Thứ ba 08/09/2026 17:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát triển đội ngũ giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu giám định trong hoạt động tố tụng

Việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp, rà soát và công bố người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được thực hiện theo quy định tại Điều 7 và khoản 1 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2012.

Theo đó, công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp: Có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên. Trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn từ đủ 03 năm trở lên; người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự phải có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định.

Việc rà soát và công bố người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được Luật Giám định tư pháp giao cho các bộ, ngành chủ quản và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cụ thể: Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bộ, cơ quan ngang bộ khác và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lựa chọn, lập và hằng năm công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để đáp ứng yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng. Danh sách kèm theo thông tin về chuyên ngành giám định, kinh nghiệm, năng lực của người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để lập danh sách chung. Như vậy, theo quy định này thì hàng năm ở trung ương các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ở địa phương các sở, ngành thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ tiến hành bổ nhiệm, rà soát, lập, công bố danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp đăng trên cổng thông tin của bộ, ngành và Ủy ban nhân dân câp tỉnh đồng thời gửi Bộ Tư pháp để lập danh sách chung trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (chuyên mục Giám định tư pháp tại Trang thông tin bổ trợ tư pháp: bttp.moj.gov.vn).

Nhìn chung, cho tới nay, đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tất cả giám định viên tư pháp được bổ nhiệm đều có trình độ đại học trở lên, đối với giám định viên pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự phải có chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giám định trước khi được bổ nhiệm, nhiều giám định viên tư pháp có trình độ sau đại học. Người giám định tư pháp theo vụ việc được rà soát, ra quyết định công bố đều là những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt, có thể đảm đương được hầu hết các vụ việc giám định theo yêu cầu của cơ quan tố tụng. Các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc cũng được quan tâm rà soát và công bố hàng năm, góp phần giúp các cơ quan tố tụng có đưa ra lựa chọn trưng cầu khi cần thiết.

Theo thống kê, lĩnh vực giám định được trưng cầu chủ yếu là pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự (chiếm 90%); các lĩnh vực giám định về xây dựng, tài chính, ngân hàng, thông tin và truyền thông, kế hoạch và đầu tư... có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây; lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương... cũng có nhưng thấp; nhu cầu giám định trong giao dịch dân sự do đương sự tự yêu cầu giám định chưa phổ biến, phát sinh chủ yếu ở lĩnh vực pháp y tâm thần, chuyên ngành dấu vết tài liệu trong kỹ thuật hình sự, xây dựng...

Bên cạnh những kết quả đạt được như: Số lượng người giám định tư pháp tăng cao cả về số lượng và lĩnh vực giám định (hầu hết các lĩnh vực đều có người giám định tư pháp được rà soát và công bố), trình độ chuyên môn của người giám định tư pháp được cải thiện và nâng lên đáng kể, công tác tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định đã đáp ứng được cho hoạt động tố tụng... thì việc củng cố, phát triển đội ngũ cá nhân, tổ chức giám định tư pháp vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng, cụ thể:

Thứ nhất, việc bổ nhiệm giám định viên tư pháp; lập và đăng tải danh sách người giám định tư pháp của các bộ, ngành chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vẫn chưa thực sự kịp thời, danh sách đội ngũ người làm giám định tư pháp được lập nhiều khi không sát với thực tế, chưa thực sự bảo đảm chất lượng, chưa sát với nhu cầu của hoạt động tố tụng, một phần nguyên nhân vì thiếu thông tin, số liệu cụ thể từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiện nay, công tác rà soát, bổ nhiệm và công bố danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp đang thực hiện theo quy trình các tổ chức công lập bổ nhiệm giám định viên tư pháp thì áp dụng theo quy định của Điều 7 Luật Giám định tư pháp năm 2012; các bộ, ngành không có tổ chức giám định tư pháp công lập thì lập danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc căn cứ vào quy định tại Điều 18 Luật Giám định tư pháp năm 2012 và thông tư của bộ, ngành mình quy định về tiêu chuẩn, trình tự bổ nhiệm giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc. Như vậy, hiện nay, hầu hết các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đang thực hiện quy trình nêu trên theo hình thức cán bộ, công chức nào đủ điều kiện là bổ nhiệm hoặc đưa vào danh sách rà soát, công bố chung hàng năm. Tổ chức nào đủ điều kiện theo quy định thì có thể được công bố là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc. Bên cạnh đó, cơ quan tố tụng với vai trò là bên sử dụng kết luận giám định có quyền và nghĩa vụ phải đưa ra đánh giá về việc sử dụng kết luận giám định (kết luận nào rõ ràng, tiệm cận gần nhất tới kết quả vụ án, kết luận nào còn chung chung, né tránh, chưa thực sự đầy đủ...); thống kê, dự báo nhu cầu về người và lĩnh vực cần giám định để các bộ, ngành chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể căn cứ vào nội dung dự báo đó để tiếp tục bổ nhiệm, rà soát, lập và đăng tải danh sách tổ chức, cá nhân giám định tư pháp cho phù hợp. Hiện nay, nhiệm vụ này mặc dù đã được giao cho cơ quan tố tụng nhưng chưa được quan tâm thực hiện kịp thời.

Thứ hai, phần lớn đội ngũ người làm giám định tư pháp tại một số lĩnh vực ngoài các lĩnh vực có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách chưa được các bộ, ngành chủ quản đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về giám định chuyên ngành, mà chủ yếu dựa vào kiến thức chuyên môn thuần túy để vận dụng vào thực hiện giám định, nên còn khá lúng túng, khó khăn khi thực hiện giám định. Các giám định viên kiêm nhiệm thì chủ yếu làm công tác chuyên môn do cơ quan chủ quản phân công, không đủ thời gian và điều kiện tập trung vào công tác giám định khi có yêu cầu. Nhiều trường hợp người giám định tư pháp chưa được sự hỗ trợ từ phía cơ quan, người quản lý và có tâm lý e ngại, không muốn làm giám định vì trách nhiệm pháp lý rất cao[1], trong khi các điều kiện để thực hiện giám định chưa bảo đảm. Nội dung này cũng là khó khăn chung của người giám định tư pháp trên toàn quốc. Hầu hết, người giám định tư pháp đều kiến nghị Sở Tư pháp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp lý và nghiệp vụ giám định tư pháp nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên sâu về giám định tư pháp. Tuy nhiên, khi Cục Bổ trợ tư pháp (cơ quan giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác giám định tư pháp) tổ chức thì rất nhiều địa phương lại không cử người đi, có thể do công việc chuyên môn quá bận hoặc lãnh đạo sở, ngành chưa thực sự thấy việc bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ về giám định tư pháp là cần thiết. Có trường hợp cơ quan trưng cầu giám định ra quyết định trưng cầu giám định nhưng nhiều tháng sau, bộ, ngành chủ quản chưa cử được giám định viên hoặc đưa ra các lý do không chính đáng để từ chối cử giám định viên, đùn đẩy trách nhiệm khiến cơ quan điều tra phải nhiều lần ra văn bản yêu cầu[2]. Bỏ qua các lý do về công tác phối hợp và ý chí chủ quan muốn đùn đẩy, né tránh của cơ quan được trưng cầu, thì việc tìm kiếm, lựa chọn người giám định nào là phù hợp để có thể đảm đương được vụ việc giám định do cơ quan tố tụng trưng cầu đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có một số bộ, ngành cũng đã từng có ý kiến tại các cuộc họp liên ngành, thậm chí ý kiến bằng văn bản rằng khi có trưng cầu của cơ quan tố tụng, đặc biệt là những vụ việc có tính chất phức tạp, họ thường xuyên phải rà soát và lựa chọn rất “đau đầu” mới có thể tìm ra người phù hợp để thực hiện giám định, bởi dù đã tìm ra người có kinh nghiệm chuyên môn tốt nhưng kinh nghiệm giám định về lĩnh vực đó lại chưa nhiều càng khiến cho cơ quan chủ quản phải thận trọng cân nhắc, đánh giá vì những người giám định tư pháp phải chịu trách nhiệm cá nhân tới cùng như phân tích ở trên. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra tâm lý lo ngại, sợ rủi ro khi kết luận giám định ở một số lĩnh vực phức tạp hiện nay như tài chính, ngân hàng, tài nguyên - môi trường, thuế...

Thứ ba, tại Điều 10 Luật Giám định tư pháp năm 2012 quy định các trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp, tuy nhiên, không quy định trường hợp miễn nhiệm do chuyển công tác đến đơn vị khác và không còn thực hiện hoạt động giám định hoặc trường hợp giám định viên tư pháp nếu là công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng có quyết định nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hoặc thôi việc thì họ phải có đơn đề nghị miễn nhiệm gửi cơ quan chủ quản dẫn đến số lượng giám định viên tư pháp theo thống kê hằng năm không phản ánh đúng số lượng giám định viên đang hoạt động thực tế tại bộ, ngành và địa phương...

Vậy làm thế nào để công tác bổ nhiệm, lập, công bố danh sách tổ chức, cá nhân giám định tư pháp có thể có đóng góp tích cực vào việc củng cố và tăng cường đội ngũ giám định tư pháp đồng thời khắc phục triệt để được các hạn chế nêu trên? Trên thế giới, một số nước (như Đức, Pháp, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Trung Quốc...) đã tiến trước chúng ta một bước, công tác rà soát, bổ nhiệm và phát triển tổ chức, cá nhân giám định tư pháp của họ đã khắc phục những hạn chế mà Việt Nam đang gặp phải bằng việc thay đổi quy trình bổ nhiệm, công nhận giám định viên tư pháp của họ đều phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng. Hàng năm, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có đánh giá và dự báo về nhu cầu giám định ở từng lĩnh vực giám định. Trên cơ sở đó, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận giám định viên tư pháp sẽ xác định số lượng giám định viên cần bổ nhiệm hoặc công nhận và tiến hành các công việc cần thiết cho việc tìm kiếm, lựa chọn các nhà chuyên môn để có thể bổ nhiệm hoặc công nhận cho phù hợp với đánh giá và dự báo nêu trên của cơ quan tố tụng. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận giám định viên được tiến hành rất chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng giám định viên. Áp dụng quy trình nêu trên sẽ khiến cho số lượng giám định viên mới được bổ nhiệm, người giám định tư pháp được rà soát, công bố luôn sát với thực tế của nhu cầu tố tụng. Nói một cách đơn giản là cơ quan tố tụng muốn tăng người giám định ở đâu, giảm ở đâu, nâng cao chất lượng đội ngũ này như thế nào thì cần phải đưa ra yêu cầu của mình, căn cứ vào yêu cầu đó, cơ quan, tổ chức mới có thể bổ nhiệm hoặc rà soát cho phù hợp. Đặc biệt, để tránh tình trạng như hiện nay các bộ, ngành ở trung ương và Ủy ban nhân cấp tỉnh hằng năm đều bổ nhiệm rất nhiều nhưng khi cần tìm thì vẫn không ra được người phù hợp, rồi tình trạng cơ quan tố tụng ở địa phương mặc dù số lượng người được rà soát, công bố khá nhiều nhưng không đáp ứng được cho hoạt động tố tụng nên chỉ tập trung trưng cầu một số bộ, cơ quan ngang bộ, gây quá tải cho các cơ quan này khiến cho thời gian thực hiện giám định bị kéo dài... Ở một số nước, mặc dù có sự khác nhau về cách thức, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận, ghi danh giám định viên giữa các nước nhưng các tiêu chí, điều kiện để trở thành người giám định của các nước về cơ bản là giống nhau.

Căn cứ vào một số khó khăn, vướng mắc trong công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm, rà soát và công bố tổ chức, cá nhân giám định tư pháp nêu trên, Điều 10 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020 đã bổ sung một số trường hợp miễn nhiệm nhằm giúp cho số lượng giám định viên tư pháp được thống kê hằng năm sẽ phản ánh đúng số lượng giám định viên đang hoạt động thực tế tại bộ, ngành và địa phương. Điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020 quy định cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thay vì chỉ lập và công bố danh sách như hiện nay. Các quy định này nhằm chuẩn hóa đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp. Tiếp đó, tại Tờ trình số 51/TTr-BTP ngày 27/8/2020 của Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp, Bộ Tư pháp cũng đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo một số nhiệm vụ:

Một là, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành văn bản hướng dẫn về căn cứ, cách thức xem xét, đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng (Phần II, Mục 3). Căn cứ đánh giá này của Tòa án nhân dân tối cao, các cơ quan có liên quan mới có cơ sở để có thể tiến hành các bước nhằm củng cố, phát triển đội ngũ người làm giám định tư pháp, gắn hoạt động bổ nhiệm, rà soát, công bố, đăng tải danh sách tổ chức, cá nhân giám định tư pháp với hoạt động tố tụng, giảm thiểu việc trưng cầu ở địa phương đổ dồn về các bộ, ngành ở trung ương.

Hai là, đối với nhiệm vụ củng cố, phát triển đội ngũ cá nhân, tổ chức giám định tư pháp theo hướng gắn với nhu cầu giám định thực tế của hoạt động tố tụng (rà soát, đổi mới quy trình bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp và công nhận, đăng tải danh sách người, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; rà soát, cập nhật danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp) thì các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp số liệu, dự báo nhu cầu giám định cho các cơ quan quản lý giám định tư pháp cùng cấp làm cơ sở cho việc rà soát, củng cố đội ngũ cá nhân, tổ chức giám định tư pháp.

Ba là, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện rà soát, củng cố đội ngũ cá nhân, tổ chức giám định tư pháp theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020.

Hy vọng rằng, sau khi Kế hoạch triển khai thi hành Luật được ban hành, cùng với sự nỗ lực của các bộ, ngành và địa phương công tác bổ nhiệm, lập và công bố danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp sẽ thực sự gắn với nhu cầu của hoạt động tố tụng; sẽ không còn tình trạng giám định viên tư pháp, người giám định theo vụ việc được bổ nhiệm nhưng cả đời công chức, viên chức của mình không được lựa chọn để thực hiện một vụ việc giám định nào.

Nguyễn Thị Tú Quyên

Cục Bổ trợ tư pháp





[1]. Người giám định tư pháp có nghĩa vụ: Chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định do mình đưa ra. Trường hợp cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự thật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì còn phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật (điểm g khoản 2 Điều 23 Luật Giám định tư pháp năm 2012).

[2]. Nhận định được đưa ra tại Tọa đàm “Việc thực hiện giám định tư pháp trong trường hợp cần phối hợp nhiều cơ quan, tổ chức”, do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức ngày 21/02/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: