Thứ sáu 18/09/2026 08:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở pháp lý xây dựng nền hành chính số ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền hành chính nhà nước ở Việt Nam. Theo đó, việc áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông vào sự vận hành của nền hành chính nhà nước là yêu cầu cấp thiết để xây dựng nền hành chính số. Bài viết làm rõ thực trạng pháp luật về nền hành chính số ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này trong thời gian tới.

Trong những năm gần đây, việc áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý nội bộ và trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước thông qua văn bản điện tử, chia sẻ dữ liệu, cơ sở dữ liệu quốc gia, cũng như trao đổi giữa cơ quan nhà nước và người dân, doanh nghiệp thông qua hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến đã được đẩy mạnh. Việc ngày càng hoàn thiện dịch vụ công trực tuyến đã góp phần bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức quản lý hành chính nhà nước trong quá trình hoạt động.

Cùng với xu hướng hoàn thiện pháp luật nói chung đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nền hành chính nhà nước cũng được quan tâm hoàn thiện theo chiến lược xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện thủ tục hành chính công trực tuyến đã và đang góp phần tích cực vào việc số hóa nền hành chính quốc gia. Cung ứng dịch vụ công trực tuyến ngày càng hoàn thiện đã góp phần bảo đảm sự minh bạch, trách nhiệm giải trình của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong quá trình vận hành nền hành chính.

1. Thực trạng pháp luật về nền hành chính số ở Việt Nam

1.1. Kết quả đạt được

Đại hội XIII của Đảng đã xác định, “xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”[1], trong đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số[2], trong đó, cơ sở hạ tầng số dùng chung là những nền tảng cơ bản để tạo ra các giải pháp số cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

Từ năm 2011 đến nay, thể chế, pháp luật về ứng dụng công nghệ thông tin và các nền tảng công nghệ số trong cơ quan hành chính nhà nước đã và đang tạo cơ sở bước đầu cho nền hành chính số. Cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở pháp luật về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, số hóa các hoạt động trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xây dựng khung kiến trúc Chính phủ điện tử và Cổng dịch vụ công quốc gia đã từng bước hoàn thiện.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật từng bước được ban hành như: Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật Đấu thầu năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023... và các văn bản hướng dẫn thi hành bảo đảm cơ sở về nguyên tắc và quy định cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của tổ chức, cá nhân và cơ quan nhà nước, bảo đảm sự phát triển và an ninh, an toàn cho lĩnh vực này.

Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật nêu trên và nhiều văn bản về xây dựng nền hành chính số như: Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018 - 2019; Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 12/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2022 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước… Ngoài ra, nhiều chỉ thị, hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, thúc đẩy và tổ chức triển khai hành chính số ở cấp độ thực tiễn.

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo ra cơ sở pháp lý toàn diện cho việc triển khai hành chính số, quản lý tài nguyên thông tin điện tử và các dịch vụ công trực tuyến, góp phần thúc đẩy và phát triển hành chính số ở Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người dân và doanh nghiệp trong quá trình này.

Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính điện tử ngày càng hoàn thiện.

Quá trình cải cách thủ tục hành chính trên môi trường điện tử đã được Chính phủ quan tâm thực hiện từ những năm 2000, góp phần tạo chuyển biến liên tục trong nhiều năm về kết quả thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, gắn kết với chuyển đổi số quốc gia theo hướng số hóa, tái sử dụng dữ liệu; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp; cơ chế, chính sách, quy định trong thực hiện thủ tục hành chính tiếp tục được hoàn thiện; dịch vụ công trực tuyến tăng cả về số lượng và chất lượng; việc số hóa, chuyển từ hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử và tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đều có chuyển biến tích cực[3].

Ngày 27/10/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp cải cách và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp; ngày 28/02/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã ký Quyết định số 206/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục nhóm dịch vụ công trực tuyến liên thông ưu tiên tái cấu trúc quy trình, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2024, gồm có 28 nhóm dịch vụ công trực tuyến liên thông ưu tiên tái cấu trúc quy trình, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2024[4].

Thứ ba, quy định của pháp luật về hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin ở các bộ, ngành, địa phương ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở Luật Đấu thầu[5], Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 về quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, qua đó đã tháo gỡ nhiều vướng mắc, tạo điều kiện triển khai đầu tư các dự án công nghệ thông tin, các quy trình thủ tục giảm khoảng 30%; góp phần phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các bộ, ngành, địa phương.

1.2. Một số hạn chế về thể chế và nguyên nhân chung

Một là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa tiệm cận sâu, đầy đủ cho lĩnh vực chuyển đổi số nền hành chính. Có thể thấy, đa phần các quy định pháp luật hiện hành mới chỉ quy định xây dựng nền hành chính điện tử[6] - bước khởi đầu cho chuyển đổi số nền hành chính. Các văn bản trực tiếp liên quan đến chuyển đổi số quốc gia cao nhất mới là nghị định và đa phần là văn bản cấp bộ ban hành[7]. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã không còn phù hợp khi nhiều luật mới được ban hành[8] nên chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành; nhiều quy định đã lạc hậu so với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và chuyển đổi số (như: Các quy định về công khai, minh bạch thông tin trên môi trường mạng, quy định về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay tham chiếu thực hiện theo các quy định tại Luật Công nghệ thông tin năm 2006; quy định khuyến khích các tổ chức, cá nhân triển khai các điểm truy cập Internet công cộng không còn phù hợp do sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet và việc phổ cập các thiết bị di động hiện nay…).

Hai là, quy định về an toàn thông tin mạng hiện không chỉ được quy định tại Luật An toàn thông tin mạng và quy định về an ninh mạng không chỉ được quy định tại Luật An ninh mạng mà đã được quy định tại Luật Giao dịch điện tử. Theo đó, khi Luật Giao dịch điện tử năm 2023 được ban hành (thay thế Luật năm 2005) với nhiều quy định cụ thể về an toàn thông tin mạng và an ninh mạng đối với các giao dịch điện tử, đòi hỏi tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật An ninh mạng cho phù hợp với Luật Giao dịch điện tử (như vấn đề an ninh cơ sở dữ liệu điện tử; an ninh thông tin; kết nối, chia sử dữ liệu…) và thực tiễn tội phạm mạng hiện nay (như tội phạm ma túy, tội phạm lừa đảo[9]…).

Ba là, quy định pháp luật về cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp còn thiếu quy định cụ thể về chữ ký điện tử, chữ ký số và chứng thực chữ ký điện tử, chữ ký số đã được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (như quy định về tính toàn vẹn, xác thực của chữ ký điện tử, chữ ký số; việc công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số theo cấp độ từng loại giao dịch…).

Bốn là, chưa có quy định về áp dụng cơ chế thử nghiệm (Regulatory Sandbox) trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Số hóa nền hành chính là một vấn đề mới, cần có cơ chế thử nghiệm công cụ quản lý này đối với ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhằm bảo đảm hài hòa mục tiêu quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, việc ban hành thể chế áp dụng thử nghiệm công cụ số hóa mới trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên nền tảng công nghệ thông tin, cho phép một số cơ quan, đơn vị thử nghiệm các công nghệ mới, mô hình quản lý mới trong môi trường thực tiễn nhưng có phạm vi và thời gian xác định, dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý.

Có thể thấy, nền hành chính số vẫn còn là một khái niệm mới ở Việt Nam hiện nay, chưa được làm rõ về lý luận và pháp luật thực định, do đó, những hạn chế, bất cập về thể chế và nhận thức về lĩnh vực này còn khá rõ nét; các giải pháp pháp lý hiện nay mới đang tìm cách khắc phục từng bước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung. Nhiều bộ, ngành chưa xác định rõ lộ trình và các nhiệm vụ cụ thể ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính và đổi mới lề lối, phương thức làm việc.

2. Định hướng hoàn thiện pháp luật nền hành chính số ở Việt Nam

Thứ nhất, xây dựng chiến lược về nghiên cứu nền hành chính số và ban hành các luật liên quan đến nền hành chính số. Trước mắt, Việt Nam cần sớm định hình khung nền hành chính số với những đặc điểm, phương thức triển khai, từ đó, Quốc hội, Chính phủ cần có chiến lược cụ thể hóa với lộ trình hoàn thiện pháp luật gắn với định hướng “hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”[10]. Pháp luật hành chính cần được hoàn thiện để hỗ trợ việc áp dụng công nghệ số, công nghệ thông tin, đặc biệt là các quy định về giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chữ ký số, và các luật khác liên quan đến công nghệ thông tin…

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về tăng cường an ninh mạng và bảo đảm an toàn thông tin. Cần có các quy định cụ thể và hiệu quả về an ninh mạng để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng, bảo vệ hệ thống thông tin và dữ liệu quan trọng của cơ quan nhà nước và cá nhân. Pháp luật cần khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin thông qua việc cung cấp các chính sách hỗ trợ, khuyến khích đổi mới và phát triển công nghệ, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hành chính số, tạo thêm nguồn lực xã hội cho chuyển đối số nền hành chính. Hoàn thiện pháp luật về chữ ký số, chữ ký điện tử, định danh và xác thực điện tử để bảo đảm giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng Luật Chính phủ số và thử nghiệm cơ chế số trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo cơ sở cho việc triển khai toàn diện các hoạt động số hóa hệ thông cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định nhiệm vụ hoàn thiện khung pháp lý là bảo đảm môi trường pháp lý cho phép thử nghiệm, chấp nhận cái mới và chấp nhận thay đổi. Hình thành không gian thí điểm dịch vụ số và xây dựng khung pháp lý cho phép thử nghiệm các dịch vụ số chưa được quy định bởi pháp luật. Để thực hiện được chủ trương trên cần nghiên cứu áp dụng cơ chế thử nghiệm “Regulatory Sandbox”.

Thứ tư, ban hành các quy định mới liên quan đến việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia mang tính chất nền tảng; các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp và phục vụ quản lý điều hành của Chính phủ trong giai đoạn 2025 – 2030./.

ThS. Dương Hồng Nhung

Học viện Hành chính Quốc gia

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2021, tr. 176.

[2]. TS. Dương Thị Tươi (2022), Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tin-tuc/item/4190-xay-dung-nen-hanh-chinh-nha-nuoc-phuc-vu-nhan-dan-theo-tinh-than-dai-hoi-xiii-cua-dang.html, truy cập ngày 15/3/2024.

[3]. Vũ Phương Nhi (2023), Đẩy mạnh các giải pháp cải cách, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, nguồn:https://baochinhphu.vn/day-manh-cac-giai-phap-cai-cach-nang-cao-hieu-qua-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-102231027123443133.htm, truy cập ngày 15/3/2024.

[4]. Bao gồm: Nhóm thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh và đăng ký thuế; nhóm thủ tục cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề luật sư đối với người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư và cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và đăng ký kết hôn; thanh toán trực tuyến viện phí cho người khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; nhóm thủ tục đăng ký thành lập hợp tác xã/liên hiệp hợp tác xã và đăng ký thuế; nhóm thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu/bổ sung/tạm vắng/chuyển đi, chuyển đến khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; nhóm thủ tục kê khai, thẩm định tờ khai và nộp trực tuyến phí bảo vệ môi trường đối với nước thải...

[5]. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật số 04/2017/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số 64/2020/QH14 và Luật số 03/2022/QH15. Hiện nay, Luật Đấu thầu năm 2023 thay thế Luật Đấu thầu năm 2013, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024.

[6]. Như: Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Giao dịch điện tử.

[7]. https://dx.gov.vn/van-ban-trang-1.htm?Field=0&Agency=0&Type=0&keyword=, truy cập ngày 31/3/2024.

[8]. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Giao dịch điện tử năm 2023.

[9]. Đại biểu đề xuất cần xem xét sửa đổi Luật An ninh mạng, https://laodongthudo.vn/dai-bieu-de-xuat-can-xem-xet-sua-doi-luat-an-ninh-mang-162978.html,truycậpngày 15/3/2024.

[10]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: