Thứ hai 27/07/2026 21:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá tác động gia nhập Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải với Việt Nam

Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải tạo ra cơ sở pháp lý trước đây còn thiếu cho việc công nhận và thi hành các thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải, tạo nền tảng pháp lý cho một phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn hiện đã phổ biến hỗ trợ được cho quan hệ kinh doanh lâu dài.

Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải tạo ra cơ sở pháp lý trước đây còn thiếu cho việc công nhận và thi hành các thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải, tạo nền tảng pháp lý cho một phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn hiện đã phổ biến hỗ trợ được cho quan hệ kinh doanh lâu dài. Ở Việt Nam, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế đều có định hướng thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án, trong đó có hòa giải, nhằm giảm bớt áp lực cho hệ thống tư pháp, tăng hiệu quả giải quyết tranh chấp, đảm bảo quyền tiếp cận công lý, bảo vệ lợi ích chính đáng cho người dân và doanh nghiệp, phát triển môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng quan hệ thương mại với nước ngoài. Bài viết đưa ra một số đánh giá bước đầu về tác động, một số thuận lợi, khó khăn đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước này.

Trong các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, hòa giải ngày càng trở thành một phương thức hấp dẫn được các nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn trong bối cảnh quan hệ kinh doanh xuyên biên giới phát triển mạnh, đặc biệt khi việc công nhận và thi hành các thỏa thuận giải quyết tranh chấp là kết quả của hòa giải đã chính thức được điều chỉnh bởi một văn kiện pháp lý quốc tế đa phương - Công ước của Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải (sau đây gọi là Công ước Singapore). Việc Công ước Singapore được 46 quốc gia ký cùng lúc tại Lễ ký kết năm 2019 đã cho thấy rõ xu hướng phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp này hiện nay. Ở Việt Nam, Chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế đều có định hướng thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án, trong đó có hòa giải, nhằm giảm bớt áp lực cho hệ thống tư pháp, tăng hiệu quả giải quyết tranh chấp, bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bảo vệ lợi ích chính đáng cho người dân và doanh nghiệp, phát triển môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng quan hệ thương mại với nước ngoài. Với định hướng đó, Việt Nam cũng khó có thể đứng ngoài xu thế chung của thế giới là ký kết điều ước quốc tế để hỗ trợ cho phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua hòa giải được hiệu quả hơn. Tuy nhiên, tương tự các văn kiện quốc tế khác, việc gia nhập Công ước Singapore đòi hỏi phải được đánh giá toàn diện, đặc biệt là với một Công ước mới. Chính vì vậy, tại Quyết định số 1268/QĐ-TTg ngày 02/10/2019 về phê duyệt Đề án Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức trọng tài thương mại, hòa giải thương mại, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì nghiên cứu, đánh giá khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải và các giải pháp thực thi Công ước. Bài viết này đưa ra một số đánh giá bước đầu về tác động, một số thuận lợi, khó khăn đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước Singapore.

1. Một số lợi ích của việc tham gia Công ước Singapore đối với Việt Nam
Nhằm thúc đẩy sự phát triển của phương thức hòa giải thương mại trên thế giới tương tự như trọng tài, Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã thông qua Công ước Singapore. Công ước Singapore tạo ra cơ sở pháp lý trước đây còn thiếu cho việc công nhận và thi hành các thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải, tạo nền tảng pháp lý cho một phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn hiện đã phổ biến hỗ trợ được cho quan hệ kinh doanh lâu dài. Nếu gia nhập Công ước Singapore, Việt Nam cũng sẽ được hưởng những lợi ích mà Công ước Singapore mang lại, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và các đòi hỏi cải cách thể chế. Cụ thể:
Một là, lợi ích đối với hòa giải thương mại tại Việt Nam
Bên cạnh những lợi ích nổi bật của hòa giải như tiết kiệm chi phí và thời gian, thủ tục mềm dẻo và thân thiện so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, Công ước Singapore giúp bảo đảm việc thực thi các thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải. Khi gia nhập Công ước Singapore, thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải của các hòa giải viên và các trung tâm hòa giải của Việt Nam sẽ được công nhận và thi hành tại các quốc gia thành viên. Việc tham gia Công ước một mặt mang đến vị thế cân bằng với các trung tâm hòa giải trên thế giới mà kết quả hòa giải thành của họ được thi hành tại các quốc gia khác nhờ vào cơ chế của Công ước Singapore, mặt khác, đem đến cơ hội cạnh tranh, tự hoàn thiện mình của các thiết chế hòa giải tại Việt Nam trên trường quốc tế. Sớm tham gia Công ước sẽ là một bước đón đầu hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn phương thức hòa giải cũng như của các trung tâm hòa giải Việt Nam muốn vươn mình ra thị trường thế giới.
Có thể thấy, việc gia nhập Công ước Singapore mang đến lợi thế cạnh tranh công bằng giữa các trung tâm hòa giải của Việt Nam với các trung tâm hòa giải quốc tế và thúc đẩy hòa giải thương mại tại Việt Nam.
Hai là, lợi ích đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đã từ lâu trở thành chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Một trong những giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh là thực hiện cải cách thể chế tạo ra điều kiện thuận lợi cho kinh doanh. Tham gia Công ước Singapore tạo ra cơ sở pháp lý quốc tế cho việc công nhận và thi hành các thỏa thuận giải quyết tranh chấp đạt được thông qua hòa giải. Vì thế, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hơn, đặc biệt khi kết quả hòa giải được bảo đảm thi hành tại Việt Nam giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư yên tâm lựa chọn làm ăn với doanh nghiệp Việt Nam cũng như đầu tư tại Việt Nam.
Ba là, lợi ích đối với hệ thống pháp luật của Việt Nam
Đối với công nhận và thi hành thỏa thuận hòa giải thương mại trong nước, hệ thống pháp luật Việt Nam tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc công nhận và thi hành các thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế chưa được quy định, trong khi hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả, được ưa thích trong các giao dịch thương mại quốc tế. Vì vậy, gia nhập Công ước Singapore cũng là “cú hích” để Việt Nam hoàn thiện pháp luật trong nước. Việc nghiên cứu toàn diện Công ước Singapore, đặc biệt là các vấn đề pháp lý mới đặt ra từ Công ước, kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quốc tế, soi chiếu vào pháp luật trong nước hiện nay sẽ cung cấp nguồn thông tin quan trọng hỗ trợ cho việc đề xuất xây dựng hành lang pháp lý cho hòa giải thương mại quốc tế và công nhận và cho thi hành thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế tại Việt Nam vừa đáp ứng các chuẩn mực pháp lý quốc tế, vừa phù hợp, thống nhất với điều kiện trong nước. Mặt khác, cùng với quá trình xây dựng các quy định cho thỏa thuận hòa giải quốc tế, hệ thống pháp luật về hòa giải thương mại trong nước nói chung cũng sẽ có cơ hội để nhìn ra những tồn tại, hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện hơn.
Có thể thấy rằng, gia nhập Công ước Singapore sẽ đẩy mạnh hợp tác quốc tế về pháp luật, tạo dựng một khung pháp lý đầy đủ và hiệu quả hơn cho việc thu hút, bảo hộ hoạt động đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp trong nước hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp nước ngoài. Nếu Việt Nam tham gia Công ước Singapore, cả doanh nghiệp nước ngoài và Việt Nam đều được hưởng lợi từ văn kiện pháp lý này trong việc bảo đảm thi hành các thỏa thuận giải quyết tranh chấp quốc tế đạt được thông qua hòa giải, củng cố vị thế cho hòa giải so với các phương thức giải quyết tranh chấp có tính đối kháng hơn. Áp lực cho các Tòa án của Việt Nam cũng được giảm bớt và các doanh nghiệp có thể tập trung vào hoạt động kinh doanh, duy trì danh tiếng và các mối quan hệ kinh doanh ngay cả khi có tranh chấp. Bên cạnh đó, là thành viên của UNCITRAL trong nhiệm kỳ 06 năm kể từ năm 2019[1], việc Việt Nam gia nhập một Công ước do UNCITRAL xây dựng và đề xuất cũng thể hiện vai trò tích cực trong công cuộc “thúc đẩy sự hài hòa và thống nhất từng bước pháp luật thương mại quốc tế”[2].
2. Thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam gia nhập Công ước Singapore
2.1. Thuận lợi
Thứ nhất, về đường lối, chủ trương của Đảng: Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện đường lối lớn và cho thấy định hướng, quyết tâm chính trị của Việt Nam. Nắm bắt được xu thế phát triển kinh tế toàn cầu, chủ trương về việc phát triển các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế được ghi nhận tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”[3] và đặc biệt Điều 5 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP), theo đó, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hòa giải thương mại để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
Thứ hai, về sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các quy định của Công ước Singapore: Nhiều quốc gia đã ký Công ước Singapore ngay cả khi hệ thống pháp luật của họ chưa có quy định thống nhất về hòa giải thương mại. Tuy nhiên, Việt Nam đã có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này và có cơ chế để thi hành các thỏa thuận hòa giải thành. Đây là cơ sở vững chắc cho việc thực thi các nghĩa vụ theo Công ước Singapore khi Việt Nam trở thành thành viên và tạo thuận lợi cho việc hoàn thiện thêm cơ sở pháp lý trong nước.
Thứ ba, các trung tâm hòa giải của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu, tự nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, chủ động tiếp cận cơ hội hội nhập, cập nhật kiến thức mới. Sự lớn mạnh dần của các trung tâm hòa giải thương mại tại Việt Nam cũng là điều kiện thuận lợi để tham gia và thực thi Công ước Singapore. Dù số lượng vụ việc giải quyết chưa nhiều, nhưng giá trị tranh chấp thực sự ấn tượng (11 vụ việc xấp xỉ 964 tỷ đồng).
Thứ tư, sự hoàn thiện của hệ thống tư pháp, Tòa án: sau khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp tại Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều. Ngành Tòa án cũng có các chương trình phát triển đội ngũ thẩm phán, cán bộ nguồn có kiến thức, kỹ năng và ngoại ngữ để đáp ứng các yêu cầu hội nhập. Các thẩm phán cũng có kinh nghiệm trong thực thi các quy định của Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài (Công ước New York). Trong những năm gần đây, tỷ lệ công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài đã được nâng cao hơn so với trước đây[4].
2.2. Khó khăn
Thứ nhất, Công ước Singapore mới ra đời có nhiều nội dung không quy định cụ thể mà để cho luật pháp quốc gia thành viên điều chỉnh, vì vậy, để thực thi Công ước Singapore, Việt Nam cần chuẩn bị thật tốt khuôn khổ pháp lý trong nước. Hơn nữa, số lượng các quốc gia tham gia Công ước Singapore còn hạn chế. Các cơ quan có thẩm quyền thường mong muốn một cơ chế đa phương hiệu quả trên cơ sở có nhiều nước thành viên, đặc biệt là các nước có quan hệ thương mại lớn của Việt Nam. Cũng do Công ước Singapore còn mới nên số lượng các quốc gia thực thi Công ước Singapore chưa nhiều, kinh nghiệm quốc tế chưa phong phú.
Thứ hai, mặc dù nhiều nội dung tương thích nhưng pháp luật Việt Nam vẫn còn những điểm khác biệt so với Công ước Singapore. Việc sửa đổi hệ thống pháp luật cũng đòi hỏi thời gian và tính toán kỹ lưỡng để bảo đảm thống nhất, đồng bộ. Hoạt động hòa giải thương mại ở Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Việc tổng kết Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa được thực hiện, việc thống kê các vụ việc công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án chưa nằm trong số liệu thống kê Ngành Tòa án nên tình hình thực tiễn về hòa giải thương mại và công nhận thi hành các kết quả hòa giải thành tại Việt Nam vẫn chỉ là sự “chắp vá”, gom nhặt từ các nguồn thông tin rời rạc. Cần có một bức tranh toàn cảnh và một chiến lược hoàn thiện hơn như cách mà Singapore đã thực hiện để phát triển “ngành công nghiệp” giải quyết tranh chấp của họ. Công việc này khó có thể thực hiện trong ngày một ngày hai và cần sự nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành.
Thứ ba, hệ thống Tòa án đã được cải thiện nhưng tính chuyên trách lại chưa cao, khó có thể tập trung phát triển đội ngũ thẩm phán giàu kinh nghiệm chuyên giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài nói chung, thi hành các thỏa thuận quốc tế đạt được thông qua hòa giải nói riêng. Đề xuất về việc giao cho các Tòa chuyên trách hoặc Tòa án tại 03 thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài không được chấp nhận trong quá trình sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 cũng có thể sẽ tiếp tục xảy ra đối với lĩnh vực hòa giải.
3. Đánh giá, đề xuất
Có thể thấy rằng, với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải là rất rõ ràng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam và nhu cầu thực tiễn, Việt Nam nên gia nhập Công ước Singapore. Tuy nhiên, với những khó khăn, thách thức như phân tích ở trên thì Việt Nam cần có kế hoạch tổng thể với lộ trình cho từng bước chuẩn bị để bảo đảm khi gia nhập, Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện cơ sở vật chất và con người để có thể thực hiện đầy đủ và hiệu quả Công ước Singapore.
3.1. Về hoàn thiện thể chế
Hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại cần hoàn thiện để tránh chồng chéo, mâu thuẫn với nội dung Công ước Singapore và lấp đầy những khoảng trống pháp lý do Công ước Singapore trao thẩm quyền cho pháp luật của quốc gia thành viên.
Thứ nhất, xây dựng Luật Hòa giải thương mại, nâng các quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thành luật và bổ sung quy định về hòa giải thương mại có yếu tố nước ngoài, công nhận kết quả hòa giải thương mại theo mô hình của Luật mẫu UNCITRAL có xem xét đến các yếu tố của pháp luật, văn hóa Việt Nam.
Thứ hai, rà soát tổng thể, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam liên quan như: Luật Thương mại, Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng dân sự... nhằm phát hiện ra những nội dung chưa phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn trong chính hệ thống pháp luật Việt Nam với Công ước Singapore hoặc với pháp luật và thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật còn chứa các nội dung chưa phù hợp.
Thứ ba, nghiên cứu để xây dựng quy tắc hòa giải mẫu trên cơ sở tiếp cận các nội dung Quy tắc hòa giải mẫu của UNCITRAL, có chọn lọc phù hợp với bối cảnh và điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của Việt Nam.
3.2. Về hoàn thiện thiết chế thực thi
Thứ nhất, xác định cơ quan đầu mối thực thi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Công ước Singapore không quy định một cơ chế hợp tác giữa quốc gia thành viên mà quy định trách nhiệm của các quốc gia phải xem xét công nhận thỏa thuận hòa giải khi nhận được yêu cầu. Chính vì vậy, Công ước Singapore không yêu cầu việc chỉ định một cơ quan trung ương thực thi Công ước Singapore. Tuy vậy, để bảo đảm cho việc áp dụng Công ước Singapore một cách thống nhất, đồng thời quản lý, theo dõi hoạt động công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, bảo đảm trong lĩnh vực công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế tuân thủ cần thiết phải giao cho một cơ quan đầu mối. Bộ Tư pháp có chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động trọng tài, hòa giải, có nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng các văn bản pháp luật về trọng tài và hòa giải thương mại, đồng thời có kinh nghiệm là cơ quan đầu mối quốc gia trong thực hiện Công ước New York - Công ước có nhiều điểm chung với Công ước Singapore. Vì vậy, Bộ Tư pháp là cơ quan trung ương thực thi Công ước Singapore đáp ứng được mọi tiêu chí.
Thứ hai, giao một số Tòa án chuyên trách để xem xét công nhận thỏa thuận hòa giải tại một số thành phố lớn thuận lợi về cả nhu cầu công nhận và vị trí địa lý. Các Toà án sẽ là cơ quan giải quyết các yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Singapore. Việc công nhận thỏa thuận hòa giải có tính quốc tế nên cần chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động này thông qua việc chỉ giao cho một số Tòa án chuyên trách đảm nhiệm. Việc giao cho một số Tòa án chuyên trách cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, quản lý, đánh giá việc thực thi Công ước Singapore. Trên thực tế, việc giao chuyên trách cũng giúp cho việc tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cũng như trình độ ngoại ngữ cho các thẩm phán có trọng tâm, không gây lãng phí nguồn lực.
Thứ ba, cần hình thành cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan Bộ Tư pháp - cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải thương mại, Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án được giao thực hiện giải quyết yêu cầu công nhận thỏa thuận hòa giải tại Việt Nam để kịp thời xử lý, giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc thực thi Công ước Singapore.
3.3. Tăng cường nhận thức, nâng cao năng lực
Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của việc hòa giải, về Công ước Singapore, qua đó, khuyến khích các doanh nghiệp lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này, thúc đẩy hòa giải thương mại tại Việt Nam phát triển.
Thứ hai, các trung tâm hòa giải thương mại hiện nay giải quyết số lượng yêu cầu hòa giải thương mại còn rất hạn chế, dẫn đến thực tế các hòa giải viên không có cơ hội để thực hành, cọ sát nâng cao kỹ năng, chuyên môn hòa giải. Vì vậy, việc nâng cao năng lực cho các hòa giải viên cũng là tạo niềm tin cho các bên tranh chấp tìm đến lựa chọn phương thức hòa giải này. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cho hòa giải viên còn có ý nghĩa hơn khi một trong những yếu tố có thể dẫn đến không công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế theo Công ước Singapore có liên quan đến điều kiện, tiêu chuẩn về hòa giải viên (Điều 5.1.e Công ước Singapore). Thúc đẩy thành lập hiệp hội nghề hòa giải viên tạo “sân chơi” hiệu quả, bổ ích làm cầu nối giao lưu, học hỏi, hỗ trợ giữa các hòa giải viên.
Thứ ba, việc gia nhập Công ước Singapore yêu cầu Tòa án Việt Nam chuẩn bị sẵn nguồn lực cho việc tiếp nhận giải quyết các yêu cầu công nhận thỏa thuận hòa giải, nâng cao nhận thức của các thẩm phán, cán bộ Tòa án cũng như trang bị kiến thức về hòa giải thương mại quốc tế, công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế có vai trò hết sức quan trọng.
Có thể khẳng định, gia nhập Công ước là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam. Tuy nhiên, để việc gia nhập được chủ động và có thể khai thác được tốt các lợi ích do Công ước Singapore mang lại thì Việt Nam cần có bước chuẩn toàn diện với lộ trình cụ thể. Tin rằng, với sự đồng thuận, quan tâm, ủng hộ và nỗ lực của các cấp, các ngành, các chủ thể có liên quan, Việt Nam sẽ sớm gia nhập Công ước Singapore.

ThS. Bạch Quốc An
Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Ảnh: ST



[1]. Quyết định của Đại hội đồng Liên Hợp quốc 73/412.
[2]. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc 2205(XXI) ngày 17/12/1966 xác định mục tiêu của UNCITRAL.
[3]. Mục II.2.1 quy định một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp là “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”.
[4]. Đánh giá tại Báo cáo về khả năng áp dụng Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam do nhóm chuyên gia UNDP thực hiện.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mở rộng phạm vi và phương thức tiếp cận thông tin, cũng như nâng cao hiệu quả công khai và cung cấp thông tin trên thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, việc thực thi Luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt được, bối cảnh và những vấn đề đặt ra, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện thực chất, hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới.
Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Tóm tắt: Thành phố Huế được định hướng trở thành đô thị di sản; xu hướng thương mại hóa di sản văn hóa gắn với du lịch cộng đồng đặt ra yêu cầu cấp thiết bảo vệ quyền và lợi ích cư dân địa phương. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn bảo vệ quyền của cư dân trong hoạt động thương mại hóa di sản tại các mô hình du lịch cộng đồng ở thành phố Huế giai đoạn 2010 - 2025. Trên cơ sở tiếp cận quyền con người, nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và khai thác số liệu thứ cấp, chỉ ra nguy cơ biến dạng giá trị văn hóa, bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích, tác động đến không gian sống và sinh kế truyền thống, trong khi cơ chế tham gia, giám sát của cộng đồng còn hạn chế. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách và cơ chế bảo vệ quyền cư dân trong phát triển du lịch cộng đồng tại thành phố Huế.

Theo dõi chúng tôi trên: