Thứ ba 22/09/2026 08:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong giải quyết thủ tục đăng ký khai tử

Đăng ký khai tử là sự kiện pháp lý tuy không được mong đợi nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng, bởi giấy chứng tử (trích lục khai tử) được coi là căn cứ pháp lý chính thức chấm dứt sự tồn tại của một cá nhân,

Đăng ký khai tử là sự kiện pháp lý tuy không được mong đợi nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng, bởi giấy chứng tử (trích lục khai tử) được coi là căn cứ pháp lý chính thức chấm dứt sự tồn tại của một cá nhân, kết thúc các quan hệ pháp luật mà cá nhân đó tham gia với tư cách chủ thể như quan hệ về hôn nhân và gia đình, đăng ký thường trú, bảo hiểm..., nhưng cũng là căn cứ để phát sinh, thay đổi nhiều quan hệ pháp luật khác (như: Thừa kế, bảo hiểm…).

Việc đăng ký khai tử có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với thân nhân của người chết mà còn có ý nghĩa không nhỏ trong hoạt động quản lý nhà nước. Nếu không đăng ký khai tử sẽ xảy ra nhiều hệ lụy như: Thân nhân của người chết sẽ không được hưởng chế độ tử tuất của bảo hiểm xã hội; vợ hoặc chồng của người chết không thể kết hôn với người khác; không xác định được thời điểm mở thừa kế…, cũng như gây khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu, thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Có trường hợp người chết vẫn được phát thẻ cử tri đi bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; người chết vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (trả lương hưu, hưởng trợ cấp hàng tháng) do quản lý chưa chặt chẽ, chưa đăng ký khai tử kịp thời…

Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định tương đối đầy đủ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền đăng ký khai tử. Hiện nay, do nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký hộ tịch, có các giấy tờ hộ tịch, trong đó có việc đăng ký khai tử, bên cạnh sự quan tâm, đầu tư mạnh mẽ hơn cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động đăng ký hộ tịch của chính quyền; bản thân người dân cũng nhận thức được việc đăng ký hộ tịch vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình nên đã tự giác đi đăng ký, tình trạng người chết không được đăng ký khai tử đã dần dần được khắc phục. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn ghi nhận nhiều trường hợp không thể đăng ký khai tử hoặc phải mất nhiều thời gian, công sức của cả thân nhân người chết cũng như của cơ quan đăng ký hộ tịch cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan mới giải quyết được việc đăng ký khai tử.

Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi mong muốn thông qua một số vướng mắc còn tồn tại trong thực tế thực hiện thủ tục đăng ký khai tử, từ đó đề xuất giải pháp tháo gỡ, góp phần cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện thủ tục đăng ký khai tử, đồng thời, tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong hoạt động này.

1. Thủ tục đăng ký khai tử theo quy định pháp luật hiện hành

Khoản 2, 3, 4 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định:

“2. Cá nhân chết phải được khai tử.

3. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.

4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định”.

Theo quy định pháp luật dân sự, việc đăng ký khai tử đối với cá nhân có ý nghĩa quan trọng không chỉ với chính cá nhân được đăng ký khai tử mà còn với các cá nhân, tổ chức khác liên quan và Nhà nước.

Đối với cá nhân, việc khai tử về mặt pháp lý sẽ làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân đó. Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ, chẳng hạn như quyền tác giả của cá nhân vẫn được bảo hộ ngay cả sau khi tác giả là cá nhân chết; làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ với các cá nhân, tổ chức khác có liên quan do đang là một bên chủ thể của các quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, quan hệ lao động, quan hệ hành chính… hoặc làm phát sinh quyền, nghĩa vụ theo quan hệ thừa kế, quan hệ bồi thường thiệt hại, bảo hiểm…

Đối với Nhà nước, việc đăng ký khai tử góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý được tình hình biến động của dân cư, nắm được nguyên nhân của sự biến động đó (thông qua nguyên nhân chết); từ đó thực hiện các chính sách, hoạt động quản lý phù hợp đối với hộ khẩu, y tế, an sinh xã hội…

Để bảo đảm quyền được khai tử của công dân, Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định cụ thể về thời hạn và những người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử, theo đó, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng, con, cha, mẹ, người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử. Công chức tư pháp - hộ tịch đồng thời có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, bảo đảm việc đăng ký khai tử cho người chết trên địa bàn quản lý theo đúng thời hạn pháp luật quy định.

Theo Luật Hộ tịch năm 2014, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục đăng ký khai tử được quy định tại các điều 32, 34, 51, 52. Theo đó, thẩm quyền đăng ký khai tử thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã và UBND cấp huyện, trong đó:

- UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết (không xác định được cả nơi thường trú và nơi tạm trú) thì UBND cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trừ trường hợp ngoại lệ đối với khu vực biên giới, UBND xã ở khu vực biên giới có thẩm quyền thực hiện đăng ký khai tử cho người nước ngoài cư trú tại xã đó để tạo thuận lợi cho người dân.

- UBND cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư tại nước ngoài chết tại Việt Nam. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì UBND cấp huyện nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Thủ tục đăng ký khai tử cũng được quy định rõ ràng theo hướng đơn giản, theo đó, người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Sau khi nhận đủ hồ sơ, giấy tờ, nếu thấy việc khai tử là đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã/công chức làm công tác hộ tịch của Phòng Tư pháp cấp huyện ghi nội dung khai tử vào sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã/cấp huyện cấp trích lục cho người đi khai tử. Nếu người chết là công dân Việt Nam thì công chức tư pháp - hộ tịch/công chức làm công tác hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Nếu người chết là người nước ngoài thì UBND cấp huyện thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục hộ tịch cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước mà người chết là công dân. Kết quả đầu ra của việc đăng ký khai tử là trích lục khai tử.

2. Những vướng mắc trong giải quyết thủ tục đăng ký khai tử và một số kiến nghị, đề xuất

Một là, quy định về việc cấp giấy báo tử chưa được hướng dẫn thực hiện rõ ràng, thống nhất, có nội dung chưa phù hợp chủ trương cải cách thủ tục hành chính

Khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay thế giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) thì Bộ Y tế hướng dẫn các cơ sở y tế thực hiện việc giấy báo tử. Các thông tin trong giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay thế giấy báo tử là cơ sở để xác định nội dung đăng ký khai tử.

Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản quy định cụ thể về mẫu giấy báo tử nên gây lúng túng cho UBND cấp xã trong việc thực hiện cấp giấy báo tử cho người chết trên địa bàn, cũng như trong việc thực hiện đăng ký khai tử. Theo chúng tôi, ngoài các trường hợp chết tại cơ sở y tế, việc chết ngoài cơ sở y tế (ốm đau, bệnh tật, tai nạn tại nhà...) vẫn cần thiết phải có ý kiến của cơ quan y tế để xác định chính xác nguyên nhân chết.

Điều 32 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì UBND cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử, như vậy, trong trường hợp này, việc xác định cơ quan nào cấp giấy báo tử hay UBND cấp xã vừa cấp giấy báo tử vừa đăng ký khai tử vẫn còn là vấn đề chưa được quy định rõ (vướng mắc này cũng xảy ra tương tự đối với trường hợp đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam).

Hai là, quy định về trình tự, thủ tục đăng ký khai tử chưa thể hiện rõ trách nhiệm, chưa có giải pháp xử lý trong trường hợp có người thân thích nhưng không thực hiện việc đăng ký khai tử

Luật Hộ tịch năm 2014 đã quy định những người có trách nhiệm đăng ký khai tử cho người chết (Điều 33), tuy nhiên, lại không quy định cụ thể về thứ tự ưu tiên, nên trường hợp người chết có vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác nhưng có thể do lý do nào đó, những người này “đùn đẩy” không ai đi khai tử thì dẫn đến việc không xác định rõ trách nhiệm, chưa biết thứ tự “ưu tiên về trách nhiệm” của những người được quy định tại Điều 33 trong việc đi đăng ký khai tử, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đăng ký khai tử. Trong thực tế, báo chí cũng phản ánh có trường hợp thân nhân người chết, do không đồng ý với nguyên nhân chết được ghi trong giấy tờ thay thế giấy báo tử (kết quả giám định pháp y), yêu cầu được ghi nguyên nhân chết trong trích lục khai tử theo ý của họ nhưng cơ quan đăng ký hộ tịch không giải quyết do không có cơ sở, không đúng thực tế, nên gia đình không thực hiện việc đăng ký khai tử, “chây ỳ”, ảnh hưởng đến quyền đăng ký hộ tịch, gây khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch tại địa phương. Hiện nay, nếu xảy ra những trường hợp này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ có thể vận động, giải thích cho người thân thích của người chết về quyền, trách nhiệm đăng ký khai tử, đồng thời mời đại diện các tổ chức, đoàn thể tại địa phương (Mặt trận Tổ quốc, lao động thương binh và xã hội, Hội Người cao tuổi, đại diện khu dân cư/trưởng thôn) tham gia làm việc với người thân thích của người chết để thuyết phục, chưa có cơ sở pháp lý, quy định pháp lý để giải quyết dứt điểm.

Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi cho rằng pháp luật hộ tịch nên nghiên cứu theo hướng quy định rõ về thứ tự người có trách nhiệm đăng ký khai tử cho người chết, trường hợp tất cả những người thân thích không thể đi hoặc không thực hiện trách nhiệm đăng ký khai tử thì cơ quan đăng ký hộ tịch có quyền chỉ định cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan hoặc giao công chức cấp xã thực hiện thủ tục này, như vậy, sẽ có cơ sở để giải quyết dứt điểm những trường hợp cố tình không đăng ký khai tử.

Ba là, còn khó khăn trong việc giải quyết yêu cầu đăng ký lại khai tử do không có đủ căn cứ chứng minh sự kiện chết hoặc đăng ký khai tử cho những người chết quá lâu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch năm 2014 thì: “Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều trường hợp chết tại nhà do bệnh già, lớn tuổi hoặc người chết đã chết cách đây nhiều năm (do chiến tranh, thiên tai, lũ lụt…), người thân thích của người chết vì lý do khách quan hoặc chủ quan không thực hiện khai tử/không còn lưu giữ được bất cứ giấy tờ, tài liệu nào để chứng minh sự kiện chết, dẫn đến khi người thân có nhu cầu sử dụng trích lục khai tử, có yêu cầu đăng ký khai tử thì không thực hiện được do không có đủ căn cứ chứng minh sự kiện chết.

Bên cạnh đó, thời hạn đăng ký khai tử cũng là một trong những vấn đề phát sinh khó khăn, vướng mắc. Do hiện nay chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về việc sự kiện chết xảy ra trong thời hạn bao lâu thì cơ quan đăng ký hộ tịch mới có trách nhiệm và có khả năng đăng ký khai tử, dẫn đến có không ít trường hợp yêu cầu đăng ký khai tử cho người chết đã quá lâu (chết trên 20 năm, chết từ thời kỳ chế độ cũ ở miền Nam, chết trong chiến tranh, thậm chí yêu cầu đăng ký khai tử cho người chết từ thế kỷ 19...), do Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết thi hành không quy định, hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết nên cơ quan đăng ký khai tử không có cơ sở để giải quyết, cũng không có cơ sở để từ chối giải quyết và không biết hướng dẫn người dân thực hiện như thế nào; ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thân thích của người chết. Nên chăng, đối với người chết đã trên 60 năm (thời gian trung bình của một đời người) hoặc người chết trong thời gian và không gian thuộc chế độ cũ quản lý, người thân thích không có bất cứ giấy tờ, hồ sơ, đồ vật gì làm cơ sở xác định thông tin khai tử, pháp luật về hộ tịch cần quy định theo hướng cho phép cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối thực hiện.

Bốn là, việc ghi “nguyên nhân chết” trong trích lục khai tử đối với những trường hợp chưa xác định được nguyên nhân chết ảnh hưởng đến quá trình giải quyết thủ tục đăng ký khai tử

Đối với việc đăng ký khai tử cho người chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, phải có văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc kết quả giám định của cơ quan giám định pháp y thay cho giấy báo tử. Như vậy, đối với những trường hợp này, trong hồ sơ đăng ký khai tử chỉ cần có 01 trong các loại giấy tờ hoặc là kết quả giám định pháp y, hoặc là văn bản xác nhận của cơ quan công an về sự kiện chết. Tuy nhiên, trên thực tế những trường hợp này, công an xã thường từ chối xác nhận về sự kiện chết do chưa xác định được nguyên nhân chết (trừ một số nguyên nhân đã rõ ràng như tai nạn giao thông, chết đột ngột...), như vậy, gia đình phải chờ có kết quả giám định pháp y mới được giải quyết việc đăng ký khai tử. Do đó, nên chăng cần có quy định theo hướng cho phép mục “nguyên nhân chết” trong trích lục khai tử/sổ đăng ký khai tử/Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có thể để trống trong trường hợp chưa thể xác định, trích lục đăng ký khai tử cũng có thể bỏ, không ghi nguyên nhân chết, do một số nguyên nhân chết tương đối nhạy cảm (như: Nhiễm HIV, tự tử, thi hành án tử hình...) có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến người thân của người chết. Quy định theo hướng này vẫn bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 23 Thông tư số 15/2015/TT-BTP về cách ghi trích lục khai tử cho phép: Trường hợp chưa xác định được nguyên nhân chết thì để trống).

Năm là, chưa rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử cho trường hợp công dân Việt Nam chết ở nước ngoài nhưng chưa được đăng ký khai tử tại nước ngoài, thi thể hoặc tro cốt đã đưa về nước, nay người thân có yêu cầu đăng ký khai tử tại Việt Nam

Một vướng mắc thời gian qua mà các cơ quan đăng ký hộ tịch gặp phải đó là đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam chết ở nước ngoài. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử cho những trường hợp này tuy đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, theo đó, thẩm quyền đăng ký khai tử là của cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi cư trú cuối cùng của người chết (khoản 1 Điều 11), nhưng nhiều trường hợp gia đình của người chết không đăng ký khai tử tại cơ quan đại diện có thẩm quyền mà mang tro cốt/đưa thi hài về Việt Nam và yêu cầu đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch trong nước. Đối với những trường hợp này việc xác định thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục như thế nào để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân vẫn chưa được quy định trong pháp luật hộ tịch. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, làm việc ở nước ngoài ngày càng nhiều nên việc nghiên cứu bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử đối với các trường hợp này là một vấn đề cần thiết cần được sớm quy định hướng dẫn cụ thể.

ThS. Nhâm Ngọc Hiển

ThS. Bùi Thị Hải Châu

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.

Theo dõi chúng tôi trên: