Thứ bảy 24/01/2026 08:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở pháp lý xây dựng nền hành chính số ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền hành chính nhà nước ở Việt Nam. Theo đó, việc áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông vào sự vận hành của nền hành chính nhà nước là yêu cầu cấp thiết để xây dựng nền hành chính số. Bài viết làm rõ thực trạng pháp luật về nền hành chính số ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này trong thời gian tới.

Trong những năm gần đây, việc áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý nội bộ và trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước thông qua văn bản điện tử, chia sẻ dữ liệu, cơ sở dữ liệu quốc gia, cũng như trao đổi giữa cơ quan nhà nước và người dân, doanh nghiệp thông qua hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến đã được đẩy mạnh. Việc ngày càng hoàn thiện dịch vụ công trực tuyến đã góp phần bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức quản lý hành chính nhà nước trong quá trình hoạt động.

Cùng với xu hướng hoàn thiện pháp luật nói chung đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nền hành chính nhà nước cũng được quan tâm hoàn thiện theo chiến lược xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện thủ tục hành chính công trực tuyến đã và đang góp phần tích cực vào việc số hóa nền hành chính quốc gia. Cung ứng dịch vụ công trực tuyến ngày càng hoàn thiện đã góp phần bảo đảm sự minh bạch, trách nhiệm giải trình của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong quá trình vận hành nền hành chính.

1. Thực trạng pháp luật về nền hành chính số ở Việt Nam

1.1. Kết quả đạt được

Đại hội XIII của Đảng đã xác định, “xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”[1], trong đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số[2], trong đó, cơ sở hạ tầng số dùng chung là những nền tảng cơ bản để tạo ra các giải pháp số cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

Từ năm 2011 đến nay, thể chế, pháp luật về ứng dụng công nghệ thông tin và các nền tảng công nghệ số trong cơ quan hành chính nhà nước đã và đang tạo cơ sở bước đầu cho nền hành chính số. Cụ thể:

Thứ nhất, cơ sở pháp luật về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, số hóa các hoạt động trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xây dựng khung kiến trúc Chính phủ điện tử và Cổng dịch vụ công quốc gia đã từng bước hoàn thiện.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật từng bước được ban hành như: Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật Đấu thầu năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023... và các văn bản hướng dẫn thi hành bảo đảm cơ sở về nguyên tắc và quy định cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của tổ chức, cá nhân và cơ quan nhà nước, bảo đảm sự phát triển và an ninh, an toàn cho lĩnh vực này.

Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật nêu trên và nhiều văn bản về xây dựng nền hành chính số như: Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018 - 2019; Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 12/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2022 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước… Ngoài ra, nhiều chỉ thị, hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, thúc đẩy và tổ chức triển khai hành chính số ở cấp độ thực tiễn.

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo ra cơ sở pháp lý toàn diện cho việc triển khai hành chính số, quản lý tài nguyên thông tin điện tử và các dịch vụ công trực tuyến, góp phần thúc đẩy và phát triển hành chính số ở Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người dân và doanh nghiệp trong quá trình này.

Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính điện tử ngày càng hoàn thiện.

Quá trình cải cách thủ tục hành chính trên môi trường điện tử đã được Chính phủ quan tâm thực hiện từ những năm 2000, góp phần tạo chuyển biến liên tục trong nhiều năm về kết quả thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, gắn kết với chuyển đổi số quốc gia theo hướng số hóa, tái sử dụng dữ liệu; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp; cơ chế, chính sách, quy định trong thực hiện thủ tục hành chính tiếp tục được hoàn thiện; dịch vụ công trực tuyến tăng cả về số lượng và chất lượng; việc số hóa, chuyển từ hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử và tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đều có chuyển biến tích cực[3].

Ngày 27/10/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp cải cách và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp; ngày 28/02/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã ký Quyết định số 206/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục nhóm dịch vụ công trực tuyến liên thông ưu tiên tái cấu trúc quy trình, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2024, gồm có 28 nhóm dịch vụ công trực tuyến liên thông ưu tiên tái cấu trúc quy trình, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2024[4].

Thứ ba, quy định của pháp luật về hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin ở các bộ, ngành, địa phương ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở Luật Đấu thầu[5], Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 về quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, qua đó đã tháo gỡ nhiều vướng mắc, tạo điều kiện triển khai đầu tư các dự án công nghệ thông tin, các quy trình thủ tục giảm khoảng 30%; góp phần phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các bộ, ngành, địa phương.

1.2. Một số hạn chế về thể chế và nguyên nhân chung

Một là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa tiệm cận sâu, đầy đủ cho lĩnh vực chuyển đổi số nền hành chính. Có thể thấy, đa phần các quy định pháp luật hiện hành mới chỉ quy định xây dựng nền hành chính điện tử[6] - bước khởi đầu cho chuyển đổi số nền hành chính. Các văn bản trực tiếp liên quan đến chuyển đổi số quốc gia cao nhất mới là nghị định và đa phần là văn bản cấp bộ ban hành[7]. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã không còn phù hợp khi nhiều luật mới được ban hành[8] nên chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành; nhiều quy định đã lạc hậu so với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và chuyển đổi số (như: Các quy định về công khai, minh bạch thông tin trên môi trường mạng, quy định về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay tham chiếu thực hiện theo các quy định tại Luật Công nghệ thông tin năm 2006; quy định khuyến khích các tổ chức, cá nhân triển khai các điểm truy cập Internet công cộng không còn phù hợp do sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet và việc phổ cập các thiết bị di động hiện nay…).

Hai là, quy định về an toàn thông tin mạng hiện không chỉ được quy định tại Luật An toàn thông tin mạng và quy định về an ninh mạng không chỉ được quy định tại Luật An ninh mạng mà đã được quy định tại Luật Giao dịch điện tử. Theo đó, khi Luật Giao dịch điện tử năm 2023 được ban hành (thay thế Luật năm 2005) với nhiều quy định cụ thể về an toàn thông tin mạng và an ninh mạng đối với các giao dịch điện tử, đòi hỏi tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật An ninh mạng cho phù hợp với Luật Giao dịch điện tử (như vấn đề an ninh cơ sở dữ liệu điện tử; an ninh thông tin; kết nối, chia sử dữ liệu…) và thực tiễn tội phạm mạng hiện nay (như tội phạm ma túy, tội phạm lừa đảo[9]…).

Ba là, quy định pháp luật về cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp còn thiếu quy định cụ thể về chữ ký điện tử, chữ ký số và chứng thực chữ ký điện tử, chữ ký số đã được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (như quy định về tính toàn vẹn, xác thực của chữ ký điện tử, chữ ký số; việc công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số theo cấp độ từng loại giao dịch…).

Bốn là, chưa có quy định về áp dụng cơ chế thử nghiệm (Regulatory Sandbox) trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Số hóa nền hành chính là một vấn đề mới, cần có cơ chế thử nghiệm công cụ quản lý này đối với ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhằm bảo đảm hài hòa mục tiêu quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, việc ban hành thể chế áp dụng thử nghiệm công cụ số hóa mới trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên nền tảng công nghệ thông tin, cho phép một số cơ quan, đơn vị thử nghiệm các công nghệ mới, mô hình quản lý mới trong môi trường thực tiễn nhưng có phạm vi và thời gian xác định, dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý.

Có thể thấy, nền hành chính số vẫn còn là một khái niệm mới ở Việt Nam hiện nay, chưa được làm rõ về lý luận và pháp luật thực định, do đó, những hạn chế, bất cập về thể chế và nhận thức về lĩnh vực này còn khá rõ nét; các giải pháp pháp lý hiện nay mới đang tìm cách khắc phục từng bước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung. Nhiều bộ, ngành chưa xác định rõ lộ trình và các nhiệm vụ cụ thể ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính và đổi mới lề lối, phương thức làm việc.

2. Định hướng hoàn thiện pháp luật nền hành chính số ở Việt Nam

Thứ nhất, xây dựng chiến lược về nghiên cứu nền hành chính số và ban hành các luật liên quan đến nền hành chính số. Trước mắt, Việt Nam cần sớm định hình khung nền hành chính số với những đặc điểm, phương thức triển khai, từ đó, Quốc hội, Chính phủ cần có chiến lược cụ thể hóa với lộ trình hoàn thiện pháp luật gắn với định hướng “hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”[10]. Pháp luật hành chính cần được hoàn thiện để hỗ trợ việc áp dụng công nghệ số, công nghệ thông tin, đặc biệt là các quy định về giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chữ ký số, và các luật khác liên quan đến công nghệ thông tin…

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về tăng cường an ninh mạng và bảo đảm an toàn thông tin. Cần có các quy định cụ thể và hiệu quả về an ninh mạng để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng, bảo vệ hệ thống thông tin và dữ liệu quan trọng của cơ quan nhà nước và cá nhân. Pháp luật cần khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin thông qua việc cung cấp các chính sách hỗ trợ, khuyến khích đổi mới và phát triển công nghệ, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hành chính số, tạo thêm nguồn lực xã hội cho chuyển đối số nền hành chính. Hoàn thiện pháp luật về chữ ký số, chữ ký điện tử, định danh và xác thực điện tử để bảo đảm giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng Luật Chính phủ số và thử nghiệm cơ chế số trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo cơ sở cho việc triển khai toàn diện các hoạt động số hóa hệ thông cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định nhiệm vụ hoàn thiện khung pháp lý là bảo đảm môi trường pháp lý cho phép thử nghiệm, chấp nhận cái mới và chấp nhận thay đổi. Hình thành không gian thí điểm dịch vụ số và xây dựng khung pháp lý cho phép thử nghiệm các dịch vụ số chưa được quy định bởi pháp luật. Để thực hiện được chủ trương trên cần nghiên cứu áp dụng cơ chế thử nghiệm “Regulatory Sandbox”.

Thứ tư, ban hành các quy định mới liên quan đến việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia mang tính chất nền tảng; các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp và phục vụ quản lý điều hành của Chính phủ trong giai đoạn 2025 – 2030./.

ThS. Dương Hồng Nhung

Học viện Hành chính Quốc gia

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2021, tr. 176.

[2]. TS. Dương Thị Tươi (2022), Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tin-tuc/item/4190-xay-dung-nen-hanh-chinh-nha-nuoc-phuc-vu-nhan-dan-theo-tinh-than-dai-hoi-xiii-cua-dang.html, truy cập ngày 15/3/2024.

[3]. Vũ Phương Nhi (2023), Đẩy mạnh các giải pháp cải cách, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, nguồn:https://baochinhphu.vn/day-manh-cac-giai-phap-cai-cach-nang-cao-hieu-qua-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-102231027123443133.htm, truy cập ngày 15/3/2024.

[4]. Bao gồm: Nhóm thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh và đăng ký thuế; nhóm thủ tục cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề luật sư đối với người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư và cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và đăng ký kết hôn; thanh toán trực tuyến viện phí cho người khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; nhóm thủ tục đăng ký thành lập hợp tác xã/liên hiệp hợp tác xã và đăng ký thuế; nhóm thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu/bổ sung/tạm vắng/chuyển đi, chuyển đến khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; nhóm thủ tục kê khai, thẩm định tờ khai và nộp trực tuyến phí bảo vệ môi trường đối với nước thải...

[5]. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật số 04/2017/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số 64/2020/QH14 và Luật số 03/2022/QH15. Hiện nay, Luật Đấu thầu năm 2023 thay thế Luật Đấu thầu năm 2013, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024.

[6]. Như: Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Giao dịch điện tử.

[7]. https://dx.gov.vn/van-ban-trang-1.htm?Field=0&Agency=0&Type=0&keyword=, truy cập ngày 31/3/2024.

[8]. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Giao dịch điện tử năm 2023.

[9]. Đại biểu đề xuất cần xem xét sửa đổi Luật An ninh mạng, https://laodongthudo.vn/dai-bieu-de-xuat-can-xem-xet-sua-doi-luat-an-ninh-mang-162978.html,truycậpngày 15/3/2024.

[10]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: