1. Quan niệm về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước là một hoạt động quan trọng trong tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước. Dưới góc độ pháp lý, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một tập hợp các quy định, luật lệ do các chủ thể đưa ra nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Trong điều kiện Việt Nam, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có thể được hiểu là một chỉnh thể các thể chế và các thiết chế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng vận hành nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những hành vi vi phạm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng Hiến pháp và pháp luật.
Cơ chế kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước gồm: Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài đối với bộ máy nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong gồm hoạt động của các thiết chế như: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, chính quyền địa phương, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân... Cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài bộ máy nhà nước gồm hoạt động kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, phương tiện truyền thông đại chúng, cá nhân, công dân.
2. Tính tất yếu của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thứ nhất, nguồn gốc của quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của Nhân dân. Các cơ quan nhà nước được Nhân dân bầu ra trên cơ sở nguyên tắc đa số, nhưng các cơ quan này cũng như đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải thừa hành ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, trong đó có cả ý chí của những người thiểu số. Theo phương thức này thì phải có những cơ chế phù hợp để chế ước quyền lực nhà nước, buộc các chủ thể có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm với Nhân dân cũng như tự kiềm chế để không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Càng dân chủ thì càng đòi hỏi những yêu cầu mới về cách vận hành của các thiết chế nhà nước, loại bỏ tất cả các hành vi nhũng nhiễu để bảo đảm tốt nhất lợi ích của người dân.
Thứ hai, nguy cơ tha hóa của quyền lực nhà nước:
Để phát triển và tồn tại, con người luôn cần đến Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước cũng do chính con người điều khiển. Mặc dù vậy, bản tính con người luôn ham mê quyền lực. Cũng bởi khi một người nào đó được giao quyền lực nhà nước thì sẽ dễ dẫn đến tình trạng tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực thực chất là hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để làm những việc sai trái nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hay lợi ích một nhóm người, làm tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, lợi ích của quốc gia, dân tộc. Theo nhận định của các chuyên gia, tha hóa quyền lực biểu hiện dưới rất nhiều dạng thức như: Lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền, tiếm quyền, tùy tiện, vô trách nhiệm, quan liêu, độc đoán... Thời gian qua, hầu hết các vụ việc bị phát giác, xử lý, truy tố, xét xử đều gắn với những người có chức, có quyền vì đã dính dáng vào các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nêu trên. Trong đó, sự tha hóa quyền lực thông qua biểu hiện lạm quyền, lợi dụng quyền để vụ lợi, trục lợi diễn ra phổ biến. Vì vậy, trước nguy cơ trên, việc thực thi quyền lực nhà nước cần được đặt dưới sự kiểm soát. Qua đó, không chỉ điều chỉnh hành vi của các chủ thể có thẩm quyền, lạm dụng quyền lực vào những việc tư lợi mà còn giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.
Thứ ba, thực tiễn cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay:
Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tính hiệu quả của việc thực hiện quyền lực nhà nước ngày càng được quan tâm. Do vậy, việc kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm cao nhất hiệu quả của việc sử dụng quyền lực nhà nước đã luôn được quan tâm hoàn thiện trong quá trình đổi mới vừa qua.
Thể chế hóa các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hiến pháp năm 2013 tại khoản 3 Điều 2 đã khẳng định nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, quy định trong Hiến pháp, những nội dung về kiểm soát quyền lực nhà nước không ngừng được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của Việt Nam. Những quy định sửa đổi, bổ sung và ban hành mới về nội dung này trong hệ thống pháp luật hiện nay đã tạo ra những thay đổi quan trọng, tạo lập sơ sở pháp lý bảo đảm việc thực thi công vụ một cách hiệu quả. Không chỉ hệ thống thể chế mà các thiết chế cũng hoạt động ngày càng hiệu quả. Hầu hết các cơ quan nhà nước đã được tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả nhằm bảo đảm tốt nhất nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Từ đó, mỗi cơ quan đều đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã ghi nhận: “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực”. Trên thực tế, quá trình thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đã bảo đảm “sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý để đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp”[1].
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước còn có một số hạn chế mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đã nhận định: “Quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện”. Điều này thể hiện thể chế, thiết chế kiểm soát quyền lực bên trong cũng như bên ngoài bộ máy nhà nước còn những hạn chế, thiếu sót khiến cho cơ chế này chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. Hoạt động kiểm tra của Đảng, hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước, hoạt động xét xử, kiểm sát hoạt động tư pháp,… còn chưa tạo sự phối hợp chặt chẽ với hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và đặc biệt là Nhân dân. Vì vậy, trước những hạn chế trong cơ chế kiểm soát quyền lực, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải nâng cao hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, để tránh tình trạng sử dụng quyền lực không đúng cách, tha hóa quyền lực và tha hóa đạo đức công vụ.
3. Nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước trong giai đoạn mới
Kiểm soát quyền lực nhà nước là một quá trình liên tục, đồng bộ. Mối quan hệ quyền lực và kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện nay là tất yếu khách quan, tuy nhiên vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù lịch sử. Do đó, nhằm góp phần khắc phục hạn chế, thiếu sót để thực hiện mục tiêu đến năm 2030: “Hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, được kiểm soát hiệu quả”[2], theo tác giả cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng một số giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, hơn nữa là đảng duy nhất cầm quyền, có chức năng hiến định lãnh đạo nhà nước và xã hội[3]. Do đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Ðảng”. Xuyên suốt thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về tăng cường, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhất quán và tuân thủ như một nguyên tắc mang tính quy luật của quá trình phát triển đất nước. Do đó, trước hết, Đảng cần phải đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm lãnh đạo công tác kiểm soát quyền lực nhà nước một cách đúng đắn và có khả năng thực thi trong thực tiễn. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như các tổ chức đảng về trách nhiệm trong công tác kiểm soát quyền lực nhà nước. Với tinh thần “nhốt quyền lực trong lòng cơ chế”, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải nêu cao tinh thần nghiêm túc thực hiện những quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực nhà nước để từng bước cụ thể hóa vào trong mỗi vị trí công tác một cách sáng tạo, phù hợp, linh hoạt và đạt hiệu quả cao. Mặt khác, đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng theo hướng giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan chính quyền và người đứng đầu. Bên cạnh đó, cần phát huy công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên, nhất là những đảng viên đang là cán bộ, lãnh đạo quản lý, đặc biệt ở các địa bàn dễ xảy ra các hiện tượng “tiêu cực” như tham nhũng, lãng phí, khiếu kiện kéo dài,… Đây chính là những cơ sở quan trọng để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống xã hội.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước:
Thực tiễn chỉ ra rằng, sự thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng như khả năng giải quyết các khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển đất nước (như sự tha hóa quyền lực nhà nước) phần lớn được quyết định bởi thể chế, thiết chế thực thi quyền lực nhà nước. Vì vậy, trước tiên phải tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật, chính sách xây dựng hệ thống cơ quan nhà nước chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Trong đó, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân, bảo đảm đúng thực quyền trong thực thi quyền lực nhà nước. Rà soát các quy định pháp luật hiện hành để khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các chủ thể có thẩm quyền nhằm “bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp chính quyền”[4]. Tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng quản lý một nội dung, nhiệm vụ nhưng lại không có cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng nên không hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục đổi mới hoạt động của các cơ quan nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, kiến tạo, liêm chính vì Nhân dân phục vụ. Nghiên cứu cải cách chế độ công vụ để tạo động lực và áp lực cho mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao; có cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan bên trong bộ máy nhà nước:
Để bảo đảm cơ chế thực thi quyền lực nhà nước đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tất cả các cơ quan nhà nước đều phải trở thành đối tượng của sự kiểm tra, giám sát bởi nguy cơ tha hóa quyền lực nhà nước đều có thể xuất hiện ở bất cứ một tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Do đó, cần cụ thể hóa các quy định về cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia xây dựng pháp luật, như trách nhiệm thẩm định của các cơ quan tư pháp, trách nhiệm của cơ quan xây dựng dự thảo, trách nhiệm của cơ quan ban hành. Cá nhân hóa trách nhiệm của các chủ thể liên quan khi văn bản ban hành có vi phạm về tính hợp hiến, hợp pháp; tính thống nhất, kỹ thuật pháp lý[5]. Bảo đảm về pháp lý đối với trách nhiệm nhà nước trên cơ sở bốn trụ cột “trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính dự đoán và sự tham gia”[6]. Bổ sung quy định cụ thể để xác định cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình; qua đó, phát hiện và xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm trong quá trình thực thi công vụ. Đồng thời, nâng cao tính minh bạch trong việc xác lập chứng cứ, công bố án lệ, công khai bản án, quyết định của Tòa án. Xây dựng cơ chế phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Tiếp tục “nghiên cứu thành lập các thiết chế mới về kiểm soát quyền lực[7]” như cơ quan bảo vệ Hiến pháp chuyên trách, độc lập. Ba phương án để lựa chọn có thể là: (i) Tòa án Hiến pháp; (ii) Hội đồng Hiến pháp; (iii) Tòa án tư pháp có chức năng bảo hiến. Tuy có một số khác biệt về thẩm quyền nhưng nhìn chung các cơ quan này sẽ có vai trò quan trọng trong xem xét về tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và xử lý văn bản vi hiến. Đây được coi là cơ chế kiểm soát hiệu quả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tránh những hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thông qua hoạt động xây dựng pháp luật cũng như các hoạt động khác trong quá trình thi hành công vụ.
Thứ tư, phát huy hơn nữa vai trò của cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài bộ máy nhà nước:
Kiểm soát thực hiện quyền lực từ bên ngoài đối với chính quyền địa phương được thực hiện bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và người dân. Phát huy vai trò của các thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước là huy động sức mạnh to lớn của toàn dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, cần thể chế hóa phạm vi quyền lãnh đạo của Đảng cũng như quy định cụ thể nội dung, trình tự giám sát xã hội, phản biệt xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với chính quyền các cấp. Đồng thời, phải tạo lập môi trường pháp lý không có vùng cấm để các cơ quan truyền thông đấu tranh phòng, chống các hành vi tha hóa quyền lực nhà nước cũng như tiếp tục luật hóa các quyền dân chủ trực tiếp của công dân với tư cách là phương tiện để công dân trực tiếp thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước như: “Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”[8]. Mặt khác, cần thực hiện tốt các biện pháp để bảo vệ người phát hiện, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật từ phía các chủ thể có thẩm quyền. Tăng cường tạo các điều kiện hỗ trợ về nhân lực, điều kiện vật chất, tài chính trong hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như các cơ quan báo chí nhằm nâng cao vai trò đối với công tác phòng, chống những hành vi tham nhũng, lạm quyền, tha hóa từ phía đội ngũ cán bộ, công chức.
Thứ năm, bảo đảm sự phối hợp hiệu quả của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước:
Các thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước không tồn tại một cách độc lập mà thay vào đó luôn có sự phối hợp, tương trợ chặt chẽ với nhau trong quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước. Do đó, phải ghi nhận và quán triệt sự phối hợp giữa Quốc hội, Hội đồng nhân dân với các tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác giám sát theo hướng trọng điểm, chuyên sâu. Kết hợp giữa thanh tra chuyên ngành, thanh tra hành chính cùng các hoạt động thanh tra, kiểm tra thuộc chính quyền các cấp để khắc phục tình trạng một đối tượng bị quá nhiều cơ quan thanh tra, kiểm tra cùng một lúc gây ảnh hưởng đến tiến độ công việc. Tăng cường sự phối hợp giữa hoạt động kiểm tra của Đảng và giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động thực thi quyền lực của các cơ quan có thẩm quyền nhằm “tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả”[9]. Bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động kiểm toán độc lập và hoạt động của các cơ quan tố tụng trong xử lý các vụ án về kinh tế, chức vụ. Thông qua đó, sẽ góp phần khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo về chức năng ở một số cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức thành viên nhằm thực hiện tốt phương châm “tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”[10].
Kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước xuất phát từ bản chất quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, từ việc bảo đảm mục đích quyền lực nhà nước mà Nhân dân đã ủy quyền, từ điều kiện đặc thù Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ tiếp thu có chọn lọc và vận dụng phù hợp những kinh nghiệm thực tiễn kiểm soát quyền lực trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nhà nước pháp quyền tiền lệ. Vì vậy, với tinh thần thượng tôn pháp luật, cơ chế về kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước cần tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới. Từ đó, sẽ góp phần thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
ThS. Lại Sơn Tùng
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[3]. TS. Đặng Đình Tân, TS. Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên) (2012), Thể chế Đảng cầm quyền - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 102.
[4]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[5]. Học viện Chính trị khu vực I (2019), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nội luật hóa điều ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam hiện nay”, Chủ nhiệm: Trần Thị Thanh Mai, Hà Nội, tr. 83.
[6]. S. Chiavo - Campo và P.S.A. Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 12.
[7]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[8]. Điều 25 Hiến pháp năm 2013.
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 190.
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 190.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 389), tháng 9/2023)