Thứ bảy 12/09/2026 05:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48/NQ-TW). Đây là văn kiện chính trị của Đảng định hướng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trên cơ sở Nghị quyết số 48/NQ-TW, Ban thường vụ tỉnh ủy Ninh Bình đã chỉ đạo Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh và các các cơ quan có liên quan bám sát nội dung của Nghị quyết, triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Từ đó đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong hệ thống pháp luật, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã làm tốt vai trò tham mưu cho HĐND, UBND các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện đảm bảo sát với tình hình thực tế. Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã có những chuyển biến cơ bản đáp ứng được các mục tiêu, quan điểm đã đề ra.

Trong 10 năm qua (2005 - 2015), HĐND và UBND các cấp đã ban hành 3.072 văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), (trong đó HĐND, UBND tỉnh ban hành 487 VBQPPL; HĐND, UBND cấp huyện ban hành 373 VBQPPL; HĐND, UBND cấp xã ban hành 1.734 VBQPPL). Các VBQPPL của tỉnh ban hành cơ bản đều phù hợp với các VBQPPL do các cơ quan trung ương ban hành và phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Ninh Bình, có tính thực tiễn, khả thi cao, có tác động tích cực hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách của tỉnh. Đồng thời, thông qua công tác thẩm định đã phát hiện nhiều dự thảo văn bản quy định không đúng thẩm quyền, không phù hợp với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc có phạm vi, đối tượng điều chỉnh không rõ ràng, thể thức và kỹ thuật trình bày sai với quy định của pháp luật, từ đó kiến nghị cơ quan soạn thảo tiếp thu, chỉnh lý.

Đối với công tác tự kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa VBQPPL trong thời gian qua đã được các cấp, các ngành thực hiện tương đối nghiêm túc. Trong 10 năm qua, Sở Tư pháp đã thực hiện tự kiểm tra đối với 487 VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh (97 Nghị quyết, 354 Quyết định và 36 Chỉ thị); Phòng Tư pháp cấp huyện đã giúp HĐND, UBND cùng cấp tự kiểm tra đối với 359 VBQPPL; công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đã giúp HĐND, UBND cấp xã thực hiện kiểm tra đối với 1.770 VBQPPL. Công tác tự kiểm tra, xử lý văn bản trong thời gian qua đã được các cấp, các ngành thực hiện tương đối nghiêm túc và kịp thời, đặc biệt là công tác tự kiểm tra ở cấp tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận và đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2010/TT-BTP ngày 03/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật, công tác theo dõi thi hành pháp luật đã có nhiều chuyển biến, bước đầu đã có sự gắn kết với kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính và kiểm tra VBQPPL. Sở Tư pháp đã tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng Quy chế phối hợp trong công tác theo dõi thi hành pháp luật, trong đó phân công cụ thể trách nhiệm của các cấp, các ngành; biên soạn, phát hành sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp luật để cấp phát cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh bảo đảm nâng cao chất lượng và thống nhất trong quá trình xây dựng, góp ý, kiểm soát thủ tục hành chính, thẩm định, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản.

Việc xử lý vi phạm hành chính được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện, cơ bản đi vào nề nếp; xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan, đúng thẩm quyền. Để triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, ngày 20/3/2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 252/QĐ-UBND ngày 20/3/2015 ban hành Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2015 trên địa bàn tỉnh.

Việc triển khai các nhiệm vụ phổ biến giáo dục pháp luật ở tỉnh được thực hiện bài bản, theo kế hoạch thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương; gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng của đất nước và địa phương; tập trung vào những văn bản pháp luật mới, có phạm vi điều chỉnh rộng liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội và các quyền, nghĩa vụ của người dân. Nhiều hình thức phổ biến pháp luật đã được sáng tạo, đổi mới phù hợp với địa phương, cơ sở và đối tượng được phổ biến. Nguồn nhân lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay đã kiện toàn được 100 báo cáo viên cấp tỉnh, 273 báo cáo viên cấp huyện và hơn 800 tuyên truyền viên pháp luật

Về năng lực của các thiết chế xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, đi đôi với việc xây dựng thể chế về xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, cơ cấu tổ chức, biên chế thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật cũng được quan tâm kiện toàn. Năm 2005, đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, công tác pháp chế ở tỉnh mới chỉ có 17 người, ở cấp huyện là 22 người, cấp xã là 145 người. Đến nay, con số này được nâng lên là 38 cán bộ pháp chế ở cấp tỉnh, 30 cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở cấp huyện và 187 cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở cấp xã, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của Nghị quyết số 48/NQ-TW và yêu cầu thực tiễn địa phương.

Về đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực làm công tác pháp luật, năm 2005, toàn tỉnh có 184 cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật và công tác pháp chế, trong đó có 40 người có trình độ cử nhân Luật, 78 người có trình độ trung cấp Luật và 66 người có trình độ chuyên ngành khác. Đến năm 2015, trình độ chuyên môn của đội ngũ làm công tác pháp luật đã được nâng lên một cách rõ rệt, với tổng số 255 cán bộ thì có 02 người có trình độ Thạc sỹ, 159 người có trình độ Cử nhân Luật, 37 người có trình độ Trung cấp Luật và 57 người có trình độ chuyên ngành khác.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW ở địa phương còn gặp một số khó khăn hạn chế như: Một số sở, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo và triển khai thực hiện đầy đủ, toàn diện công tác xây dựng VBQPPL; công tác xây dựng và ban hành VBQPPL còn bị động, phải chờ và phụ thuộc vào việc hướng dẫn và giao nhiệm vụ của các cơ quan trung ương; kinh phí cho công tác xây dựng văn bản nói chung cũng như công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa nói riêng chưa được bố trí thường xuyên, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ phải triển khai thực hiện; đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật tuy được củng cố kiện toàn, có tăng về số lượng, cơ bản bảo đảm về chất lượng để thực hiện nhiệm vụ được giao, nhưng so với yêu cầu công việc hiện nay thì vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công việc được giao, được phân cấp, vì ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hiện nay đội ngũ này đảm nhận nhiều công việc mới, rất khó và nặng nề như: kiểm soát thủ tục hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, bồi thường nhà nước... mặt khác đội ngũ công chức pháp chế ở các sở, ngành hầu hết là kiêm nhiệm, chậm được kiện toàn nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xây dựng VBQPPL. Ngoài ra, đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch ở cơ sở không ổn định và thường xuyên thay đổi qua mỗi kỳ bầu cử, đại hội. Ngoài ra, hiện nay các thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành ban hành để hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không quy định về tổ chức pháp chế. Do vậy, không thể giữ lại Phòng Pháp chế theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ...

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thời gian qua, đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 48/NQ-TW trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành một cách đồng bộ, thống nhất và kịp thời, tránh tình trạng luật đã có hiệu lực nhưng không tổ chức triển khai thực hiện được, vì còn phải chờ hướng dẫn của trung ương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, bảo đảm luật ban hành có hiệu lực được tổ chức triển khai đồng bộ; quy định trách nhiệm hành chính đối với cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức và người dân; tiếp tục rà soát, phân loại để kiến nghị, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ những thủ tục hành chính rờm rà, không còn phù hợp, làm cho hệ thống VBQPPL của địa phương đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và có tính khả thi cao. Nhiệm vụ nào đã phân cấp, phân quyền cho cơ quan cấp dưới thì phải ban hành văn bản để tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc; cần phải có biện pháp để đảm bảo số lượng biên chế của công chức làm công tác VBQPPL ở địa phương và sớm ban hành chính sách đãi ngộ, hỗ trợ để thu hút, tạo điều kiện cho những người trực tiếp làm công tác xây dựng VBQPPL; khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn để xác định vị trí pháp lý và sự tồn tại của Phòng Pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; tăng cường và thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỷ năng xây dựng VBQPPL chuyên ngành cho công chức làm công tác xây dựng pháp luật ở địa phương để góp phần phục vụ tốt công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật ở địa phương như Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đề ra.

Đoàn Thị Ngọc Hải

Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: