Thứ sáu 13/03/2026 14:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội

Hoạt động giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội là việc xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách. Điều này góp phần làm tăng sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý ngân sách nhà nước, hơn nữa còn làm tăng lòng tin của người dân với cơ quan đại diện của Nhân dân và với Nhà nước. Thông qua bài viết, tác giả trình bày khái quát thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội.


1. Thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội
Hiện nay, vấn đề giám sát của Quốc hội được quy định rất cụ thể, rõ ràng. Theo đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về: Giám sát tối cao, giám sát chuyên đề, giám sát của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân, chất vấn, giải trình, thẩm quyền giám sát của Quốc hội, nguyên tắc giám sát… Ngoài ra, còn quy định liên quan đến các hoạt động giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật; giám sát hoạt động của Chính phủ; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch; giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội; giám sát của đại biểu Quốc hội về chất vấn và giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Bên cạnh đó, Điều 16 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có quy định về giám sát chuyên đề của Quốc hội. Trong đó, có quy định liên quan đến: Thành lập đoàn giám sát chuyên đề theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; Quốc hội xem xét báo cáo của đoàn giám sát, nghị quyết giám sát chuyên đề.
Trong khi đó, thẩm quyền giám sát ngân sách nhà nước (NSNN) của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội cũng được Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định chi tiết. Hiện nay, thẩm quyền giám sát NSNN được quy định cụ thể theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, cụ thể:
- Quốc hội: Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, chính sách cơ bản về tài chính - ngân sách quốc gia, nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước (khoản 10 Điều 10);
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Giám sát thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách (khoản 6 Điều 20);
- Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội: (i) Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách (khoản 4 Điều 21); (ii) Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương về lĩnh vực tài chính - ngân sách (khoản 5 Điều 21);
- Hội đồng dân tộc và các ủy ban khác của Quốc hội: Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tài chính - ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách trong lĩnh vực phụ trách (khoản 2 Điều 22);
- Hội đồng nhân dân các cấp: Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định (khoản 6 Điều 30).
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động giám sát nói chung và giám sát NSNN nói riêng vẫn còn một số vấn đề đặt ra liên quan đến: Phạm vi quyền giám sát tối cao của Quốc hội, quy trình giám sát, hình thức kết luận giám sát của Hội đồng dân tộc và các ủy ban, thủ tục giúp đại biểu sử dụng quyền hạn (quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, thành lập ủy ban điều tra…). Ngoài ra, dù đã có quy định khá rõ nét quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các ủy ban khác của Quốc hội, nhưng đến nay nước ta chưa đề cập đến hai chủ thể quan trọng khác là: Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có quyền giám sát NSNN như thế nào? Thực tế này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, xem xét quyền giám sát NSNN của 02 chủ thể trên để nâng cao chất lượng giám sát NSNN của Quốc hội ngày càng đạt hiệu lực, hiệu quả cao hơn.
Có thể nhận thấy, hiệu quả giám sát NSNN được thể hiện qua những phương thức tiến hành hoạt động giám sát NSNN, mà điều cốt lõi tác động đến kết quả thực hiện các phương thức đó là hiệu quả sử dụng các công cụ giám sát. Công cụ giám sát ở các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào chính thể của nước đó và những đặc điểm riêng trong hệ thống chính trị của từng quốc gia. Những công cụ giám sát được Quốc hội các nước áp dụng phổ biến là: Thảo luận, biểu quyết, chất vấn; đề xuất kiến nghị; luận tội; điều trần, điều tra; bỏ phiếu bất tín nhiệm… Hiệu năng của một số công cụ giám sát từ kinh nghiệm các nước thể hiện như sau:
- Chất vấn và nghị quyết về chất vấn: Đây là hình thức giám sát được hầu hết các Quốc hội áp dụng và là một công cụ giám sát được nhiều nước sử dụng nhất.
Khái niệm chất vấn có thể khác nhau ở mỗi nước, nhưng nhìn chung có thể định nghĩa: Chất vấn là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng hay các thành viên của Chính phủ trước phiên họp để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia. Kết thúc thủ tục này thường là một biểu quyết của Quốc hội về mức độ thỏa mãn các câu trả lời của Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ. Nếu Quốc hội không thỏa mãn các câu trả lời của Thủ tướng và các thành viên Chính phủ, Quốc hội có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với Chính phủ.
- Các đoàn giám sát: Trong những trường hợp cụ thể, một số đoàn đại biểu Quốc hội, thành viên ủy ban hoặc đoàn kiểm tra, phối hợp được thành lập để đi thị sát tình hình, điều tra những vấn đề được nêu trong chương trình nghị sự. Bản thân thanh tra Quốc hội, để thực hiện nhiệm vụ của mình cũng có quyền thành lập các đoàn điều tra để làm cơ sở cho các kiến nghị của mình.
- Những công vụ giám sát khác: Để giám sát sự chi tiêu của Chính phủ đối với những khoản kinh phí đã được phê chuẩn trong khuôn khổ, Quốc hội các nước thành lập những cơ quan đặc biệt gọi là ban kiểm toán với nhiệm vụ kiểm tra việc sử dụng ngân sách. Hoạt động của cơ quan này bao hàm những bản quyết toán về chi tiêu của các bộ và cơ quan trung ương. Trong khi đó, một số nước khác như Hoa Kỳ, Đức… không có hình thức tổ chức nhất định đối với việc thực hiện các hoạt động giám sát mà hoạt động này được tiến hành chủ yếu thông qua tiếp xúc cử tri và giải quyết khiếu nại. Qua đó, giúp tăng cường được hiệu lực, hiệu quả và bảo đảm thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội
Việc nâng cao nhận thức về mục đích, tầm quan trọng của hoạt động giám sát NSNN, qua đó góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành giám sát; quan tâm đến tính khả thi, công tác kiểm tra, theo dõi, đánh giá, tổng hợp việc thực hiện kiến nghị hậu giám sát có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, cần có sự chủ động hợp tác giữa các bên liên quan, thể hiện qua việc cơ quan chịu sự giám sát có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và tạo mọi điều kiện để hoạt động giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả; thực hiện nghiêm túc các kiến nghị sau giám sát…
Dựa trên các quy định hiện nay về giám sát NSNN của Quốc hội và hiệu năng của một số công cụ giám sát từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, để tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm chính trị trong hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội; đổi mới nhận thức về chu trình NSNN, xác định đầy đủ chức năng, thẩm quyền giám sát NSNN của Quốc hội; bổ sung thêm nội dung giám sát NSNN của Quốc hội mà Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn thiếu; quy định các hình thức, phương thức, phương pháp và các công cụ giám sát NSNN của Quốc hội bảo đảm khoa học.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về giám sát NSNN; đổi mới quy trình, thủ tục giám sát NSNN của Quốc hội; cơ chế giám sát NSNN của Quốc hội; cải thiện vị thế, điều kiện làm việc và tăng động lực, năng lực giám sát cho đại biểu Quốc hội; tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ giám sát NSNN trong việc bảo đảm thực thi kết luận giám sát NSNN; thành lập và phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ quan hỗ trợ hoạt động giám sát và bảo đảm thực thi kết luận giám sát NSNN của Quốc hội; tăng cường chất lượng các dịch vụ thông tin và nghiên cứu phục vụ hoạt động giám sát, thực thi kết luận của Quốc hội; phát huy vai trò của các hiệp hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.
Thứ ba, bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật, bộ máy giúp việc phục vụ hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát. Điều này làm cơ sở lý luận, là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội, các cơ quan tham mưu giúp việc cho Quốc hội nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan.
Thứ tư, không ngừng cải cách thể chế trong lĩnh vực tài chính - NSNN, trong đó, tập trung về sửa đổi các luật về thuế (giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, bảo vệ môi trường…); tăng cường hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; thực hiện phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm; đẩy mạnh công khai, minh bạch ngân sách và tăng cường trách nhiệm giải trình...

ThS. Khuất Việt Hải
Học viện Hành chính Quốc gia

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: