Chủ nhật 17/05/2026 04:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự cần thiết phải bảo vệ người sử dụng lao động trong chế định hợp đồng lao động

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là đảm bảo các quyền và lợi ích mà pháp luật đã quy định cho người sử dụng lao động được thực hiện, không bị các chủ thể khác xâm hại. Pháp luật lao động cũng đã ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong nhiều chế định và bảo vệ họ ở mức độ cần thiết.

Về nội dung, quyền và lợi ích của người sử dụng lao động cũng được đảm bảo trên nhiều lĩnh vực nhưng nhất thiết phải trong khuôn khổ luật định. Khuôn khổ đó đảm bảo cho người sử dụng lao động đạt được mục đích chính đáng của mình ở mức tối đa nhưng không làm phương hại đến người lao động và các chủ thể khác, đến đời sống xã hội và lợi ích chung. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động cũng là cách giải quyết vấn đề lợi ích hợp lý trong xã hội, yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc bảo vệ này mà quan hệ lao động có thể phát triển bền vững, người lao động cũng có điều kiện ổn định việc làm, đảm bảo cuộc sống. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến sự cần thiết phải bảo vệ người sử dụng lao động ở khía cạnh chế định hợp đồng lao động, hay nói cách khác, đó là sự thể hiện của nguyên tắc bảo vệ người sử dụng lao động trong các quy định về hợp đồng lao động thông qua việc phân tích chế định hợp đồng lao động trong hệ thống pháp luật lao động; vai trò quan trọng của người sử dụng lao động trong nền kinh tế; quyền tự do kinh doanh của người sử dụng lao động; địa vị pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động khi giao kết hợp đồng lao động…

Trên cơ sở nguyên tắc bảo vệ người sử dụng lao động được ghi nhận cụ thể tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 2 Điều 57 Hiến pháp năm 2013, các nhà lập pháp đã cụ thể hóa nguyên tắc này vào từng chế định pháp luật, trong đó có chế định hợp đồng lao động. Theo đó, bảo vệ người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong chế định hợp đồng lao động được hiểu là sự thể hiện của nguyên tắc bảo vệ NSDLĐ trong các quy định về hợp đồng lao động. Cụ thể, việc bảo vệ NSDLĐ xuất phát từ các yêu cầu sau đây:

1. Chế định hợp đồng lao động trong hệ thống pháp luật lao động

Xuất phát từ những đặc điểm riêng có của hợp đồng lao động mà chế định hợp đồng lao động có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam. Từ đó, nguyên tắc bảo vệ NSDLĐ được thể hiện trong chế định này.

Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường[1], nó đáp ứng được nguyên tắc “tự do khế ước” của nền kinh tế thị trường và yêu cầu phát triển thị trường lao động. Nội dung của hợp đồng lao động liên quan đến hầu hết các chế định của Bộ luật lao động. Do đó, hợp đồng lao động không chỉ giúp người lao động và NSDLĐ ý thức hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, mà còn hạn chế mâu thuẫn có thể xảy ra giữa các bên. Nếu tranh chấp không thể hòa giải được, hợp đồng lao động cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp[2]. Hợp đồng lao động cũng là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao động. Bởi lẽ, việc ký kết một hợp đồng lao động cụ thể là công việc của từng người lao động và NSDLĐ nhưng lao động lại là vấn đề xã hội, cần có sự quản lý của Nhà nước. Thông qua hợp đồng lao động, Nhà nước có điều kiện thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý của mình.

2. Vai trò quan trọng của người sử dụng lao động trong nền kinh tế

Kinh tế càng phát triển thì khả năng thu hút sức lao động càng cao, với quá trình này, không thể bỏ qua vai trò to lớn của NSDLĐ, bởi cùng với người lao động, NSDLĐ cũng được xác định là lực lượng quan trọng để phát triển đất nước. Hiện nay, quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế ở nước ta tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu lao động[3]. Trong quá trình này rất khó thực hiện được nếu không có sự đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ, bởi lẽ, NSDLĐ chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách. Đặc biệt, trên cơ sở những giá trị kinh tế được tạo ra, NSDLĐ còn góp phần quan trọng vào sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, công nghệ của đất nước, tạo nguồn nhân lực chất lượng hơn để phát triển bền vững. Không chỉ vậy, NSDLĐ còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống xã hội. Điều này được thể hiện bằng việc NSDLĐ chính là lực lượng chủ yếu tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết hiệu quả nạn thất nghiệp[4]. Đồng thời, họ cũng sử dụng một phần lợi nhuận của mình để thực hiện trách nhiệm xã hội (bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng…), góp phần vào sự ổn định và phát triển của quốc gia.

3. Quyền tự do kinh doanh của người sử dụng lao động

Tự do kinh doanh là một trong những quyền con người được ghi nhận trong pháp luật của các nước trên thế giới[5]. Tại Việt Nam, quyền này được ghi nhận tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Trên nền tảng tinh thần về quyền tự do kinh doanh được thừa nhận nêu trên của Hiến pháp, các luật chuyên ngành đã có những quy định cụ thể hóa để vừa khuyến khích, vừa tạo sự yên tâm cho chủ thể tham gia và mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát huy mọi tiềm lực nhằm làm giàu cho chính mình và xã hội. Đây cũng là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới khi thừa nhận quyền thiêng liêng này.

Sử dụng lao động là một hoạt động quan trọng để NSDLĐ thực hiện công việc kinh doanh của mình. Sử dụng lao động hiệu quả là điều kiện tiền đề để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Do đó, để phát triển thêm quyền tự do kinh doanh được thừa nhận nêu trên, Bộ luật Lao động năm 2012 đã quy định về nguyên tắc bảo vệ NSDLĐ nói chung và bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động nói riêng. Trong chế định hợp đồng lao động, nguyên tắc này được hiện bằng quyền chủ động tuyển dụng lao động theo yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo đó, NSDLĐ được tự do giao kết, thực hiện, sửa đổi, bổ sung và tạm hoãn hợp đồng lao động với người lao động. Bên cạnh đó, pháp luật cũng trao cho NSDLĐ quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp nhất định[6] để họ chủ động, linh hoạt hơn trong quá trình sắp xếp lại, đổi mới cơ cấu tổ chức, bộ máy, lực lượng lao động trong đơn vị mình để từ đó khuyến khích hơn hoạt động tự do kinh doanh của công dân và bảo đảm quyền quản lý lao động phù hợp của NSDLĐ.

4. Địa vị pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động khi giao kết hợp đồng lao động

Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường là quan hệ được xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, thỏa thuận và bình đẳng. Trong mối quan hệ này, người lao động và NSDLĐ bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường (lợi nhuận và mất cân đối cung - cầu sức lao động) đã làm mối quan hệ này không thật sự bình đẳng khi người lao động bị đặt trước nguy cơ bị chèn ép, buộc phải chấp nhận những điều kiện lao động không có lợi cho mình[7]. Do đó, pháp luật lao động đã quy định nguyên tắc bảo vệ người lao động để hạn chế xu hướng lạm quyền của NSDLĐ. Cần nhìn nhận vấn đề này ở góc độ toàn diện để thấy rằng, trong nền kinh tế thị trường, mọi thiệt thòi không phải chỉ thuộc về người lao động bởi trường hợp người lao động lợi dụng việc mình được pháp luật ưu tiên bảo vệ để có những hành vi làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế. Khi nền kinh tế thị trường tạo nên nhiều đối tượng lao động và NSDLĐ có quyền tự do lựa chọn lao động phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình thì ở thế ngược lại, sự mở cửa thị trường với nhiều loại việc làm mới xuất hiện, người lao động cũng đứng trước khả năng lựa chọn công việc đa dạng hơn với lương thưởng và nhiều phúc lợi cho người lao động hấp dẫn hơn. Thế nên, việc người lao động sẵn sàng vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng lao động để tìm đến lợi ích lớn hơn là không ít, nhất là khi sự vi phạm này nhận được sự hậu thuẫn từ phía NSDLĐ mới. Khi đó, nguyên tắc bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động thật sự cần thiết để bảo vệ NSDLĐ. Bên cạnh đó, cũng giống như người lao động, pháp luật lao động cũng phải bảo vệ NSDLĐ với tư cách là quyền con người trong lĩnh vực lao động8. Với tư cách là một chủ thể bình đẳng với người lao động và với việc thực thi nguyên tắc “trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng”, pháp luật lao động cần thiết phải bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động bởi đây là bước khởi đầu cho việc tiếp nhận lao động. Có như vậy mới tạo được tâm lý yên tâm của các nhà đầu tư (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) và niềm tin là Nhà nước không “làm ngơ” trước lợi ích của họ, vẫn luôn tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu tư và kinh doanh có hiệu quả.

5. Hoạt động sử dụng lao động phải có sự quản lý và điều hành của người sử dụng lao động

Tuy pháp luật đã có sự thừa nhận quyền tự do kinh doanh và có chính sách tạo điều kiện, khuyến khích NSDLĐ đầu tư sản xuất - kinh doanh để phát triển kinh tế và thu hút lao động, nhưng trong thực tế, NSDLĐ chỉ sử dụng lao động khi việc sử dụng này mang đến lợi nhuận cho họ. Bởi lẽ, lợi nhuận mới là mục đích trực tiếp cuối cùng mà NSDLĐ mong muốn đạt được khi tiến hành hoạt động sử dụng lao động của mình. Để đạt được mục đích trên, NSDLĐ không chỉ đơn thuần phải là người quản lý để đưa ra các quyết định chính xác mà còn phải tự chủ trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, quá trình hoạt động nhằm tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực kinh doanh, tính sáng tạo của mỗi cá nhân9. Điều này đồng nghĩa với việc NSDLĐ phải có quyền quản lý lao động là hợp lý và thiết yếu trong quá trình sử dụng lao động của NSDLĐ. Quyền quản lý lao động của NSDLĐ được hiểu là quyền của NSDLĐ đối với người lao động trong đơn vị sử dụng lao động, trên cơ sở thiết lập công cụ quản lý lao động và tổ chức, thực hiện quản lý lao động theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả lao động[10]. Thực hiện quyền quản lý lao động của mình[11], NSDLĐ sẽ gắn kết được người lao động trong một tập thể thống nhất, làm việc theo kế hoạch định sẵn và những điều kiện lao động do họ đặt ra. Có như vậy mới bảo đảm được năng suất lao động, đem lại hiệu quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy mà quá trình quản lý, điều hành hoạt động sử dụng lao động có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động xản suất, kinh doanh của NSDLĐ. Hoạt động sử dụng lao động có thu được lợi nhuận hay không, kết quả thế nào tùy thuộc phần lớn vào quá trình quản lý và hoạt động sử dụng lao động ấy[12]. Mặt khác, nền kinh tế thị trường tuân thủ quy luật cạnh tranh, nếu không có sự sáng tạo, đổi mới không ngừng trên các lĩnh vực về cơ cấu, công nghệ, phương thức kinh doanh, lực lượng lao động chuyên môn cao, kĩ năng tốt thì NSDLĐ rất dễ bị đào thải khỏi thị trường[13]. Chính những tác động của nền kinh tế đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế để bảo đảm sự tự chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong quan hệ lao động nói chung và trong chế định hợp đồng lao động nói riêng để họ có điều kiện thuận lợi phát triển.

6. Xuất phát từ yêu cầu hội nhập nền kinh tế thế giới

Lao động tuy là vấn đề “phi thương mại” nhưng có liên quan chặt chẽ đến hoạt động thương mại và được đưa vào đàm phán trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Các cam kết về lao động trong TPP[14] và cam kết riêng của Việt Nam với Hoa Kỳ (Kế hoạch Tăng cường thương mại và quan hệ lao động cụ thể trong Khuôn khổ Thư song phương giữa hai bên đi kèm Văn kiện TPP) không đặt ra yêu cầu mới so với trước đây hay quá cao đối với Việt Nam (trừ vấn đề liên quan đến quyền tự do liên kết của người lao động, các vấn đề khác về cơ bản đã được quy định trong pháp luật Việt Nam) nên việc thực thi các cam kết này không phải là thách thức quá lớn và cũng không tạo ra thay đổi thực tế ở Việt Nam. Thế nhưng, với các cam kết theo hướng này, các tiêu chuẩn về lao động của Việt Nam trong tương lai, đặc biệt liên quan tới các quyền tự do của người lao động và điều kiện lao động chỉ tăng thêm chứ không giảm bớt so với hiện tại[15]. Hơn nữa, theo cách tiếp cận chung trong TPP, việc chấp nhận các cam kết về lao động không chỉ đơn thuần bao gồm điều chỉnh pháp luật nội địa cho phù hợp mà còn phải bảo đảm việc thực thi nghiêm túc trong thực tế với các biện pháp trừng phạt khi không bảo đảm thực thi.

Tất cả những điều trên sẽ có tác động trực tiếp đến NSDLĐ. Chẳng hạn, việc đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải duy trì các điều kiện lao động ở cùng tiêu chuẩn tối thiểu với các nước phát triển trong TPP có thể là tác nhân làm tăng chi phí sản xuất, từ đó giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt, với các cam kết riêng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, việc thực thi các cam kết về lao động của Việt Nam được xem là khó khăn hơn bởi cách thức và kết quả thực thi đã được chi tiết hóa và buộc phải tuân thủ (không quy định mang tính khái quát như trong Chương 19 về lao động của TPP), nên nếu Hoa Kỳ đánh giá Việt Nam chưa thực hiện đúng các cam kết này theo cách phù hợp trong vòng 5 đến 7 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực thì biện pháp trừng phạt Việt Nam có thể bị áp dụng là ngừng các nhượng bộ thuế quan, thời hạn cắt giảm hoặc loại bỏ theo cam kết đối với Việt Nam và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi xuất khẩu của NSDLĐ Việt Nam trong lĩnh vực liên quan.

Mặt khác, xuất phát từ thông lệ pháp luật trên thế giới, nhiều quốc gia như Pháp, Đức, Philippines... đã và đang duy trì các quy định hợp lý nhằm bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động, thậm chí coi đây như một yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài. Thế nên, đây cũng là một trong những lý do mà các nhà lập pháp Việt Nam cần xem xét để bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động, để các quy định của pháp luật Việt Nam theo kịp xu hướng chung của thế giới.

Tóm lại, xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan mà bảo vệ NSDLĐ trong chế định hợp đồng lao động là nhu cầu tất yếu hiện nay của Việt Nam. Cần nhận thức sâu sắc những nguyên nhân này để có được định hướng tốt nhất nhằm tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2012 về vấn đề này để tăng cường sự cạnh tranh của NSDLĐ Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, góp phần vào sự sự ổn định và phát triển của quan hệ lao động.

Phan Thông Anh & Vũ Thị Bích Hải

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thúy Hà (2011), “Hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở tại Viện Nghiên cứu lập pháp.

2. Theo Báo cáo công tác Ngành Tòa án của Tòa án nhân dân tối cao, số lượng các vụ tranh chấp lao động đưa đến Tòa án ngày càng tăng, đại đa số các vụ việc tranh chấp lao động mà Tòa án đã thụ lý giải quyết từ năm 1995 đến năm 2014 là tranh chấp lao động cá nhân, chỉ có một vụ tranh chấp lao động tập thể. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, năm 2012 là 3.117 vụ, năm 2013 là 4.470 vụ, năm 2014 là 4.682 vụ. Trong số các vụ án đã thụ lý chủ yếu tập trung vào hai loại việc là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và kỷ luật sa thải. Điều này chứng tỏ tranh chấp lao động về chấm dứt hợp đồng lao động là vấn đề đáng quan tâm trong mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong khi đó, vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có mối liên hệ mật thiết đến hợp đồng lao động. Nói cách khác, hợp đồng lao động là yếu tố quan trọng trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng lao động (nguồn: Thúy Hằng, “Công đoàn tham gia tố tụng tại Tòa án bảo vệ quyền lợi người lao động”, http://www.congdoanvn.org.vn/details.asp?l=1&c=54&m=9016, truy cập 23/4/2016).

3. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm 2016 ước tính là 53,3 triệu người, bao gồm 22,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 42,3% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,0 triệu người, chiếm 24,4%; khu vực dịch vụ 17,8 triệu người, chiếm 33,3% (nguồn: Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí về Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2016”, https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=382&ItemID=15724, truy cập ngày 21/4/2016).

4. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2016 ước tính là 2,23%, trong đó khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,87%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15 - 24 tuổi) quý I ước tính là 6,47%, trong đó khu vực thành thị là 9,51%; khu vực nông thôn là 5,35%. Tỷ lệ thất nghiệp của người từ 25 tuổi trở lên quý I là 1,27%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I ước tính là 1,77%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,77%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25% (nguồn: Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí về Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2016”, https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=382&ItemID=15724, truy cập ngày 21/4/2016).

5. Điều 10 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982 (sửa đổi, bổ sung năm 1999) quy định về việc Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của kinh tế tư nhân, trong đó có các quyền tự do trong quản lý lao động của giới chủ. Điều 37 Hiến pháp Liên bang Nga cũng thể hiện quyền tự do, tự chủ của các bên trong quan hệ lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động và quyền này được cụ thể hóa tại Điều 22 Bộ luật Lao động Liên Bang Nga năm 2001.

6. Đặc điểm của quan hệ lao động là tính chất lâu dài nhưng không phải là vĩnh viễn. Sự siết chặt, ràng buộc người sử dụng lao động phải duy trì một mối quan hệ lao động không còn giá trị sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động trong nền kinh tế ngày càng cạnh tranh gay gắt. Việc bảo vệ người sử dụng lao động càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi nguyên nhân của những vi phạm thỏa thuận đã được xác lập giữa các bên không xuất phát từ phía người sử dụng lao động như trường hợp buộc phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, giảm thiếu lao động hoặc khi nguyên nhân xuất phát từ phía người lao động.

7. Chỉ khi tham gia vào quan hệ lao động thì người lao động và người sử dụng lao động mới có thể đạt được những lợi ích mình mong muốn. Thế nhưng, trong mối quan hệ này, lợi ích các bên mang tính đối nghịch nhau bởi người sử dụng lao động luôn muốn thu lợi nhuận thật nhiều còn người lao động lại luôn mong muốn thu nhập thật cao. Tiền lương của người lao động chính là chi phí sản xuất của người sử dụng lao động. Nếu chi phí sản xuất càng thấp thì lợi nhuận người sử dụng lao động thu được sẽ càng lớn. Trong nền kinh tế thị trường, người sử dụng lao động là người nắm giữ tư liệu sản xuất, nên khi thiết lập hợp đồng lao động họ giữ vị trí chủ động hơn so với người lao động bởi để một quan hệ lao động được thiết lập thì trước tiên người sử dụng lao động phải có nhu cầu về sức lao động với những điều kiện phù hợp để họ duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Vì vậy, người sử dụng lao động có thể tận dụng lợi thế của mình tìm cách chèn ép, bóc lột người lao động nhằm thu lợi ích tối đa.

8. Nếu người lao động được bảo vệ ở khía cạnh bảo vệ sức lao động ở các phương diện việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, thậm chí cả nhu cầu nghỉ ngơi, liên kết và phát triển trong môi trường lao động và xã hội lành mạnh, thì người sử dụng lao động cũng cần được bảo về ở khía cạnh mang tính chất tương ứng để mối quan hệ này luôn được giữ trong trạng thái hài hòa (quyền tuyển dụng, quản lý, điều hành, xử lý kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động… của người sử dụng lao động). Điều đó cũng có nghĩa là người sử dụng lao động phải được bảo đảm cuộc sống, sự hoạt động và phát triển bình thường, lành mạnh của hoạt động sản xuất, kinh doanh khi tham gia vào quan hệ lao động.

9. Nguyễn Thị Diễm (2011), Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong chế định hợp đồng lao động, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5.

10. Đỗ Thị Dung (2013), “Về khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động”, Luật học, 06(157), tr. 15.

11. Nội dung quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động bao gồm nhiều quyền như quyền tuyển chọn, phân công, sắp xếp, điều động, giám sát, khen thưởng, kỷ luật, xử phạt… đối với người lao động. Tuy nhiên, mọi hoạt động thuộc hành vi quản lý của người sử dụng lao động phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật; đồng thời, người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi quản lý lao động của mình (nguồn: Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, tr. 70 - 71).

12. Nguyễn Thị Diễm (2011), Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong chế định hợp đồng lao động, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5.

13. Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013), Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, tr. 31.

14. Chương 19 về lao động trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) không đặt ra các tiêu chuẩn lao động mới mà chủ yếu viện dẫn tới các tiêu chuẩn lao động trong Tuyên bố 1998 của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động. Theo đó, TPP yêu cầu các nước thành viên phải bảo đảm trong pháp luật và thực tiễn của Việt Nam các nguyên tắc về quyền lao động thuộc 2 nhóm sau đây: (i) Nhóm các nguyên tắc trong Tuyên bố 1998 của ILO; (ii) Nhóm các nguyên tắc về điều kiện lao động “chấp nhận được” (bao gồm các quy định về lương tối thiểu, giờ làm việc, các vấn đề về an toàn lao động và sức khỏe của người lao động).

15. Trung tâm WTO và Hội nhập (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) - Nguyễn Thu Trang (Chủ biên) (2016), Cẩm nang doanh nghiệp - Tóm lược Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nxb. Công thương, tr. 139.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: