Thứ bảy 30/05/2026 21:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội

Hoạt động giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội là việc xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách. Điều này góp phần làm tăng sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý ngân sách nhà nước, hơn nữa còn làm tăng lòng tin của người dân với cơ quan đại diện của Nhân dân và với Nhà nước. Thông qua bài viết, tác giả trình bày khái quát thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội.


1. Thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội
Hiện nay, vấn đề giám sát của Quốc hội được quy định rất cụ thể, rõ ràng. Theo đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về: Giám sát tối cao, giám sát chuyên đề, giám sát của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân, chất vấn, giải trình, thẩm quyền giám sát của Quốc hội, nguyên tắc giám sát… Ngoài ra, còn quy định liên quan đến các hoạt động giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật; giám sát hoạt động của Chính phủ; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch; giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội; giám sát của đại biểu Quốc hội về chất vấn và giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Bên cạnh đó, Điều 16 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có quy định về giám sát chuyên đề của Quốc hội. Trong đó, có quy định liên quan đến: Thành lập đoàn giám sát chuyên đề theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; Quốc hội xem xét báo cáo của đoàn giám sát, nghị quyết giám sát chuyên đề.
Trong khi đó, thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước (NSNN) của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội cũng được Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định chi tiết. Hiện nay, thẩm quyền giám sát NSNN được quy định cụ thể theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, cụ thể:
- Quốc hội: Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, chính sách cơ bản về tài chính - ngân sách quốc gia, nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước (khoản 10 Điều 10);
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Giám sát thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách (khoản 6 Điều 20);
- Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội: (i) Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách (khoản 4 Điều 21); (ii) Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương về lĩnh vực tài chính - ngân sách (khoản 5 Điều 21);
- Hội đồng dân tộc và các ủy ban khác của Quốc hội: Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tài chính - ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách trong lĩnh vực phụ trách (khoản 2 Điều 22);
- Hội đồng nhân dân các cấp: Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định (khoản 6 Điều 30).
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động giám sát nói chung và giám sát NSNN nói riêng vẫn còn một số vấn đề đặt ra liên quan đến: Phạm vi quyền giám sát tối cao của Quốc hội, quy trình giám sát, hình thức kết luận giám sát của Hội đồng dân tộc và các ủy ban, thủ tục giúp đại biểu sử dụng quyền hạn (quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, thành lập ủy ban điều tra…). Ngoài ra, dù đã có quy định khá rõ nét quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các ủy ban khác của Quốc hội, nhưng đến nay nước ta chưa đề cập đến hai chủ thể quan trọng khác là: Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có quyền giám sát NSNN như thế nào? Thực tế này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, xem xét quyền giám sát NSNN của 02 chủ thể trên để nâng cao chất lượng giám sát NSNN của Quốc hội ngày càng đạt hiệu lực, hiệu quả cao hơn.
Có thể nhận thấy, hiệu quả giám sát NSNN được thể hiện qua những phương thức tiến hành hoạt động giám sát NSNN, mà điều cốt lõi tác động đến kết quả thực hiện các phương thức đó là hiệu quả sử dụng các công cụ giám sát. Công cụ giám sát ở các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào chính thể của nước đó và những đặc điểm riêng trong hệ thống chính trị của từng quốc gia. Những công cụ giám sát được Quốc hội các nước áp dụng phổ biến là: Thảo luận, biểu quyết, chất vấn; đề xuất kiến nghị; luận tội; điều trần, điều tra; bỏ phiếu bất tín nhiệm… Hiệu năng của một số công cụ giám sát từ kinh nghiệm các nước thể hiện như sau:
- Chất vấn và nghị quyết về chất vấn: Đây là hình thức giám sát được hầu hết các Quốc hội áp dụng và là một công cụ giám sát được nhiều nước sử dụng nhất.
Khái niệm chất vấn có thể khác nhau ở mỗi nước, nhưng nhìn chung có thể định nghĩa: Chất vấn là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng hay các thành viên của Chính phủ trước phiên họp để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia. Kết thúc thủ tục này thường là một biểu quyết của Quốc hội về mức độ thỏa mãn các câu trả lời của Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ. Nếu Quốc hội không thỏa mãn các câu trả lời của Thủ tướng và các thành viên Chính phủ, Quốc hội có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với Chính phủ.
- Các đoàn giám sát: Trong những trường hợp cụ thể, một số đoàn đại biểu Quốc hội, thành viên ủy ban hoặc đoàn kiểm tra, phối hợp được thành lập để đi thị sát tình hình, điều tra những vấn đề được nêu trong chương trình nghị sự. Bản thân thanh tra Quốc hội, để thực hiện nhiệm vụ của mình cũng có quyền thành lập các đoàn điều tra để làm cơ sở cho các kiến nghị của mình.
- Những công vụ giám sát khác: Để giám sát sự chi tiêu của Chính phủ đối với những khoản kinh phí đã được phê chuẩn trong khuôn khổ, Quốc hội các nước thành lập những cơ quan đặc biệt gọi là ban kiểm toán với nhiệm vụ kiểm tra việc sử dụng ngân sách. Hoạt động của cơ quan này bao hàm những bản quyết toán về chi tiêu của các bộ và cơ quan trung ương. Trong khi đó, một số nước khác như Hoa Kỳ, Đức… không có hình thức tổ chức nhất định đối với việc thực hiện các hoạt động giám sát mà hoạt động này được tiến hành chủ yếu thông qua tiếp xúc cử tri và giải quyết khiếu nại. Qua đó, giúp tăng cường được hiệu lực, hiệu quả và bảo đảm thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội
Việc nâng cao nhận thức về mục đích, tầm quan trọng của hoạt động giám sát NSNN, qua đó góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành giám sát; quan tâm đến tính khả thi, công tác kiểm tra, theo dõi, đánh giá, tổng hợp việc thực hiện kiến nghị hậu giám sát có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, cần có sự chủ động hợp tác giữa các bên liên quan, thể hiện qua việc cơ quan chịu sự giám sát có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và tạo mọi điều kiện để hoạt động giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả; thực hiện nghiêm túc các kiến nghị sau giám sát…
Dựa trên các quy định hiện nay về giám sát NSNN của Quốc hội và hiệu năng của một số công cụ giám sát từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, để tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm chính trị trong hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội; đổi mới nhận thức về chu trình NSNN, xác định đầy đủ chức năng, thẩm quyền giám sát NSNN của Quốc hội; bổ sung thêm nội dung giám sát NSNN của Quốc hội mà Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn thiếu; quy định các hình thức, phương thức, phương pháp và các công cụ giám sát NSNN của Quốc hội bảo đảm khoa học.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về giám sát NSNN; đổi mới quy trình, thủ tục giám sát NSNN của Quốc hội; cơ chế giám sát NSNN của Quốc hội; cải thiện vị thế, điều kiện làm việc và tăng động lực, năng lực giám sát cho đại biểu Quốc hội; tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ giám sát NSNN trong việc bảo đảm thực thi kết luận giám sát NSNN; thành lập và phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ quan hỗ trợ hoạt động giám sát và bảo đảm thực thi kết luận giám sát NSNN của Quốc hội; tăng cường chất lượng các dịch vụ thông tin và nghiên cứu phục vụ hoạt động giám sát, thực thi kết luận của Quốc hội; phát huy vai trò của các hiệp hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.
Thứ ba, bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật, bộ máy giúp việc phục vụ hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát. Điều này làm cơ sở lý luận, là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội, các cơ quan tham mưu giúp việc cho Quốc hội nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan.
Thứ tư, không ngừng cải cách thể chế trong lĩnh vực tài chính - NSNN, trong đó, tập trung về sửa đổi các luật về thuế (giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, bảo vệ môi trường…); tăng cường hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; thực hiện phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm; đẩy mạnh công khai, minh bạch ngân sách và tăng cường trách nhiệm giải trình...

ThS. Khuất Việt Hải
Học viện Hành chính Quốc gia

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: