Thứ bảy 24/10/2026 10:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả bước đầu thực hiện Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025

Xuất phát từ những bất cập của hoạt động trợ giúp pháp lý, ngày 01/6/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025. Sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ ban hành, Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động tổ chức triển khai nhiều hoạt động, tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành; ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện các biện pháp chỉ đạo điều hành cách thức tổ chức việc cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý tại địa phương… nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.


Thông qua bài viết này, tác giả đã nêu bật những kết quả bước đầu Bộ Tư pháp đã đạt được trong quá trình thực hiện Đề án đổi mới đó là: Nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý; tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; qua đó có những đánh giá chung về những tác động tích cực, những hạn chế, bất cập và đưa ra phương hướng trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý.

Ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 (Đề án đổi mới). Xuất phát từ những bất cập của hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL), Đề án đổi mới đặt ra một số mục tiêu lớn là: (i) Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; (ii) Tinh gọn tổ chức bộ máy thực hiện TGPL; (iii) Đẩy mạnh truyền thông về TGPL; (iv) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động TGPL; (v) Huy động mạnh mẽ sự tham gia của xã hội vào hoạt động TGPL.

Sau khi Đề án đổi mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành, Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động tổ chức triển khai nhiều hoạt động, từ tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành; ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện các biện pháp chỉ đạo điều hành cách thức tổ chức việc cung cấp dịch vụ TGPL tại địa phương… nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

1. Kết quả đạt được

1.1. Nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý

Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Đề án đổi mới. Đề ra mục tiêu này, Đề án mong muốn thay đổi hình ảnh, ấn tượng về hoạt động TGPL trong nhận thức của các cơ quan cũng như người dân về chất lượng dịch vụ TGPL. Để đạt mục tiêu trên, Bộ Tư pháp đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động. Cụ thể:

- Nâng cao năng lực người thực hiện trợ giúp pháp lý

Từ khi triển khai Đề án đổi mới đến nay, hằng năm, ở trung ương và địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho đội ngũ người thực hiện TGPL. Để có thể giúp tối đa số người tham dự tập huấn, bên cạnh ngân sách của Nhà nước, Bộ Tư pháp cũng đã chủ động huy động các đối tác nước ngoài hỗ trợ về kỹ thuật và kinh phí cho hoạt động tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL. Về nội dung, các lớp tập huấn tập trung vào kỹ năng TGPL trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; kỹ năng TGPL cho các đối tượng đặc thù như người khuyết tật có khó khăn về tài chính; kỹ năng TGPL cho nạn nhân bị bạo lực như phụ nữ, trẻ em...

Thời gian qua, các địa phương đều thực hiện rà soát đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và chuyên viên để đào tạo, bồi dưỡng. Từ năm 2017 đến nay, theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình (Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg), ngân sách trung ương đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện tập huấn tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL và hỗ trợ 170 viên chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (Trung tâm) tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn tham gia khóa đào tạo nghề luật sư tạo nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý.

Thông qua các hoạt động nêu trên, năng lực thực hiện TGPL của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý ngày càng được nâng cao, cơ bản đáp ứng đầy đủ và có chất lượng nhu cầu TGPL của người dân.

- Nâng cao tiêu chuẩn người thực hiện trợ giúp pháp lý

Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có nhiều quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tham gia TGPL. Cụ thể:

+ Về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý: Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý tương đương với luật sư, cụ thể là bổ sung tiêu chuẩn phải qua đào tạo nghề luật sư và tập sự nghề TGPL hoặc luật sư để trợ giúp viên pháp lý có thời gian tập sự vận dụng kiến thức, kỹ năng trước khi được cung cấp và chịu trách nhiệm về dịch vụ TGPL. Đối với những trợ giúp viên pháp đã được bổ nhiệm trước khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực, Luật yêu cầu trong vòng 05 năm kể từ ngày 01/01/2018 phải có chứng nhận đào tạo nghề luật sư. Hiện nay, trợ giúp viên pháp lý là đội ngũ nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL cho người dân. 05 năm qua, số lượng trợ giúp viên pháp lý đã tăng lên đáng kể, mặc dù tổng số định biên của các Trung tâm giảm so với trước khi triển khai Đề án đổi mới (trước khi triển khai Đề án, toàn quốc có 585 trợ giúp viên pháp lý, đến nay là 642 người).

Luật sư có nguyện vọng tham gia TGPL phải được Trung tâm lựa chọn, ký hợp đồng theo trình tự, thủ tục căn cứ trên những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể và phù hợp với yêu cầu của công tác TGPL tại địa phương. Yêu cầu này bảo đảm luật sư tham gia thực hiện TGPL phải là người có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức để thực hiện vụ việc TGPL có hiệu quả, tránh việc ghi danh một cách hình thức.

+ Về tổ chức tham gia TGPL: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định các điều kiện cụ thể để tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL, Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.

Với các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, chất lượng dịch vụ TGPL đã có nhiều cải thiện. Đến nay, qua đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về TGPL, không có vụ việc nào không đạt chất lượng, chưa phát sinh khiếu nại về kết quả thực hiện TGPL. Kết quả này được ghi nhận thông qua tỷ lệ vụ việc thành công, hiệu quả ngày càng cao, số vụ việc hình sự được Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết có lợi cho bị cáo theo đề nghị của trợ giúp viên pháp lý, sự đánh giá, ghi nhận của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng[1].

1.2. Tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý

Trước khi có Đề án đổi mới, vấn đề của công tác TGPL là nguồn lực chưa được sử dụng một cách hợp lý. Do trước đây chưa có Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ở cơ sở nên Trung tâm chủ yếu thực hiện các hoạt động hỗ trợ như TGPL lưu động ở cơ sở, phổ biến pháp luật... Vụ việc TGPL chủ yếu là giải đáp vướng mắc pháp luật đơn giản thông qua TGPL lưu động, các vụ việc tham gia tố tụng chưa nhiều. Chính vì vậy, một trong những định hướng và mục tiêu rất quan trọng của Đề án đổi mới là tập trung thực hiện vụ việc, đặc biệt là vụ việc tham gia tố tụng, đi vào bản chất của TGPL. Nhằm đạt được mục tiêu này, Bộ Tư pháp đã tích cực triển khai nhiều hoạt động để trực tiếp hoặc gián tiếp, đưa ra các giải pháp mạnh mẽ để các Trung tâm thay đổi cách thức tổ chức công việc, bố trí nguồn lực hợp lý để chủ động tiếp cận nhu cầu TGPL của người dân, thực hiện vụ việc TGPL.

- Về thể chế

+ Tăng cường trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 41). Khoản 3 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo, người bị hại là người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm tại địa phương. Quy định này xác định cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đã được ghi nhận tại Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời bảo đảm để Trung tâm cử người thực hiện TGPL kịp thời trong thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định.

Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và trại giam trong hoạt động tố tụng đã được cụ thể tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

Đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

+ Quy định về các hình thức trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 03 hình thức TGPL là: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng mà không quy định “các hình thức TGPL khác” để tránh sự tùy tiện của tổ chức thực hiện TGPL trong việc tổ chức các hoạt động phụ trợ. Với quy định này, việc tổ chức công việc của các Trung tâm đã đi vào nền nếp hơn, thực chất hơn.

+ Chế tài đối với trợ giúp viên pháp lý khi không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng

Luật cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan. Đến nay, chưa có trợ giúp viên pháp lý nào thuộc trường hợp này.

+ Có cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia tích cực đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý

Một trong những chính sách để khuyến khích sự tham gia tích cực của người thực hiện TGPL là nâng mức thù lao cho luật sư thực hiện vụ việc tham gia tố tụng và mức bồi dưỡng cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể, ngay sau khi Đề án đổi mới được triển khai, Bộ Tư pháp đã kịp thời trình Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và nay là Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

- Các biện pháp điều hành cụ thể

Giao chỉ tiêu thực hiện vụ việc tham gia tố tụng. Từ năm 2016, hàng năm, Bộ Tư pháp ban hành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng cho các trợ giúp viên pháp lý, theo đó, các trợ giúp viên pháp lý có trách nhiệm thực hiện một số lượng vụ việc tham gia tố tụng nhất định căn cứ vào thâm niên giữ chức danh nghề nghiệp này. Hàng năm, chỉ tiêu được điều chỉnh tăng dần. Khi mới triển khai việc giao chỉ tiêu, nhiều trợ giúp viên pháp lý gặp khó khăn vì trong một thời gian dài họ không “buộc phải” thực hiện nhiệm vụ này, không chịu bất kỳ áp lực nào. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện thì nhận thức của đội ngũ này đã có sự thay đổi rõ. Họ nhận thức được rằng, trợ giúp viên pháp lý là một chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp và thực hiện vụ việc TGPL là nhiệm vụ đương nhiên của chức danh này. Hơn nữa, chỉ thông qua thực hiện vụ việc trợ giúp viên pháp lý mới khẳng định được năng lực của bản thân cũng như góp phần ghi nhận vai trò, vị thế của hoạt động TGPL trong đời sống xã hội. Xuất phát từ nhận thức này, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đã tích cực hơn trong việc trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng tham gia tố tụng.

Có thể khẳng định, sau 04 năm thực hiện chỉ tiêu tham gia tố tụng, nhìn chung, việc tham gia tố tụng của các trợ giúp viên pháp lý đã có chuyển biến tích cực. Việc giao chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý qua các năm đã và đang trở thành công cụ hiệu quả trong việc quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở trung ương nói chung và ở địa phương nói riêng. Những kết quả đó đã chứng minh việc giao chỉ tiêu tham gia tố tụng cho các trợ giúp viên pháp lý là đúng đắn, hiệu quả. Đồng thời, việc giao chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý góp phần giúp các Sở Tư pháp xác định vị trí, việc làm của các công chức, viên chức trong Trung tâm cho phù hợp tránh lãng phí nguồn lực trong điều kiện thực hiện chủ trương nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay.

- Tinh gọn bộ máy tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đặt ra yêu cầu là trong một năm kể từ khi Luật có hiệu lực pháp luật Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát các chi nhánh của Trung tâm đã được thành lập tại địa phương, căn cứ vào nhu cầu TGPL của người dân, nguồn lực và hiệu quả để báo cáo Bộ Tư pháp thống nhất việc duy trì, sáp nhập hoặc giải thể. Đây được coi là một biện pháp cứng rắn hơn để các địa phương tiếp tục kiện toàn, đánh giá quyết định việc hoạt động của các chi nhánh. Các địa phương đã thực hiện nghiêm túc quy định này. Tính đến ngày 30/6/2020, toàn quốc có 123 chi nhánh (giảm 74 chi nhánh).

Về Câu lạc bộ TGPL, trước khi triển khai Đề án đổi mới, toàn quốc có 4.339 câu lạc bộ. Thực hiện Đề án, các địa phương đã giải thể 2.280 câu lạc bộ, không có câu lạc bộ nào được thành lập mới. Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành không còn quy định về câu lạc bộ, do đó, từ khi triển khai Luật các địa phương đã giải thể và sáp nhập 1.477 câu lạc bộ, chuyển đổi mô hình các câu lạc bộ còn lại.

- Truyền thông về trợ giúp pháp lý

Xác định việc hạn chế trong tiếp cận thông tin về TGPL là một nguyên nhân chính dẫn đến việc người dân chưa tìm đến tổ chức thực hiện TGPL, cơ quan quản lý TGPL, các tổ chức thực hiện TGPL đã chú trọng đẩy mạnh công tác truyền thông về hoạt động TGPL theo các phương thức khác nhau: Truyền thông truyền thống (trực tiếp về cơ sở, báo đài, tờ gấp…), truyền thông hiện đại (internet, điện thoại hotline…) và hình thức đặc thù (hộp, bảng tin, tờ tin TGPL tại cơ quan tố tụng, chính quyền cơ sở…).

+ Ở trung ương, Cục Trợ giúp pháp lý đã tích cực phối hợp với các cơ quan truyền thông thực hiện các phóng sự về một số vụ việc thành công, hiệu quả phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam qua các chương trình có nhiều người theo dõi như Quốc hội với cử tri, truyền hình dân tộc, tọa đàm trực tuyến về chính sách về các kết quả thực hiện TGPL trong chương trình giảm nghèo...; đăng bài viết, bài nghiên cứu trên các kênh báo chí, các phương tiện truyền thông; xây dựng nội dung phóng sự về TGPL cho người dân tộc thiểu số; xây dựng thông điệp về quyền và nghĩa vụ của người thuộc diện TGPL. Trang Thông tin điện tử TGPL đã được nâng cấp, hoàn thiện, kịp thời cung cấp văn bản chỉ đạo, điều hành của trung ương và địa phương, là diễn đàn rộng rãi để trao đổi thông tin, kinh nghiệm, kỹ năng TGPL trên toàn quốc.

+ Ở địa phương, tất cả các Trung tâm trên toàn quốc đã triển khai các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho người được TGPL. Đặc biệt, từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực Trung tâm đã được bổ sung nhiệm vụ truyền thông về TGPL, thì các Trung tâm đã thực hiện hoạt động này tích cực hơn. Hoạt động truyền thông cũng được đổi mới với nhiều hình thức đa dạng như thông qua việc xây dựng tờ gấp pháp luật, xây dựng phóng sự truyền thông về chính sách TGPL, phóng sự giới thiệu về các vụ việc TGPL đã thực hiện thành công. Từ năm 2016 đến nay, theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg, ngân sách trung ương đã bổ sung kinh phí cho 37 địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn có nhu cầu thiết lập đường dây nóng về TGPL để người dân liên hệ…

- Huy động các tổ chức xã hội, luật sư có chất lượng tham gia trợ giúp pháp lý

Như đã nêu ở trên, theo tinh thần Đề án đổi mới, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành quy định tăng mức bồi dưỡng thực hiện vụ việc tham gia tố tụng cho luật sư. Đặc biệt, thể chế hóa tinh thần đổi mới về việc huy động luật sư có kinh nghiệm, trình độ, các tổ chức hành nghề luật sư có uy tín tham gia thực hiện TGPL để người dân có quyền tiếp cận dịch vụ TGPL có chất lượng, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản quy định chi tiết đã quy định việc tham gia TGPL theo hai hình thức là ký hợp đồng và đăng ký tham gia theo các nội dung: Điều kiện, tiêu chuẩn và việc thù lao, chi phí khi thực hiện vụ việc TGPL. Như vậy, bên cạnh việc đăng ký tham gia TGPL, Luật quy định thêm cơ chế ký hợp đồng với tổ chức và được chi trả thù lao khi thực hiện TGPL đã tạo thêm cơ hội, để những tổ chức chất lượng tham gia cung cấp dịch vụ TGPL. Triển khai các quy định về đa dạng hóa chủ thể thực hiện TGPL nêu trên, tính đến hết tháng 6/2019, trên toàn quốc có 33 tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Sở Tư pháp thực hiện TGPL (trong đó có 24 tổ chức hành nghề luật sư, 09 tổ chức tư vấn pháp luật); 161 tổ chức đăng ký tham gia TGPL với các Sở Tư pháp (trong đó có 128 tổ chức hành nghề luật sư, 33 tổ chức tư vấn pháp luật); 511 luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Trung tâm. Bên cạnh đó, theo tinh thần từ Đề án đổi mới và thực hiện quy định từ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, hiện nay ở các Sở Tư pháp đã công bố danh sách người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Ngoài ra, để đẩy mạnh đa dạng hóa chủ thể tham gia TGPL, tạo điều kiện cho người được TGPL được thụ hưởng dịch vụ TGPL có chất lượng, Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ký Quy chế số 4617/QCPH/BTP-LĐLSVN ngày 28/12/2016 về phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư. Đến nay, hầu hết các địa phương đã ký Quy chế phối hợp với Đoàn Luật sư tỉnh/thành phố. Một số địa phương tuy không ban hành Quy chế nhưng có phối hợp khá tốt với Đoàn Luật sư địa phương trong công tác TGPL.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Hệ thống quản lý TGPL do Cục Trợ giúp pháp lý phối hợp với Cục Công nghệ thông tin xây dựng và đưa vào vận hành chính thức từ tháng 01/2019. Qua thực tiễn sử dụng, Hệ thống quản lý TGPL đã cơ bản đáp ứng nhu cầu quản lý, lưu trữ hồ sơ điện tử, trích xuất các số liệu thống kê báo cáo theo biểu mẫu quy định dễ dàng, nhanh chóng. Hệ thống quản lý TGPL cung cấp nhanh một số thông tin phục vụ cho công tác quản lý như: Số liệu vụ việc thụ lý, số liệu vụ việc hoàn thành, số lượng người thực hiện TGPL... Từ đó, tiết kiệm thời gian trong xử lý công việc, nắm bắt nhanh tình hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trên toàn quốc nói chung và tại các Trung tâm nói riêng.

Hệ thống quản lý TGPL cập nhật, lưu trữ thông tin tổ chức thực hiện TGPL, danh sách người thực hiện TGPL liên tục, kịp thời. Đặc biệt, Hệ thống quản lý TGPL được xây dựng và chạy trên nền tảng công nghệ hiện đại, có khả năng trích xuất và tích hợp cơ sở dữ liệu của các hệ thống đang vận hành chung trong Bộ. Hệ thống quản lý TGPL vận hành theo cơ chế phân quyền bảo đảm quy trình bảo mật thông tin việc, vụ việc đáp ứng quy định của pháp luật về bảo mật thông tin trong hoạt động TGPL.

Tại địa phương, các đơn vị thường xuyên cập nhật thông tin về tổ chức, người thực hiện TGPL, thông tin việc, vụ việc TGPL và trích xuất các thống kê báo cáo phục vụ cho công tác quản lý, theo dõi và hoạt động TGPL. Nhiều Trung tâm đã ban hành các văn bản đôn đốc, chỉ đạo, hướng dẫn việc cập nhật thông tin lên Hệ thống quản lý TGPL.

2. Đánh giá chung

2.1. Những tác động tích cực

Sau 05 năm thực hiện Đề án đổi mới đã mang đến những kết quả khá toàn diện trên các mặt công tác của hoạt động TGPL như đã phân tích ở trên, đến nay có thể khẳng định, việc đổi mới công tác TGPL trên thực tế trong thời gian qua là cần thiết và đã có những thành công mang tính đột phá. Nhiều định hướng đúng đắn của Đề án đổi mới đã được đánh giá, kiểm chứng và ghi nhận trong Luật, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và cần tiếp tục triển khai trên thực tế. Đến nay, cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững của công tác TGPL đã tương đối đầy đủ. Các địa phương đều đã thể hiện sự nhất trí, đồng tình cao đối với chính sách TGPL hiện hành. Công tác TGPL đã được ổn định, dần đi vào chiều sâu, thực chất, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các đối tượng yếu thế trong các vụ án hình sự, dân sự... được người dân tin tưởng.

2.2. Những hạn chế, bất cập

- Bất cập về mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án đổi mới

Một số mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án đổi mới còn chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn trong quá trình triển khai. Cụ thể:

+ Định hướng nhiệm vụ chuyển đổi các Trung tâm trực tiếp cung cấp dịch vụ TGPL thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL chưa phù hợp với bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội, định hướng cải cách tổ chức bộ máy, tinh gọn biên chế.

+ Về nhiệm vụ tinh giản biên chế: Đề án yêu cầu giảm mạnh tổng số biên chế sự nghiệp, số giảm này chuyển sang công chức ở trong lĩnh vực công tác tư pháp. Tuy nhiên, theo các văn bản của trung ương thì đội ngũ công chức nói chung cũng cần giảm.

- Bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện

+ Với số liệu thống kê về tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL tại các tỉnh có thể thấy, đội ngũ người thực hiện TGPL còn mỏng, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi có tỷ lệ người nghèo, người dân tộc thiểu số cao, điều kiện đi lại khó khăn. Trong điều kiện tinh giản biên chế hiện nay, thì việc tăng biên chế nhà nước thực hiện TGPL (trợ giúp viên pháp lý) là điều rất khó khăn, trong khi đó luật sư là lực lượng có trình độ nghiệp vụ và kỹ năng hành nghề có tiềm năng tham gia hoạt động TGPL nhưng lại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Đây là một thách thức rất lớn đối với công tác TGPL tại những địa bàn này.

+ Về cơ chế đánh giá chất lượng dịch vụ TGPL: Mặc dù chất lượng dịch vụ TGPL là vấn đề được quan tâm hàng đầu, đã có nhiều biện pháp được thực hiện để hướng tới mục tiêu này, tuy nhiên, cơ chế đánh giá chất lượng vụ việc TGPL hiện nay chưa thật sự phù hợp, chưa xây dựng được đội ngũ chuyên gia độc lập để đánh giá chất lượng vụ việc một cách khách quan, thiếu quy định để đánh giá vụ việc thành công rõ rệt (vì vụ việc được thực hiện bảo đảm chất lượng nhưng chưa chắc đã hiệu quả, thành công vì phụ thuộc vào ý chí của người phán xử...).

+ Công tác truyền thông về TGPL: Tuy các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức thực hiện TGPL đã tích cực tăng cường số lượng các đợt truyền thông, đổi mới phương thức truyền thông nhưng hiệu quả nói chung vẫn chưa thật sự như mong đợi. Qua so sánh số liệu về số lượng người thuộc diện TGPL, số vụ việc TGPL do các tổ chức thực hiện TGPL tiếp nhận, thực hiện[2], có thể nhận định, nhận thức của nhiều người dân về TGPL của người dân chưa cao, chưa biết về hoạt động TGPL, quyền được TGPL của mình để được giúp đỡ khi có nhu cầu.

+ Về huy động xã hội tham gia thực hiện TGPL: Mặc dù thể chế hiện nay đã có nhiều cải tiến, có chính sách thu hút sự tham gia của xã hội đối với hoạt động TGPL như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, đến nay số lượng tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động này vẫn khiêm tốn, tham gia hoạt động TGPL một cách thực chất là luật sư ký hợp đồng với Trung tâm TGPL. Tuy vậy, con số này chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với luật sư trên toàn quốc.

3. Phương hướng trong thời gian tới

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, duy trì mô hình hệ thống TGPL như hiện nay. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm phù hợp với tính chất của đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện dịch vụ thiết yếu, cơ bản an sinh xã hội không có thu, Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí.

- Tiếp tục nâng cao số lượng vụ việc và chất lượng dịch vụ TGPL.

- Tăng cường năng lực của Cục Trợ giúp pháp lý đặt trong bối cảnh tinh giản biên chế chung của Ngành Tư pháp, thực hiện nhiệm vụ điều phối, hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương thực hiện những hoạt động có trọng tâm, trọng điểm bảo đảm hoạt động TGPL đi đúng hướng, góp phần vào tổng thể chính sách giảm nghèo chung...

- Tăng cường truyền thông về công tác TGPL, ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vựcTGPL, tối đa hóa khả năng tiếp cận TGPL của người dân, hiện thực hóa quyền được TGPL đã được ghi nhận.

- Thực hiện sơ kết theo chuyên đề về một số nhiệm vụ, giải pháp của Đề án đổi mới TGPL để tiến tới tổng kết Đề án vào năm 2025.

- Nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ định hướng phát triển TGPL giai đoạn 2025 - 2030 trên cơ sở tổng kết Đề án đổi mới TGPL.

Cục Trợ giúp pháp lý



[1]. Tại nhiều đợt kiểm tra về công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa phương, người tiến hành tố tụng phát biểu đánh giá cao vai trò của trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, cho rằng sự tham gia của trợ giúp viên pháp lý giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết công việc một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật.

[2]. Theo ước tính có khoảng 45% dân số Việt Nam thuộc diện TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, nhưng mỗi năm toàn quốc có từ 35.000 - 40.000 người nhận dịch vụ TGPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: