Thứ tư 04/03/2026 01:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận như khái niệm, quan điểm và yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Abstract: The article studies and analyzes a number of theoretical issues such as concepts, viewpoints and requirements for the team of local public servants and judicial officials in the current context. On that basis, the article proposes a number of solutions to improve the effectiveness of building a team of civil servants and local judicial officials to meet the requirements of national development in the new era.

Đặt vấn đề

Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, tất yếu có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới; nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị hiện đại, minh bạch, vì sự phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới[1].

Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn nhằm phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định sự thành công của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hiện nay.

1. Một số vấn đề về công chức, viên chức tư pháp địa phương

1.1. Quan điểm về công chức, viên chức tư pháp địa phương

Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Theo đó, đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương được tổ chức, bố trí phù hợp. Vì thế, có thể xác định, đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương gồm các đối tượng: công chức tư pháp thuộc Sở Tư pháp (cấp tỉnh), công chức tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (cấp cơ sở) và viên chức tư pháp thuộc đơn vị sự nghiệp của Sở Tư pháp.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức năm 2025, có thể hiểu, công chức tư pháp địa phương là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019[2]), có thể hiểu, viên chức tư pháp địa phương là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Như vậy, về cơ bản, công chức, viên chức tư pháp địa phương là những người trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện, giúp việc về công tác tư pháp tại cấp tỉnh và cấp xã, gồm: công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở; hộ tịch; quốc tịch; nuôi con nuôi; luật sư, tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; công chứng, chứng thực; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; thừa phát lại; đăng ký biện pháp bảo đảm; bồi thường nhà nước; pháp chế; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

1.2. Một số yêu cầu đặt ra đối với công chức, viên chức tư pháp địa phương trong giai đoạn mới

Về quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và công chức, viên chức tư pháp địa phương nói riêng trong giai đoạn hiện nay, cần xác định: “cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”, “quyết định mọi việc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[3], là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đang đặt ra cấp thiết[4].

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về các yêu cầu đặt ra đối với cán bộ trong giai đoạn cách mạng mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, có thể xác định một số yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương như sau:

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Có bản lĩnh, quyết tâm cao, sẵn sàng dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân. Dám đi đầu, đổi mới, loại bỏ cái cũ, cái lạc hậu; khơi thông điểm nghẽn, giải quyết vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; giải quyết những vấn đề sai sót tồn đọng, kéo dài hoặc đột phá đối với những vấn đề mới chưa có quy định hoặc quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, khó thực hiện[5]. Mỗi công chức, viên chức tư pháp địa phương phải là những người luôn gương mẫu, đi đầu trong chấp hành và tuân thủ pháp luật, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp, pháp luật[6]. Đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của ngành, địa phương[7].

Thứ hai, về năng lực công tác: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải có năng lực cụ thể, tổ chức thực hiện, đưa chủ trương chiến lược của Đảng vào thực tiễn địa phương (chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển hạ tầng chiến lược, cải cách triệt để thủ tục hành chính…)[8]; có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo, có khả năng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, có khả năng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc chuyên môn, có khả năng đáp ứng được mọi yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ công tác trong bối cảnh hiện nay.

Thứ ba, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải là những người có đủ trình độ, kiến thức pháp luật để giải quyết công việc chuyên môn, trong đó, trình độ chuyên môn về pháp luật là điều kiện tiên quyết; đồng thời, có kiến thức cần thiết và am hiểu các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, ngoại ngữ và có kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước.

Thứ tư, về trách nhiệm nghề nghiệp: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải là những người có trách nhiệm cao với nghề nghiệp; luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức vì nhiệm vụ công tác, không ngừng nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chuyên môn; luôn biết đặt lợi ích chung lên hàng đầu, luôn đặt danh dự và uy tín nghề nghiệp lên trên để phục vụ, cống hiến cho sự nghiệp chung.

Thứ năm, về tinh thần, thái độ phục vụ Nhân dân: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải đặt lợi ích của Nhân dân, của dân tộc lên trên hết, phải tuân thủ pháp luật, giữ gìn và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật. Theo đó, trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao, công chức, viên chức tư pháp địa phương cần chủ động, tích cực góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vì Nhân dân, vì sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Thường xuyên tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân để thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành thói quen, lối sống trong cộng đồng dân cư ở địa phương. Ưu tiên giải quyết các công việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Chủ động, tích cực giúp đỡ, hỗ trợ cho người dân thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội. Trong mọi tình huống, cần đặt lợi ích của Nhân dân lên hàng đầu, coi việc phục vụ Nhân dân là việc làm quan trọng, thiết thực nhất.

Thứ sáu, về quan hệ phối hợp trong công tác: công chức, viên chức tư pháp địa phương phải luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phối hợp và chủ động thực hiện tốt phần việc của mình, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Trong quan hệ phối hợp với đồng nghiệp, cần chủ động đề xuất, đóng góp ý kiến, chia sẻ thông tin, tài liệu và sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp khi cần thiết; biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp. Trong quan hệ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan, cần phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, mềm mỏng, hướng dẫn, giải thích cụ thể về các vấn đề được chủ trì, tránh cứng nhắc, máy móc, đồng thời, cần xây dựng văn hóa phối hợp tích cực, chủ động, tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc để tạo môi trường làm việc hiệu quả, gắn kết.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trước bối cảnh mới, để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện tổng thể các giải pháp, trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, xây dựng đề án vị trí việc làm chi tiết, cụ thể đối với từng công chức, viên chức tư pháp địa phương. Theo đó, Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã cần xây dựng và xác định rõ vị trí việc làm đối với mỗi công chức, viên chức làm công tác tư pháp thuộc phạm vi, trách nhiệm quản lý của mỗi cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp địa phương được pháp luật quy định và căn cứ tình hình thực tế biên chế công chức, viên chức làm công tác tư pháp được giao, Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng đề án vị trí việc làm phù hợp, trong đó, cần xác định cụ thể, chi tiết các vị trí công việc trong Sở Tư pháp, trong mỗi phòng chuyên môn, mỗi đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp và trong Ủy ban nhân dân cấp xã cũng như trong mỗi phòng, bộ phận thực hiện chức năng, nhiệm vụ tư pháp cấp xã. Đặc biệt, đề án vị trí việc làm cần mô tả cụ thể công việc, yêu cầu năng lực và cơ cấu tổ chức bên trong từng phòng, bộ phận, trong đó cần bảo đảm sự phù hợp giữa công việc và người thực hiện, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và quản lý nguồn nhân lực.

Hai là, chú trọng và làm tốt công tác tuyển dụng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ vào số lượng biên chế công chức, viên chức làm công tác tư pháp được giao, trên cơ sở đề án vị trí việc làm được phê duyệt, xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức, viên chức làm công tác tư pháp phù hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị. Mục tiêu của việc tuyển dụng là lựa chọn được những công chức, viên chức làm công tác tư pháp địa phương đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác, vị trí việc làm, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm cũng như tinh thần phục vụ trước những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn. Hình thức tuyển dụng cần được đa dạng hóa, có thể thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển, phỏng vấn trực tiếp… Bên cạnh đó, cần đề ra các tiêu chí ưu tiên, cơ chế đãi ngộ để thu hút được người tài vào làm công tác tư pháp ở địa phương.

Ba là, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương; cần xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương, phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn hiện nay. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần đa dạng, phong phú, thiết thực nhằm tăng cường toàn diện kiến thức về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, ngoại ngữ; đồng thời, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ Nhân dân cho đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng cần thường xuyên được đổi mới, đa dạng hóa để nâng cao chất lượng, hiệu quả, trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng.

Bốn là, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch trong quá trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Theo đó, công tác quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương cần được đặt trong tổng thể lợi ích chung của ngành và địa phương. Công tác tổ chức phải xác định được các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, rõ ràng. Mọi quy trình trong công tác tổ chức cán bộ cần được thực hiện công tâm, khách quan, công khai, minh bạch. Mục tiêu quan trọng là xây dựng được những nhân tố phù hợp, chuyên nghiệp, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thực tiễn đặt ra.

Năm là, sắp xếp, bố trí vị trí, chức vụ công tác đối với công chức, viên chức tư pháp địa phương thực sự khoa học, phù hợp, đặc biệt là người đứng đầu và lãnh đạo cơ quan, đơn vị, bộ phận. Theo đó, cần thực hiện triệt để các quan điểm, nội dung chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, bố trí vị trí, chức vụ công tác cho đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) xác định rõ: “các cấp ủy địa phương quan tâm phân công cấp ủy viên phụ trách công tác tư pháp và cơ cấu Giám đốc Sở Tư pháp tham gia cấp uỷ cấp tỉnh; có cơ chế điều động, luân chuyển cán bộ, công chức của Bộ, ngành Tư pháp đi địa phương và làm việc ở bộ, ngành Trung ương để bổ sung kinh nghiệm thực tiễn”. Trước hết, đối với những vị trí, chức vụ của người đứng đầu và lãnh đạo cơ quan, đơn vị, bộ phận như giám đốc sở, phó giám đốc sở; trưởng, phó phòng chuyên môn; trưởng, phó các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp ngoài những tiêu chuẩn, điều kiện chung theo quy định về trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cần có những tiêu chuẩn, điều kiện bắt buộc như phải có trình độ chuyên môn về pháp luật, không bố trí những người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực khác vào những chức danh chủ chốt. Đối với các vị trí khác, cần sắp xếp, bố trí theo đúng vị trí việc làm xác định trong đề án được phê duyệt, đồng thời, cần sắp xếp, bố trí theo trình độ, năng lực, sở trường công tác của mỗi công chức, viên chức nhằm phát huy tối đa hiệu quả, chất lượng công việc.

Sáu là, xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ thích hợp, tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ đối với đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Cần có cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng, thi hành pháp luật, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số[9]. Căn cứ tình hình thực tiễn và nguồn lực của mỗi địa phương, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với đội ngũ công chức, viên chức làm công tác tư pháp địa phương thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân như xây dựng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thi hành pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý xử lý vi phạm hành chính; trợ giúp pháp lý. Đồng thời, xây dựng và thực hiện giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tư pháp địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW. Theo đó, cần thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật. Có cơ chế, chính sách thu hút, tiếp nhận những người có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc về công tác tư pháp nói chung, các chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi, những người tài, người có đủ tâm, đủ tầm vào làm công tác tư pháp địa phương[10]. Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào làm công tác tư pháp địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, cần có chính sách đặc thù thu hút những nhà khoa học, các chuyên gia có trình độ cao về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo trong công tác tư pháp địa phương nhằm tạo chuyển biến sâu sắc và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới[11]. Bảy là, thường xuyên rà soát, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức, viên chức làm công tác tư pháp địa phương. Kiên quyết loại ra khỏi bộ máy những cá nhân không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới. Việc rà soát, đánh giá phải dựa trên tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, rõ ràng, minh bạch và phải được tiến hành công tâm, khách quan, vô tư. Bên cạnh đó, cần kịp thời động viên, khuyến khích, khen thưởng những cá nhân, tập thể có sáng kiến đổi mới sáng tạo, áp dụng khoa học, công nghệ nâng cao hiệu năng, hiệu quả trong công tác tư pháp địa phương, có đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Kết luận

Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới là yêu cầu cấp bách gắn liền với cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của Việt Nam hiện nay. Theo đó, cũng đặt ra những yêu cầu rất cao đối với đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương. Việc triển khai đồng bộ một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương về cả chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất, đạo đức công vụ. Đội ngũ công chức, viên chức tư pháp địa phương được xây dựng trên quan điểm toàn diện là “chìa khóa” để nâng tầm vị trí, vai trò của ngành Tư pháp Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.

TS. Nguyễn Tuấn An

Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ

(Ảnh: Internet)

[1]. Tổng Bí thư Tô Lâm, Chuyên đề về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp 3) ngày 31/10/2024.

[2]. Được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019.

[3]. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2002, Tập 5, tr. 269 - tr. 273.

[4]. Tổng Bí thư Tô Lâm, Chuyên đề về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tlđd.

[5]. Tổng Bí thư Tô Lâm, Chuyên đề về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tlđd.

[6]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[7]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW).

[8]. Tổng Bí thư Tô Lâm, Chuyên đề về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tlđd.

[9]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[10]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[11]. Nghị quyết số 57-NQ/TW.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp, truy cập ngày 30/7/2025.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2021.

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2000.

4. PGS. TS. Trương Thị Hồng Hà, Xây dựng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp để hoàn thiện nền tư pháp Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, số 566 (4-2025).

5. PGS. TS. Hoàng Phúc Lâm, Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, Tạp chí Tổ chức nhà nước (điện tử), truy cập ngày 30/7/2025.

6. Tổng Bí thư Tô Lâm, Chuyên đề về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp 3) ngày 31/10/2024.

7. Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Tư pháp, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, truy cập ngày 30/7/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (434) tháng 8/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: