triển

Trên cơ sở luật hóa một số quy định của Nghị quyết số 115/2020/QH14, Điều 37 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định các chính sách đặc thù trong sử dụng nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô.

Ngày 02/6/2023, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 89/2023/QH15 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, trong đó có đề nghị xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi). Trong 09 chính sách đã được Quốc hội thông qua, có chính sách về cơ chế huy động nguồn lực, nâng cao năng lực tài chính - ngân sách cho phát triển của Thủ đô. Chính sách này được đề xuất nhằm tăng năng lực về ngân sách, tạo sự ổn định và tính tập trung về nguồn tài chính, tăng tính chủ động và sự linh hoạt trong điều hành ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển Thủ đô. Đồng thời, thu hút đầu tư xã hội để hỗ trợ cho nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai nhằm thực hiện các mục tiêu đầu tư phát triển Thủ đô xanh, thông minh, hiện đại (trọng tâm là phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình trọng điểm phát triển đô thị, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, nông nghiệp, nông thôn và khoa học công nghệ của Thủ đô).

Để đạt được mục tiêu trên, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, các bộ, ngành, chuyên gia, nhà khoa học tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động chính sách và đề xuất các giải pháp để thực hiện chính sách như sau:

Thứ nhất, kế thừa, bổ sung các quy định của Nghị quyết số 115/2020/QH14 ngày 19/6/20220 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thành phố Hà Nội:

- Được quyết định áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội một số khoản thu chưa được quy định trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí; điều chỉnh mức hoặc tỷ lệ thu phí đã được cấp có thẩm quyền quyết định đối với các loại phí được quy định trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí, trừ các loại phí thuộc nguồn thu của ngân sách Trung ương hưởng 100%.

- Sau khi ngân sách thành phố bảo đảm đủ nguồn cải cách tiền lương và thực hiện chính sách an sinh xã hội cho cả thời kỳ ổn định ngân sách theo quy định, Thành phố được quyết định sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư của ngân sách cấp thành phố và cho phép ngân sách cấp dưới sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách địa phương Thành phố Hà Nội.

- Được quyết định sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên của ngân sách địa phương để đầu tư nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản công và xây dựng mới các hạng mục công trình phụ trợ thiết yếu trong cơ sở đã có của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị thuộc tổ chức chính trị - xã hội do Thành phố quản lý theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

- Được quyết định sử dụng ngân sách cấp thành phố hỗ trợ các địa phương khác trong nước trong các trường hợp cần thiết; cho phép cấp huyện sử dụng ngân sách cấp mình để hỗ trợ các quận, huyện, thị xã khác của Thành phố Hà Nội và của các đơn vị cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố khác trên cả nước trong việc phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đầu tư các công trình trọng điểm.

- Được quyết định tạm ứng Quỹ dự trữ tài chính để triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, đã có quyết định phê duyệt dự án và thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố trong trường hợp cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Thời gian mỗi khoản tạm ứng không quá 36 tháng kể từ ngày tạm ứng, tổng các khoản tạm ứng này tại một thời điểm không quá 50% số dư của Quỹ tính đến đến ngày 31/12 năm trước.

- Cho phép Thành phố được được vay thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các tổ chức tài chính trong nước, các tổ chức khác trong nước và từ nguồn trái phiếu Chính phủ phát hành.

Thứ hai, Thành phố được thực hiện các cơ chế nhằm thu hút đầu tư xã hội để hỗ trợ cho nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai nhằm thực hiện các mục tiêu đầu tư phát triển Thủ đô Hà Nội xanh, thông minh, hiện đại, gồm:

- Được thực hiện đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong các lĩnh vực văn hóa và thể thao (phạm vi rộng hơn Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư), được phép quyết định mức vốn Nhà nước ở mức tối đa là 70% trong các dự án PPP.

- Được thực hiện dự án đầu tư theo phương thức xây dựng - chuyển giao (hợp đồng BT) trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

- Được quyết định danh mục: Lĩnh vực (phát triển hạ tầng - đô thị, bảo vệ môi trường, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, an sinh xã hội), hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu cần khuyến khích đầu tư kinh doanh, biện pháp khuyến khích đầu tư, quyết định phương thức thực hiện (đặt hàng, giao nhiệm vụ…) và quy định nguyên tắc, nội dung xác định đơn giá, phương thức thanh toán ngoài các quy định của Trung ương, phù hợp với tình hình thực tế và đặc điểm của Thủ đô.

- Được tăng thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với: (i) Các dự án đầu tư theo Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành khác (dự án đầu tư phát triển đô thị, nhà ở, khu công nghiệp…); (ii) Các dự án đầu tư công (dự án hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; dự án sử dụng ngân sách Trung ương, nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giao Thành phố làm chủ đầu tư; các dự án đầu tư công bằng vốn ngân sách của Hà Nội tại địa bàn tỉnh khác hoặc dự án liên tỉnh, liên vùng nằm trong vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ) phù hợp với quy hoạch và kế hoạch đầu tư công được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Được thành lập doanh nghiệp đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, kinh doanh vốn nhà nước và quản lý, khai thác tài sản thuộc sở hữu 100% vốn nhà nước thuộc Thành phố (do Ủy ban nhân dân Thành phố đại diện chủ sở hữu) để xây dựng, quản lý và khai thác các dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu của Thủ đô.

Thứ ba, Thành phố được bố trí kinh phí từ ngân sách hỗ trợ di dời, xây dựng mới, bố trí đất cho các cơ sở sản xuất, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, bệnh viện trong nội thành; hỗ trợ di chuyển trụ sở các cơ quan Trung ương. Nhà, đất sau khi di dời được giao cho Thành phố Hà Nội sử dụng theo quy hoạch:

Trên cơ sở các giải pháp đã được thông qua, trong thời gian qua, Ban soạn thảo xây dựng Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) đã thể chế hóa chính sách trên và xây dựng các điều khoản trong Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), cụ thể như sau:

(i) Về huy động nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô.

Kế thừa cơ bản nội dung Điều 21 Luật Thủ đô năm 2012, đồng thời luật hóa một số quy định tại Nghị quyết số 115/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thành phố Hà Nội (Nghị quyết số 115/2020/QH14) mà qua quá trình triển khai trong thực tế cho thấy, các chính sách thí điểm này là phù hợp, hiệu quả, có thể đề xuất luật hóa để thực hiện chính thức. Trong đó:

- Các quy định về ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu và thưởng cho Thủ đô; áp dụng một số loại phí, lệ phí chưa có trong Danh mục theo quy định của Luật Phí và lệ phí; việc hưởng 100% số thu tăng thêm từ các khoản phí chủ yếu là kế thừa quy định của Luật Thủ đô năm 2012, luật hóa quy định của Nghị định số 63/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách tài chính ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội và Nghị quyết số 115/2020/QH14. Một số quy định chính sách này hiện đang được áp dụng cho Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Cần Thơ, Đà Nẵng.

- Khoản 5 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội được vay thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các tổ chức tài chính trong nước, các tổ chức khác trong nước và từ nguồn trái phiếu Chính phủ phát hành hoặc bảo lãnh Chính phủ mà không bị hạn chế mức trần. Tổng mức vay và bội chi ngân sách Thành phố Hà Nội hằng năm do Quốc hội quyết định.

- Khoản 6 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định ngân sách Thành phố Hà Nội được giữ lại tối đa các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố để tạo nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và các dự án, công trình, dự án trọng điểm, có tính chiến lược của Thủ đô, vùng Thủ đô, các dự án PPP, dự án giao thông công cộng, hỗ trợ di dời các cơ sở, đơn vị thuộc danh mục phải di dời theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Hằng năm, trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định tỷ lệ điều tiết cụ thể phù hợp với mục tiêu sử dụng nguồn vốn.

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành thì khoản thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố là khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100%. Tuy nhiên, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/06/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao yêu cầu: Có cơ chế điều tiết hợp lý, hiệu quả nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giữa Trung ương và địa phương. Do đó, để thể chế hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW, bảo đảm nguồn lực cho xây dựng và phát triển Thủ đô, đặc biệt nhu cầu đầu tư ổn định cho dự án hạ tầng kỹ thuật và xã hội quy mô lớn và có tính chất liên kết Vùng Thủ đô như các tuyến đường Vành đai 4, Vành đai 5, các tuyến đường sắt đô thị… Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định ngân sách Thành phố Hà Nội được giữ lại tối đa các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; tỷ lệ điều tiết cụ thể sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định hằng năm.

(ii) Sử dụng nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô.

Trên cơ sở luật hóa một số quy định của Nghị quyết số 115/2020/QH14, Điều 37 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định các chính sách đặc thù trong sử dụng nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô, trong đó chủ yếu cho phép Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội được quyền quyết định việc sử dụng ngân sách Thành phố để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ các địa phương phát triển. Cụ thể:

- Sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên của ngân sách địa phương thực hiện các dự án cải tạo, mở rộng, xây dựng mới các hạng mục trong các cơ sở, công trình tài sản công đã có do Thành phố Hà Nội quản lý (điểm b khoản 1 Điều 37 Dự thảo Luật).

Thực tế hiện nay, hệ thống các trụ sở, công trình trong trụ sở cơ quan nhà nước phát sinh nhu cầu thực hiện cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây mới các hạng mục công trình với giá trị không lớn nhưng có tính cấp bách, phát sinh thường xuyên hoặc đột xuất và có quy mô kinh phí nhỏ, khó kế hoạch hóa nên thường không được đưa vào danh mục đầu tư công trung hạn khiến việc triển khai không kịp thời, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị. Việc cho phép được sử dụng nguồn chi thường xuyên ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới các hạng mục trong các công trình đã có (chưa nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn) nhằm bảo đảm tính kịp thời, linh hoạt và tính chủ động trong điều hành chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là ngân sách địa phương.

- Sử dụng ngân sách Thành phố Hà Nội hỗ trợ các địa phương khác trong nước, các địa phương tại các nước khác trong các trường hợp cần thiết, cho phép cấp huyện sử dụng ngân sách cấp mình để hỗ trợ các quận, huyện, thị xã khác của Thành phố Hà Nội và các đơn vị cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố khác trên cả nước trong việc phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ an sinh xã hội (điểm d khoản 1 Điều 37 Dự thảo Luật); sử dụng ngân sách Thành phố Hà Nội để thực hiện dự án đầu tư, công trình, dự án trọng điểm có tính chất vùng, liên tỉnh nằm trên ranh giới, địa giới hành chính giữa Thủ đô và địa phương khác, các dự án quốc lộ, cao tốc đi qua địa bàn Thủ đô phù hợp với quy hoạch và kế hoạch đầu tư công được cấp có thẩm quyền phê duyệt (điểm đ khoản 1 Điều 37 Dự thảo Luật).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Ngân sách nhà nước, nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương bao gồm chi đầu tư cho các dự án có tính chất liên vùng. Khoản 9 Điều 9 Luật này cũng không cho phép dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác.

Hiện nay, nhu cầu đầu tư các dự án có tính chất vùng, liên vùng, nhất là các công trình giao thông trọng điểm là rất lớn. Trong khi đó, một số địa phương khác trong vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc ngân sách Trung ương chưa cân đối được nguồn vốn nên nhiều dự án có tính động lực, liên vùng thuộc địa giới hành chính của các địa phương khác kết nối với Hà Nội chưa được bố trí nguồn vốn để triển khai thực hiện.

Do đó, quy định như Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) sẽ tạo cơ sở pháp lý để Thành phố Hà Nội có thể sử dụng nguồn vốn ngân sách thành phố chi cho các khoản đầu tư thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương hoặc của địa phương khác, nước khác.

(iii) Về tách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng, phương thức thực hiện dự án đầu tư.

Theo quy định của Luật Đầu tư công, đối với dự án nhóm B, dự án nhóm C không được tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập tại bước quyết định chủ trương đầu tư như dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A. Việc giải phóng mặt bằng được triển khai tại bước thực hiện dự án, sau khi đã hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư (lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư).

Đối với dự án nhóm B, nhóm C, thời gian thực hiện dự án là khá hạn hẹp khi phải triển khai công tác giải phóng mặt bằng đi kèm với các công việc khác như lập thiết kế kỹ thuật, lập thiết kế bản vẽ thi công, lập dự toán dự án và các hạng mục của dự án, triển khai đấu thầu… trước khi tổ chức thi công dự án. Trên thực tế, để thực hiện một số công việc này cũng mất rất nhiều thời gian (riêng công tác đấu thầu thường kéo dài từ khoảng 06 tháng đến 12 tháng đối với một dự án, tùy thuộc vào mức độ phức tạp của các gói thầu). Điều này dẫn đến nhiều công việc phải triển khai trong thời gian tương đối ngắn, áp lực về thời hạn làm cho chất lượng không bảo đảm; quá trình thực hiện dự án quy định trong Luật Đầu tư công hiện hành không phản ánh được bản chất của việc thực hiện dự án trên thực tế khi mà một số công việc có tính chất chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án được đưa vào thực hiện dự án.

Đối với các dự án nhóm B quy mô lớn (Luật Đầu tư công quy định dự án nhóm B có quy mô tổng mức đầu tư từ 45 tỷ đồng đến dưới 2.300 tỷ đồng), thường là các dự án có yêu cầu về giải phóng mặt bằng trên diện tích lớn, chuyển đổi mục đích sử dụng đất (thuộc lĩnh vực giao thông, thủy lợi)… hầu hết khó có thể đáp ứng yêu cầu về thời hạn bố trí vốn nêu trên. Trong trường hợp đó, việc tiếp tục bố trí vốn để triển khai cần phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, có thể tiếp tục gây kéo dài thời gian thực hiện dự án.

Do đó, Điều 38 Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định về việc cho phép tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng ra khỏi dự án đầu tư công, tương tự như cơ chế, chính sách đặc thù được áp dụng thí điểm cho tỉnh Khánh Hòa theo Nghị quyết số 55/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa.

Việc cho phép Hà Nội có một số cơ chế chính sách đặc thù trong huy động nguồn lực tài chính - ngân sách nhằm tạo bước chuyển có tính đột phá trong huy động sức mạnh tổng hợp, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Thủ đô, kết hợp với nguồn lực của cả nước và nguồn lực quốc tế, xây dựng và phát triển Thủ đô thực sự xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trái tim của cả nước; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế; xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn; phát triển nhanh, bền vững, có sức lan tỏa để thúc đẩy Vùng Đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước cùng phát triển mà Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra.

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).
Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Kế hoạch). Việc ban hành Kế hoạch nhằm bảo đảm Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính thực chất trong tổ chức thi hành pháp luật.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Đề xuất mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Chiều ngày 11/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xây dựng hệ sinh thái thể chế kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đồng bộ, vận hành hiệu quả

Xây dựng hệ sinh thái thể chế kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đồng bộ, vận hành hiệu quả

Đây là mục tiêu quan trọng tại Hội thảo “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tổ chức ngày 10/9/2026, bằng hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết nối trực tuyến tới hơn 100 điểm cầu trên cả nước. Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý; đồng chí Nguyễn Chi Lan, Phó Cục trưởng Cục Pháp luật dân sự - kinh tế đồng chủ trì Hội thảo.

Theo dõi chúng tôi trên: