Thứ hai 21/09/2026 22:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài và kinh nghiệm khi Việt Nam gia nhập, thực thi Công ước Liên Hợp quốc

Công ước của Liên Hợp quốc về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được ký tại New York ngày 10/6/1958, có hiệu lực ngày 07/6/1959[1] (Công ước New York) và Công ước của Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, ký tại Singapore ngày 07/8/2019, có hiệu lực ngày 12/9/2020[2]

Công ước của Liên Hợp quốc về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được ký tại New York ngày 10/6/1958, có hiệu lực ngày 07/6/1959[1] (Công ước New York) và Công ước của Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, ký tại Singapore ngày 07/8/2019, có hiệu lực ngày 12/9/2020[2] (Công ước Singapore) là hai công ước quốc tế quan trọng với chung một mục tiêu là bảo đảm giá trị của kết quả giải quyết tranh chấp thương mại xuyên quốc gia khi các bên không tự nguyện thi hành. Ngoài mục tiêu chung, hai công ước có nhiều điểm tương đồng về cách tiếp cận cũng như cơ chế thực hiện. Việt Nam đã gia nhập Công ước New York từ năm 1995, sau gần 30 năm thi hành, các cơ quan chức năng trong nước đã có những đánh giá về tình hình thực thi và áp dụng các giải pháp để cải thiện hơn nữa hiệu quả thi hành Công ước tại Việt Nam. Trong khi đó, Công ước Singapore là công ước mới không chỉ với Việt Nam mà với cả cộng đồng quốc tế cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu tình hình thực thi Công ước New York năm 1958 trong thời gian qua sẽ gợi mở những vấn đề cần xử lý cho Việt Nam khi gia nhập Công ước Singapore trong thời gian tới.
1. Giới thiệu sơ lược Công ước New York năm 1958
Công ước gồm 16 điều, trong đó, từ Điều 1 đến Điều 7 về nội dung quan trọng. Công ước tạo cơ sở pháp lý quốc tế để phán quyết trọng tài được tuyên một cách hợp lệ và hợp pháp tại một quốc gia thành viên, sẽ được công nhận và cho thi hành tại các quốc gia thành viên khác. Với mục tiêu thiết lập một cơ chế công nhận và cho thi hành đơn giản, Công ước tiếp cận trên tinh thần ủng hộ việc thi hành (pro-enforcement) theo cơ chế chọn - bỏ, nghĩa là về cơ bản, các phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận và thi hành tại các quốc gia thành viên Công ước, chỉ trừ một số trường hợp được từ chối rất hãn hữu.
Công ước New York năm 1958 xác định những nguyên tắc chính sau: (i) Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài bằng văn bản, đồng thời, bảo đảm các Tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện trong trường hợp các bên tranh chấp đã có một thỏa thuận trọng tài. (ii) Các quốc gia thành viên Công ước bảo đảm việc công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của mình một phán quyết trọng tài đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác. Tuy Công ước không đưa ra định nghĩa nhưng nhiều tài liệu xác định nơi phán quyết trọng tài được tuyên trùng với địa điểm tố tụng trọng tài[3]. (iii) Các quốc gia thành viên không được có sự phân biệt đối xử giữa việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài so với phán quyết của trọng tài trong nước, không được đặt ra các điều kiện khó khăn đáng kể hoặc các khoản phí cao hơn so với công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trong nước. (iv) Công ước cho phép áp dụng các quy định có lợi hơn đối với việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài được quy định trong các điều ước quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.
Với cùng mục tiêu là hướng đến việc bảo đảm thực thi các phán quyết trọng tài và thỏa thuận hòa giải thương mại xuyên quốc gia, Công ước New York và Công ước Singapore có những tương đồng nhất định về phạm vi áp dụng, về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên, về quy trình, thủ tục trong nước trong việc công nhận, về các căn cứ từ chối công nhận cũng như giá trị pháp lý của việc công nhận.


2. Thực trạng thực thi Công ước New York năm 1958 tại Việt Nam
2.1. Tình hình thực hiện Công ước New York năm 1958
Về hoàn thiện thể chế, để thực hiện tốt vai trò thành viên Công ước, Việt Nam đã có những bước chuẩn bị nhất định từ xây dựng, hoàn thiện thể chế và thiết lập cơ chế thi hành. Công ước có hiệu lực với Việt Nam vào ngày 12/9/1995[4] và chỉ 02 ngày sau, Pháp lệnh về Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài đã được ban hành ngày 14/9/1995, có hiệu lực từ ngày 01/01/1996. Do vậy, có thể nói việc hoàn thiện pháp luật trong nước đã được tiến hành song song với quá trình nghiên cứu, gia nhập Công ước. Với 24 điều, Pháp lệnh này là văn bản pháp lý đầu tiên nội luật hóa các quy định của Công ước New York, điều chỉnh về thuật ngữ “quyết định của trọng tài nước ngoài”, các nguyên tắc công nhận và cho thi hành, về bảo đảm hiệu lực pháp luật các quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài, xác định các trường hợp loại trừ và quy trình, thủ tục cụ thể trong việc xem xét đơn yêu cầu. Nội dung này sau đó tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện hơn tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004[5] và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[6].
Về cơ chế, pháp luật Việt Nam quy định Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi tổ chức phải thi hành có trụ sở chính, nơi cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành[7]. Thẩm quyền này được tiếp tục ghi nhận tại các Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004[8] và năm 2015[9].
Mặc dù là thành viên Công ước từ năm 1995 nhưng phải đến 20 năm sau, việc theo dõi quá trình thực thi Công ước mới thực sự được quan tâm (sau khi Bộ Tư pháp, với vai trò là cơ quan trung ương của Việt Nam tại các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự có đánh giá về việc thực thi Công ước như là một phần của các hiệp định thông qua hoạt động báo cáo tổng kết 20 năm thi hành Công ước New York). Gần đây, trong khuôn khổ dự án Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), các chuyên gia độc lập đã xây dựng báo cáo đánh giá, so sánh quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài với luật mẫu UNCITRAL[10], trong đó, có đánh giá sơ lược về tình hình thực thi Công ước New York. Trong giai đoạn từ năm 2012 - 2019, có 55 Tòa án giải quyết tổng số 84 quyết định của trọng tài nước ngoài. Trong đó, số quyết định công nhận là 39, số không công nhận là 33, số đình chỉ giải quyết là 12. Như vậy, trung bình mỗi năm cả nước giải quyết 09 - 10 yêu cầu.
2.2. Đánh giá tình hình thực thi Công ước New York năm 1958
Về hoàn thiện thể chế, có thể thấy rằng, công tác xây dựng pháp luật trong nước để thực thi Công ước đã được tiến hành từ rất sớm, thể hiện bước đi chủ động của Việt Nam trong việc thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện Công ước. Tuy vậy, một số quy định của pháp luật trong nước chưa thực sự phù hợp với các quy định của Công ước, ví dụ như căn cứ từ chối công nhận hoặc về nghĩa vụ chứng minh: Một trong các căn cứ từ chối công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[11] nhưng theo Điều 5 Công ước New York năm 1958, “việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của nước nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu, cho rằng: … việc công nhận và thi hành sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó”. Bên cạnh đó, Công ước New York năm 1958 đã có quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên phải thi hành nhưng quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 của Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2011) vẫn chưa rõ ràng và trong nhiều trường hợp, Tòa án vẫn yêu cầu bên được thi hành phải cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh phán quyết không rơi vào các trường hợp loại trừ bị từ chối thi hành[12].
Về tổ chức thực hiện, có thể đánh giá về tình hình thực hiện Công ước New York năm 1958 của Việt Nam thời gian qua như sau:
- Theo địa bàn giải quyết: Việc giải quyết loại việc về công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài chủ yếu tập trung ở ở các thành phố lớn như Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (38 việc, chiếm 45,2% tổng số việc) và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (15 việc, chiếm khoảng 17,9 % tổng số việc), một nửa số Tòa án nhân dân cấp tỉnh không giải quyết bất kỳ một yêu cầu nào.
- Về tỷ lệ: Tỷ lệ các phán quyết không được công nhận ở Việt Nam cao, chiếm khoảng 40% tổng số các phán quyết, có thời điểm các Tòa án Việt Nam đã liên tiếp ra quyết định không công nhận 06/07 phán quyết của ICA. Điều này có thể ảnh hưởng rất lớn đến vị thế, hình ảnh của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
- Về lý do không công nhận, số liệu báo cáo chỉ ra rằng, Tòa án thường căn cứ vào các điểm a, b, c, d, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 5 Công ước New York năm 1958 và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; có vụ việc Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định trọng tài là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam để ra quyết định không công nhận.
- Về thời hạn giải quyết: Việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trên thực tế còn chậm trễ so với quy định của pháp luật. Về thời gian áp dụng cho Tòa án thụ lý và đưa ra quyết định công nhận hay không công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài tối đa là 04 tháng 20 ngày (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc đều quá hạn, có những vụ việc kéo dài hơn 01 năm kể từ ngày thụ lý đến khi ra quyết định. Quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không thay đổi về khoảng thời gian này nhưng thực tế cho thấy thời hạn Tòa án giải quyết vụ việc đã được rút ngắn hơn so với trước đây nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng các quy định về thời hạn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trung bình các vụ việc mới được giải quyết trong khoảng thời gian từ 07 - 08 tháng.
- Về nhận thức của các thẩm phán, còn có cách hiểu và áp dụng Công ước New York năm 1958 của thẩm phán không thống nhất. Một số Tòa án phân tích, đánh giá quyết định của trọng tài nước ngoài so với quy định của Công ước và quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, một số Tòa án nhân dân khác lại không đề cập gì đến Công ước hoặc chỉ nhắc đến tên Công ước mà không có phân tích cụ thể[13]. Các nhận định của Tòa án trong các quyết định không công nhận trong nhiều vụ việc chưa đánh giá toàn bộ lập luận của các bên liên quan hoặc có cơ sở không vững chắc như: (i) Trung tâm trọng tài đổi tên nên Tòa án xác định Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; (ii) Tòa án yêu cầu người được thi hành phải chứng minh việc đã tống đạt hợp lệ các tài liệu của Hội đồng trọng tài; (iii) Một số phán quyết của trọng tài nước ngoài bị cho là vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam vì cho rằng hình thức của hợp đồng không phù hợp do thiếu chữ ký hoặc dấu của một bên nhưng không phân tích về pháp luật áp dụng với hợp đồng.
- Công tác tổng kết, rà soát, đánh giá, đôn đốc việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài cũng như thực hiện Công ước New York chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện định kỳ, thường xuyên.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Về nhận thức của thẩm phán: (i) Vẫn còn có cách nhìn nhận chưa thống nhất về vai trò hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, trong đó có giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài. Một số trường hợp Tòa án chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài cũng như tác động của hoạt động này đối với môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam, đến niềm tin của các đối tác nước ngoài đối với hệ thống tư pháp của Việt Nam.
Về cơ chế thực thi, việc dàn trải thẩm quyền giải quyết loại việc này cho tất cả các Tòa án cấp tỉnh trên toàn quốc như hiện nay thì khó tập trung được nguồn lực bảo đảm đáp ứng yêu cầu của công tác này. Trên thực tế, việc giải quyết các yêu cầu cũng tập trung chủ yếu ở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, còn một số Tòa án khác từ khi Công ước New York có hiệu lực tới nay, chỉ giải quyết trên dưới 05 yêu cầu. Mặc dù Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối nhưng các Tòa án do không nắm được quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đã không gửi các quyết định cho Bộ Tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao cũng không công khai các quyết định này, dẫn đến khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, đặc biệt là theo dõi tình hình, tập hợp tài liệu, đưa ra các khuyến nghị.
Công tác thống kê ở các Tòa án địa phương và sự phối hợp thông tin cho cơ quan đầu mối thực thi Công ước New York chưa được thực hiện tốt.
Công tác đào tạo, tập huấn chuyên sâu về Công ước và hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện công tác này cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao quan tâm thực hiện thường xuyên hơn so với trước đây nhưng hiệu quả trên thực tế chưa cao, bằng chứng là tỷ lệ công nhận các phán quyết vẫn chưa có thay đổi đáng kể.
Việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và án lệ quốc tế trong thực thi Công ước tại các quốc gia phát triển về công tác trọng tài chưa được tiến hành. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc nhìn nhận, đánh giá, ra quyết định của các Tòa án đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa thực sự chủ động, thường giữ thái độ im lặng và không tham gia quá trình tố tụng trọng tài ở nước ngoài dẫn đến kết quả bất lợi khi xét xử vụ việc.
3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong trường hợp gia nhập Công ước Singapore
Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền về Công ước Singapore đến các đối tượng liên quan ngay từ khâu nghiên cứu gia nhập Công ước.
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh với các đối tác nước ngoài cần được tuyên truyền để trang bị đầy đủ nhận thức về biện pháp hòa giải, về hòa giải thương mại quốc tế và cơ chế bảo đảm thỏa thuận thương mại quốc tế được ghi nhận tại Công ước Singapore. Việc nhận thức đầy đủ về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải sẽ khuyến khích các doanh nghiệp lựa chọn phương thức hòa giải, qua đó, thúc đẩy hoạt động hòa giải thương mại quốc tế phát triển, giúp đẩy nhanh tiến trình giải quyết các bất đồng trong kinh doanh thương mại.
Việc tuyên truyền về Công ước Singapore cũng cần được xem xét đến các hòa giải viên và các tổ chức hòa giải nơi các hoạt động hòa giải thương mại sẽ được tiến hành. Việc các đối tượng này được trang bị kiến thức đầy đủ về Công ước sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc thực hiện hoạt động hòa giải. Vì vậy, nâng cao năng lực cho các hòa giải viên cũng là tạo niềm tin cho các bên tranh chấp tìm đến lựa chọn phương thức hòa giải này. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cho hòa giải viên còn có ý nghĩa hơn khi một trong những yếu tố có thể dẫn đến không công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế theo Công ước Singapore có liên quan đến điều kiện, tiêu chuẩn về hòa giải viên (Điều 5.1.e Công ước).
Thứ hai, cần nâng cao năng lực của các thẩm phán cán bộ Tòa án trong xem xét giải quyết các thỏa thuận hòa giải để tránh việc lặp lại những hạn chế trong thi hành Công ước New York, cũng như trang bị kiến thức về hòa giải thương mại quốc tế, công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế.
Thứ ba, xác định cơ quan đầu mối ngay từ khi gia nhập Công ước Singapore. Cũng giống như Công ước New York, Công ước Singapore không quy định về trách nhiệm hợp tác giữa các quốc gia nhưng có quy định về nghĩa vụ của các quốc gia trong việc thi hành bản thỏa thuận hòa giải. Rút kinh nghiệm từ thực thi Công ước New York, sau khi tổng kết 20 năm thực thi mới chỉ định cơ quan đầu mối đóng vai trò theo dõi, rà soát quá trình công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài[14]. Sự thiếu vắng một cơ quan đầu mối đã ít nhiều ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc áp dụng Công ước. Chính vì vậy, để bảo đảm việc áp dụng Công ước Singapore một cách thống nhất, đồng thời quản lý, theo dõi hoạt động công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, bảo đảm trong lĩnh vực công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế tuân thủ cần thiết phải giao cho một cơ quan đầu mối. Việc giao cho cơ quan nào thực hiện nhiệm vụ này phải phân tích, đánh giá sự phù hợp, sự thuận lợi trong quản lý đảm bảo tính hiệu quả. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có liên quan hiện nay nhiệm vụ cơ quan đầu mối có thể giao cho Tòa án nhân dân tối cao hoặc Bộ Tư pháp.
Thứ tư, cũng giống như việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài, việc giải quyết đơn yêu cầu công nhận thỏa thuận hòa giải quốc tế cũng cần thiết được cân nhắc giao cho một số Tòa án trọng điểm. Thực tế giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài cho thấy, việc giải quyết các yêu cầu này chủ yếu tập trung tại các địa phương nhất định nơi phát sinh nhiều hoạt động kinh doanh thương mại của cả nước. Trong tương lai, nếu số lượng các loại yêu cầu này phát sinh nhiều, việc giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cả nước là cần thiết và thuận lợi. Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi yêu cầu chưa nhiều, việc giao cho một vài Tòa án xem xét và xử lý loại việc này sẽ giúp cho việc giải quyết được chuyên trách, bài bản, chuyên nghiệp hơn. Việc theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện thông qua đó cũng thuận lợi hơn.
Thứ năm, song song với các biện pháp như trên, cơ quan chủ trì cần quan tâm đến đánh giá, rà soát pháp luật về hòa giải thương mại quốc tế và pháp luật tố tụng có liên quan từ đó, kiến nghị hoàn thiện các khoảng trống và chồng chéo, tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng và đầy đủ cho công tác này, đảm bảo việc thực hiện thống nhất trên cả nước.
Ngoài ra, để việc thực thi Công ước Singapore được thuận lợi, Việt Nam cần tích cực chủ động liên hệ với Ủy ban thương mại quốc tế - Cơ quan soạn thảo Công ước trong việc cử đại diện tham dự hội thảo, diễn đàn, tập hợp các hướng dẫn của Ban thư ký, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đã là thành viên của Công ước. Điều này không những giúp các Tòa án của Việt Nam gặt hái được các bài học bổ ích mà còn thể hiện sự tích cực, chủ động của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước.
Tham gia một điều ước quốc tế mang lại cho mỗi quốc gia các quyền lợi nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ thực hiện các cam kết ghi nhận tại các điều ước quốc tế đó. Việc thực hiện tốt các cam kết cũng là thể hiện tư cách thành viên tích cực và có trách nhiệm. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, gia nhập Công ước Singapore, cơ quan chủ trì cần có các nghiên cứu thấu đáo, tham khảo kỹ các bài học rút ra từ quá trình thực thi Công ước New York, đánh giá trung thực mức độ cần thiết, tính tương thích và đề xuất các bước chuẩn bị phù hợp với nguồn lực sẵn có. Có như vậy, việc thực hiện Công ước mới thực sự hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động hòa giải nói riêng và môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam nói chung.

Dương Thị Bích Đào
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Ảnh: ST


[1]. https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=XXII-1&chapter=22&clang=_en
[2]. https://www.singaporeconvention.org/convention/about.
[3]. UNCITRAL - UNCITRAL Secretariat Guide on the Convention on the Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards (New York, 1958) [Hướng dẫn của Ban Thư ký UNCITRAL về Công ước công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài] - tr. 49.
Fraser P. Davidson - Where is an Arbitral Award Made?: Hiscox v. Outhwaite - The International and Comparative Law Quarterly, Vol. 41, No. 3 (Jul., 1992), tr. 637 - 645.
[4]. Xem tại https://www.newyorkconvention.org/countries.
[5]. Tại Phần thứ sáu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 - Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyêt định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.
[6]. Tại Phần thứ bảy Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 - Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
[7]. Điều 4 Pháp lệnh về Công nhận và thi hành tại Việt Nam năm 1995.
[8]. Điều 30 và 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm năm 2004.
[9]. Điều 31 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm năm 2015.
[10]. Báo cáo chuyên gia độc lập Vũ Đức Long, Chu Thu Hiền và Richard Garnett, thực hiện năm 2020.
[11]. Điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[12]. Sau này, Điều 453 Bộ luật Tố tụng năm 2015 đã sửa đổi theo hướng phù hợp với quy định của Công ước.
[13]. Mặc dù khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định nghĩa vụ của Tòa án kiểm tra đối chiếu phán quyết của trọng tài với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó nhưng hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không có quy định riêng về nội dung buộc phải có đối với quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài (bao gồm nội dung về căn cứ pháp luật). Trong khi đó, nội dung bản án giải quyết vụ án dân sự (khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và nội dung quyết định giải quyết việc dân sự (khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) đều phải có căn cứ pháp luật. Việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tách thủ tục công nhận và cho thi hành khỏi các việc dân sự không có tranh chấp tuy giúp cho các thẩm phán hiểu rằng thủ tục này khác biệt với các thủ tục giải quyết việc thông thường - Tòa án không xem xét về nội dung vụ việc nhưng lại làm cho thủ tục này bị thiếu hụt khi không đủ các quy định dẫn chiếu và áp dụng các phần khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[14]. Công văn số 1001/VPCP-PL ngày 20/5/2015 của Văn phòng Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: