Thứ ba 06/10/2026 15:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện Luật Tố cáo năm 2018 về bảo vệ người tố cáo

Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018 thì những người được bảo vệ bao gồm người tố cáo và thân nhân của người tố cáo. Cụ thể là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo.

1. Dẫn nhập
Bảo vệ người tố cáo là vấn đề quan trọng, cần thiết. Do đó, Luật Tố cáo năm 2018 đã đưa ra những quy định để bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, các quy định hiện nay vẫn chưa rõ ràng, còn mang tính hình thức. Trong bài viết này, tác giả sẽ phân tích một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.
Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Như vậy, tố cáo là một trong những quyền con người rất quan trọng đã được hiến định. Trên tinh thần đó, Luật Tố cáo năm 2018 đã đưa ra nhiều quy định để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.
Theo quy định của Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 thì tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: (i) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; (ii) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Việc tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa vô cùng to lớn. Tố cáo và công tác giải quyết tố cáo nếu được thực hiện tốt sẽ giúp ngăn chặn, khắc phục, hạn chế thiệt hại, từ đó bảo vệ tốt nhất lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến sự trả thù, trù dập, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo cũng như người thân của người tố cáo. Chính vì thế, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải bảo vệ người tố cáo một cách kịp thời, hiệu quả để họ được an toàn và tạo niềm tin để các cá nhân khác dũng cảm thực hiện quyền tố cáo của mình. Thực tiễn cho thấy, mặc dù đã có nhiều cố gắng để sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tố cáo đáng được ghi nhận nhưng các quy định về bảo vệ người tố cáo vẫn còn mang tính hình thức, nhiều quy định bộc lộ hạn chế, bất cập nhất định cần phải hoàn thiện.
2. Bất cập trong quy định về bảo vệ người tố cáo
2.1. Quy định chung
Thứ nhất, người được bảo vệ, phạm vi bảo vệ
Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018 thì những người được bảo vệ bao gồm người tố cáo và thân nhân của người tố cáo. Cụ thể là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Khác với Luật Tố cáo năm 2011 thì Luật Tố cáo năm 2018 đã liệt kê rõ ràng thân nhân (người thân thích) của người tố cáo thuộc đối tượng được bảo vệ. Thế nhưng, phạm vi chủ thể được bảo vệ như hiện nay là khá hẹp, chỉ bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Nếu xét dưới góc độ của người tố cáo thì họ sẽ “e ngại” vì ảnh hưởng đến người thân của họ nên họ sẽ “ngại” tố cáo, nhất là trong việc tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí. Bởi, người bị tố cáo trong trường hợp này thường là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước nên khả năng trả thù, trù dập xảy ra rất cao. Chính vì vậy, để “khuyến khích”, “động viên”, tạo sự an tâm cho người tố cáo “vạch trần” sự thật thì Luật Tố cáo năm 2018 cần mở rộng các chủ thể được bảo vệ như cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột, con rể, con dâu... của người tố cáo.
Vấn đề khác là, khoản 3 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Khi có căn cứ về việc vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người quy định tại khoản 1 Điều này đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay họ bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố cáo, người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền tự quyết định hoặc theo đề nghị của người tố cáo quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết”.
Vậy, trong tình huống nào thì được xác định là “có căn cứ” cho rằng người tố cáo và người thân thích của họ đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay họ bị trù dập, phân biệt đối xử. Pháp luật về tố cáo hiện hành chưa đưa ra giải thích rõ ràng thế nào là “có căn cứ” nên khó áp dụng trên thực tế, dễ dẫn đến sự tùy tiện của các chủ thể có thẩm quyền. Quy định trên cũng cho thấy, người tố cáo có quyền đề nghị nhưng quyền quyết định lại thuộc về các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Ngoài ra, người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền tự quyết định hoặc theo đề nghị của người tố cáo quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết. Nhưng như thế nào là “biện pháp bảo vệ cần thiết”. Đồng thời, như thế nào là “có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc” thì rất khó xác định. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của các chủ thể có thẩm quyền.
Thứ hai, quyền của người được bảo vệ
Khoản 1 Điều 48 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người được bảo vệ có nhiều quyền như được bồi thường trong trường hợp người tố cáo đã đề nghị người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mà không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tinh thần cho người được bảo vệ...
Thông thường thì quyền của chủ thể này lại là trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể khác. Theo đó, điểm b khoản 2 Điều 11 Luật Tố cáo năm 2018 khẳng định người giải quyết tố cáo có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo. Tiếp đó, Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ thuộc quyền quản lý và những nội dung bảo vệ khác nếu thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp không thuộc thẩm quyền thì yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ”.
Quy định trên rất nhân văn nhưng lại tiếp tục “bỏ ngỏ” các yêu cầu bắt buộc các chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm túc việc bảo vệ người tố cáo và những người được bảo vệ khác. Cụ thể là, trường hợp không thuộc thẩm quyền thì yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ. Thế nhưng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bị yêu cầu, đề nghị này phải tiến hành yêu cầu, đề nghị trong bao lâu. Điều này có thể dẫn đến việc quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ không kịp thời, không rốt ráo, không tích cực, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền. Thực tế cho thấy, việc phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo vệ người tố cáo chưa thật sự hiệu quả, sự phối hợp chưa nhịp nhàng, chưa “ăn khớp” và đôi khi không có sự thống nhất.
2.2. Trình tự, thủ tục bảo vệ
Thứ nhất, đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ
Khoản 1, khoản 3 Điều 50 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này thì người tố cáo có văn bản đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ; trường hợp khẩn cấp, người tố cáo có thể trực tiếp đến đề nghị hoặc thông qua điện thoại đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ ngay nhưng sau đó nội dung đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
Như vậy, về hình thức, người tố cáo phải có văn bản đề nghị, nếu trường hợp khẩn cấp thì người tố cáo có thể trực tiếp đến đề nghị hoặc thông qua điện thoại đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ ngay. Thế nhưng trường hợp nào là “trường hợp khẩn cấp” thì vẫn chưa được pháp luật hướng dẫn, do đó rất khó xác định trường hợp nào là trường hợp khẩn cấp, trường hợp nào là không khẩn cấp, từ đó dẫn đến việc áp dụng không thống nhất pháp luật và một lần nữa lại phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan, phụ thuộc vào tư duy của những người có thẩm quyền. Đồng thời, quy định về việc “đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ ngay trong trường hợp khẩn cấp” thể hiện sự định tính, bởi lẽ “ngay” là khi nào, điều này rất khó xác định trên thực tế. Việc quy định chung chung và hình thức như thế có thể dẫn đến tình trạng sau khi người tố cáo đã bị xâm hại tính mạng, sức khỏe thì mới áp dụng biện pháp bảo vệ, từ đó việc bảo vệ người tố cáo không còn ý nghĩa.
Thứ hai, xem xét, quyết định bảo vệ người tố cáo
Điều 51 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “1. Khi nhận được đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và xét thấy đề nghị bảo vệ là có căn cứ, có tính xác thực hoặc trong quá trình giải quyết tố cáo, người giải quyết tố cáo thấy có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này thì người giải quyết tố cáo kịp thời quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền hoặc đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
2. Khi nhận được yêu cầu hoặc đề nghị của người giải quyết tố cáo, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ.
3. Trường hợp đề nghị của người tố cáo không có căn cứ hoặc xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người tố cáo hoặc gửi thông báo cho người giải quyết tố cáo để giải thích rõ lý do cho người tố cáo”.
Như vậy, khi nhận được yêu cầu hoặc đề nghị của người giải quyết tố cáo, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp đề nghị của người tố cáo không có căn cứ hoặc xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người tố cáo hoặc gửi thông báo cho người giải quyết tố cáo để giải thích rõ lý do cho người tố cáo.
Với quy định này, Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục trao quyền quyết định cuối cùng cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Tuy nhiên, thế nào là “không cần thiết” thì lại không được giải thích và điều này sẽ dẫn đến sự tùy tiện của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Cũng với tư duy đó, Điều 54 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ có thể thay đổi, bổ sung việc áp dụng biện pháp bảo vệ nếu xét thấy cần thiết hoặc trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của người được bảo vệ”. Vấn đề đặt ra, thế nào là “cần thiết” thì đến nay vẫn chưa được giải thích, chưa được hướng dẫn cụ thể.
Khoản 4 Điều 52 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Sau khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo vệ phải tổ chức thực hiện ngay việc bảo vệ; trường hợp cần thiết, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện việc bảo vệ”.
Trên tinh thần đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm (khoản 2 Điều 53 Luật Tố cáo năm 2018):
- Thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu, đề nghị của cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Nếu không thực hiện được yêu cầu, đề nghị đó thì phải báo cáo hoặc thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đến cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
- Báo cáo hoặc thông báo bằng văn bản về kết quả thực hiện việc bảo vệ cho cơ quan quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Đồng thời, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo (Nghị định số 31/2019/NĐ-CP). Trong đó, Điều 7 và Điều 8 Nghị định này hướng dẫn trách nhiệm của người giải quyết tố cáo khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ cũng như trách nhiệm của cơ quan được đề nghị hoặc yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ. Cụ thể như sau:
- Trách nhiệm của người giải quyết tố cáo khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ: Khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ (gọi tắt là đề nghị bảo vệ) của người tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xem xét, đánh giá căn cứ, tính xác thực của đề nghị bảo vệ và quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền quy định tại Điều 52 Luật Tố cáo năm 2018. Trường hợp không thuộc thẩm quyền thì đề nghị hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp khẩn cấp, người giải quyết tố cáo đề nghị hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ ngay lập tức, sau đó gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ.
- Trách nhiệm của cơ quan được đề nghị hoặc yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ: Khi nhận được đề nghị hoặc yêu cầu của người giải quyết tố cáo thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định tại Điều 52 Luật Tố cáo năm 2018 và thông báo bằng văn bản cho người giải quyết tố cáo, người được bảo vệ.
Thế nhưng nỗi “băn khoăn” ở đây là, trường hợp “cần thiết” là những trường hợp nào, “phải tổ chức thực hiện ngay” hay “áp dụng biện pháp bảo vệ ngay lập tức” được hiểu như thế nào, thế nào là “ngay”, rồi trường hợp “khẩn cấp” là những trường hợp nào. Luật Tố cáo năm 2018 và thậm chí là các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 31/2019/NĐ-CP, Thông tư số 03/2021/TT-BNV ngày 21/07/2020 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức, Thông tư số 08/2020/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về bảo vệ việc làm của người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động, Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí... đều sử dụng những cụm từ theo hướng “ước lượng”, không rõ ràng, do đó việc bảo vệ người tố cáo và người thân của người tố cáo được triển khai như thế nào trên thực tế lại phụ thuộc vào quan điểm của các chủ thể có thẩm quyền.
2.3. Các biện pháp bảo vệ
Thứ nhất, biện pháp bảo vệ bí mật thông tin
Người tố cáo có quyền được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác (điểm b khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018). Do đó, Luật Tố cáo năm 2018 đã nghiêm cấm việc tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo tại khoản 3 Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018.
Trên cơ sở đó, Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018 quy định các biện pháp bảo vệ bí mật thông tin. Trong đó, đáng lưu ý là biện pháp tại khoản 5 Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018, cụ thể là: “Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo”. Như vậy, nếu cần thiết thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo, tức là đề nghị sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.
Tuy nhiên, với quy định này cho thấy, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo chỉ “đề nghị” chứ không phải “yêu cầu thực hiện”. Vậy, khi nhận được đề nghị thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có bắt buộc phải thực hiện hay không. Rõ ràng, nếu hiểu theo câu chữ của Luật Tố cáo năm 2018 thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo chỉ được quyền đề nghị, còn có thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo hay không sẽ phụ thuộc vào ý chí của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Bên cạnh đó, thế nào là các biện pháp cần thiết, hay nói cách khác biện pháp như thế nào là biện pháp cần thiết trong việc giữ bí mật thông tin của người tố cáo. Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo cho rằng biện pháp đó là cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo nhưng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan lại cho rằng biện pháp đó không cần thiết thì giải quyết như thế nào. Rõ ràng, quy định này không đủ “sức nặng” để ràng buộc các chủ thể có liên quan, từ đó các chủ thể có liên quan có thể không tuân thủ. Các biện pháp bảo vệ đó có “cần thiết” để giữ bí mật thông tin của người tố cáo hay không lại phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thứ hai, biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm
Việc bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo được xem là mối quan tâm lớn, vì các cá nhân thực hiện việc tố cáo rất dễ bị trù dập, phân biệt đối xử tại nơi làm việc của mình, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập và kéo theo là ảnh hưởng đến đời sống cũng như sự “thăng tiến” của họ trong nghề nghiệp.
Điều 57 Luật Tố cáo năm 2018 quy định các biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm như khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử... Thực tế cho thấy, dù người tố cáo được khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm nhưng họ vẫn khó duy trì công việc một cách bình thường như trước đây, đồng thời họ rất dễ bị trù dập, phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Điều này đã làm cho người tố cáo quyết định thôi việc, từ bỏ vị trí công tác, việc làm của mình. Bên cạnh đó, biện pháp “xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử” dường như chưa khả thi và phụ thuộc rất lớn vào ý chí, quyết định của các chủ thể có thẩm quyền.
Thứ ba, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm
Luật Tố cáo năm 2018 nghiêm cấm việc đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo tại khoản 8 Điều 8. Đồng thời, Luật Tố cáo năm 2018 đưa ra những biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo tại Điều 58. Cụ thể là:
“1. Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn; 2. Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết; 3. Áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ theo quy định của pháp luật...”.
Điều đáng nói là, “nơi an toàn”, “nơi cần thiết” là những nơi nào thì hiện nay vẫn rất khó xác định và còn nhiều cách hiểu khác nhau. Tương tự như vậy, “biện pháp cần thiết” là những biện pháp nào thì hiện nay vẫn rất khó xác định. Do đó, việc áp dụng pháp luật phụ thuộc vào những chủ thể có thẩm quyền. Từ đó, thực tế có thể dẫn đến tình trạng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền “ngó lơ”, “thờ ơ” với “số phận” của người tố cáo và thân nhân của người tố cáo.
3. Kết luận
Việc tố cáo nếu đúng đắn sẽ kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời ngăn chặn và khắc phục các thiệt hại xảy ra cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để các cá nhân thực hiện tốt quyền tố cáo của mình, dám “đấu tranh” nhằm loại bỏ những “tiêu cực” trong xã hội thì vấn đề bảo vệ người tố cáo phải được chú trọng và đặc biệt quan tâm. Thế nhưng đến nay các quy định của Luật Tố cáo năm 2018 vẫn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, chưa cụ thể, còn mang tính hình thức, từ đó làm cho công tác triển khai thi hành gặp nhiều khó khăn và người tố cáo trên thực tế chưa được bảo vệ tốt.
Với những vướng mắc như trên thì thiết nghĩ các nhà lập pháp cần đưa ra các quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ hơn để người tố cáo và những người thân thích của người tố cáo được bảo vệ một cách an toàn. Từ đó cũng tránh sự lạm quyền, tùy tiện, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm của những chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo và những chủ thể có liên quan. Bởi lẽ, các quy định trên chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa tạo nên thiết chế pháp lý cần thiết để bảo vệ người tố cáo một cách tổng thể, hiệu quả và thực chất. Các quy định trên phụ thuộc rất lớn vào tư duy, nhận thức và “cái tâm” của những chủ thể có thẩm quyền. Điều này dẫn đến tâm lý “ngại va chạm”, sợ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người thân, từ đó các cá nhân không dũng cảm tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật./.

ThS. Dũng Thị Mỹ Thẩm
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: