Thứ bảy 30/05/2026 01:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: thông báo thi hành án; đương sự; chấp hành viên; thi hành án dân sự; hoàn thiện pháp luật.

Abstract: Notice of judgment enforcement is an indispensable procedure in each stage of the process of organizing civil judgment enforcement. However, the current law on notice of judgment enforcement still has some shortcomings and limitations such as the lack of correspondence between the rights and obligations of the parties, between the responsibilities and powers of the civil judgment enforcement agency, enforcement officers and is mainly implemented in the form of direct notification... The article analyzes the applicable law and enforcement practice, thereby proposing to improve the legal provisions related to notice of judgment enforcement to suit the reality, meeting the requirements of building and completing the Socialist rule of law State of Vietnam in the current period.

Keywords: Notice of judgment enforcement of; parties; enforcement officer; civil judgment enforcement; completing the law.

Đặt vấn đề

Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong suốt quá trình tổ chức thi hành án dân sự, từ khi ra quyết định thi hành án, tổ chức cho các đương sự thỏa thuận việc thi hành án, thực hiện các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án cho đến khi kết thúc việc thi hành án. Trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008[1] có gần một nửa số điều, khoản quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự[2], được chia thành 11 nhóm quyền với 03 nhóm nghĩa vụ của người được thi hành án, 08 nhóm quyền với 04 nhóm nghĩa vụ của người phải thi hành án. Đối với quy định về thông báo thi hành án, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có 27 điều, khoản[3], chiếm gần 1/3 số điều, khoản quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, trong đó, hầu hết quy định về quyền của đương sự về thông báo thi hành án.

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 dành nhiều điều, khoản quy định về quyền của đương sự nhưng thực tiễn thi hành các quy định này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà còn đến việc bảo đảm thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan.

1. Quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân

1.1. Nguyên tắc “cân bằng” về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong Hiến pháp và pháp luật dân sự

Việc quy định cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức là yếu tố rất quan trọng, vừa là điều kiện bảo đảm, vừa là nguyên tắc cơ bản để xây dựng chế định pháp luật chặt chẽ, khả thi và ổn định. Điều này được thể hiện và quy định cụ thể tại Hiến pháp và một số đạo luật cơ bản.

Trước hết, Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) quy định các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, Điều 14, Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác, công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.

Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 là đạo luật quan trọng, điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản của xã hội. Ở Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật, mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; ở chiều ngược lại, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự (Điều 2, Điều 3).

Trong lĩnh vực tố tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025) quy định đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng; đương sự có trách nhiệm sử dụng quyền của mình một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật.

Như vậy, từ quy định của các đạo luật cơ bản cho thấy, quyền của tổ chức, cá nhân sẽ được bảo đảm khi nghĩa vụ tương ứng của tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện; ngược lại, khi tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật sẽ là cơ sở để bảo đảm quyền tương ứng của tổ chức, cá nhân có liên quan.

1.2. Quy định pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án

Đương sự theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự bao gồm tổ chức, cơ quan, cá nhân được hưởng quyền, lợi ích trong các bản án, quyết định được thi hành hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành[4].

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật quy định đương sự được quyền “rất rộng” về thông báo thi hành án, điều này đồng nghĩa với việc chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm “rất lớn” trong việc bảo đảm quyền của đương sự về thông báo thi hành án. Trong khi đó, pháp luật chỉ quy định đương sự có nghĩa vụ thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có sự thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.

Trong từng khâu, từng bước, từng thủ tục khi giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải thông báo cho đương sự, bảo đảm đủ nội dung, đúng yêu về cầu hình thức và trong thời hạn quy định.

- Về nội dung thông báo: theo quy định pháp luật hiện hành, đương sự được thông báo về các quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án và theo quyết định thi hành án; thời gian, địa điểm, nội dung các buổi làm việc trong quá trình giải quyết việc thi hành án; kết quả xác minh sau 02 lần mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành; việc cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản thi hành án; kết quả thẩm định giá tài sản thi hành án; kết quả đấu giá tài sản thi hành án, kể cả trong trường hợp đấu giá không thành; việc giao tài sản, trả lại tiền, tài sản tạm giữ, việc nhận tiền thi hành án do người phải thi hành án là phạm nhân hoặc thân nhân của họ nộp khi đã hết thời hiệu thi hành án.

Đồng thời, đương sự cũng được thông báo, hướng dẫn để thực hiện các quyền liên quan phát sinh trong quá trình giải quyết việc thi hành án. Cụ thể, đương sự được thông báo về: quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ trong trường hợp tài sản, giấy tờ đó đang bị cơ quan thi hành án tạm giữ để thực hiện nhiệm vụ thi hành án; quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, quyền khởi kiện đối với tài sản thi hành án có tranh chấp; quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp giao dịch đó liên quan đến tài sản thi hành án và ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

- Về hình thức và thời hạn thông báo: về hình thức, pháp luật thi hành án dân sự quy định đương sự được nhận trực tiếp[5] các văn bản liên quan đến việc thi hành án, gồm quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản khác có liên quan, khi nhận quyết định thi hành án, đương sự được chấp hành viên giải thích trực tiếp, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ cụ thể được ghi trong quyết định thi hành án; trường hợp không thể thông báo trực tiếp thì chấp hành viên mới tiếp tục thực hiện các hình thức thông báo khác như niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Về thời hạn thông báo, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc thông báo thi hành án phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

2. Thực trạng thi hành pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án

Pháp luật hiện hành quy định hình thức thông báo thi hành án chủ yếu được thực hiện theo phương thức trực tiếp và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra văn bản. Trong khi đó, để giải quyết việc thi hành án, pháp luật hiện hành quy định có 60 loại quyết định thi hành án và rất nhiều loại văn bản thi hành án khác cần được thông báo cho đương sự như giấy báo, giấy mời, giấy triệu tập và các thông báo trong quá trình tổ chức việc thi hành án như thông báo việc cưỡng chế thi hành án, thông báo về việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản, thông báo về việc bán tài sản, thông báo về việc giao tài sản, thông báo về việc nhận tiền, tài sản…[6].

Từ thực tiễn quy định pháp luật trên đã phát sinh một số khó khăn, hạn chế như:

Thứ nhất, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng các điều về thông báo thi hành án (từ Điều 39 đến Điều 42) vẫn giữ nguyên từ năm 2008 đến nay. Các quy định này không còn phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc xóa bỏ các rào cản, cản trở sự phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính được nêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) và chủ trương nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, thi hành án, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí được nêu tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

Thứ hai, khối lượng công việc và áp lực ngày càng gia tăng. Số lượng việc phải thông báo theo quy định pháp luật trong từng khâu, từng bước của quá trình tổ chức thi hành án ngày càng nhiều, kèm theo nghĩa vụ xác minh địa chỉ đương sự trước khi tiến hành thông báo. Điều này đặt ra gánh nặng trách nhiệm rất lớn cho chấp hành viên. Khó khăn càng nhân lên trong bối cảnh số lượng việc và tiền thụ lý mới không ngừng tăng, nhiều vụ án có tính chất phức tạp, giá trị lớn. Thực tế, trung bình mỗi chấp hành viên phải tổ chức thi hành khoảng 233 việc với số tiền lên tới 127 tỷ đồng[7], thậm chí có địa bàn, con số này lên đến 400 - 500 việc/năm[8], vượt xa năng lực giải quyết thông thường.

Thứ ba, tình trạng đương sự không thực hiện nghĩa vụ về thông báo thay đổi địa chỉ, nơi cư trú hoặc không phối hợp tiếp nhận thông báo về thi hành án diễn ra khá phổ biến như cố tình trốn tránh, vắng mặt tại nơi cư trú khi chấp hành viên, công chức thi hành án đến để thực hiện việc thông báo thi hành án, giải quyết việc thi hành án. Điều này tạo ra “trách nhiệm không hợp lý” đối với chấp hành viên khi vẫn phải thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục thông báo thi hành án theo quy định. Trường hợp không thể thông báo trực tiếp, kể cả vì lý do đương sự cố tình không tiếp nhận thông báo hoặc không thực nghĩa vụ thông báo thay đổi địa chỉ, nơi cư trú để nhận thông báo thi hành án thì chấp hành viên phải thực hiện các phương thức thông báo thi hành án thay thế (như niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng) và chỉ sau khi không thể thông báo trực tiếp.

Thứ tư, sự quá tải trong công việc và trách nhiệm “quá nặng nề” đối với chấp hành viên là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vi phạm quy định về thông báo thi hành án của chấp hành viên. Qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ ra một trong những dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự tại các địa phương là vi phạm về thông báo thi hành án như thông báo quá thời hạn quy định…[9].

Để khắc phục ngay một số hạn chế, bất cập của pháp luật, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đang trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, Chính phủ đã quy định thông báo về thi hành án theo hướng “mở” hơn để giảm bớt áp lực công việc cho chấp hành viên nhưng vẫn bảo đảm không trái với quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Theo đó, việc thông báo về thi hành án lần đầu vẫn được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, từ lần thông báo thứ hai trở đi, nếu người được thông báo đồng ý thì cơ quan thi hành án dân sự có thể thực hiện thông báo qua VNeID hoặc Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự (nay là Thi hành án dân sự) và Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự (nay là Cục Quản lý thi hành án dân sự) thuộc Bộ Tư pháp[10].

Việc quy định bổ sung hình thức thông báo thi hành án qua VNeID và các hình thức điện tử khác đã góp phần giải quyết những khó khăn của chấp hành viên, công chức thi hành án khi thực hiện thông báo trực tiếp, nhất là đối với các vụ án có số đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đặc biệt lớn lên đến hơn 43.000 người như vụ Trương Mỹ Lan[11]. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để những khó khăn, bất cập trên, cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án.

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án để bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự

Yêu cầu triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW của trung ương, các văn bản của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan trung ương triển khai các nghị quyết của trung ương và sự trông đợi của các cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết những khó khăn, bất cập, hạn chế từ thực tiễn trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã đặt ra nhiệm vụ rà soát, sửa đổi tổng thể Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và đang được tích cực triển khai thực hiện. Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được xem xét, cho ý kiến, thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án như sau:

Thứ nhất, việc thông báo thi hành án cho đương sự ở nước ngoài bên cạnh chịu sự điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của Luật Tương trợ tư pháp liên quan đến tống đạt văn bản, tài liệu cho đương sự ở nước ngoài. Vì vậy, việc rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định liên quan đến thông báo thi hành án của Luật Thi hành án dân sự cần được thực hiện đồng thời với việc rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định liên quan của các Luật hiện hành để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Thứ hai, cần xác định rõ việc thực hiện nghĩa vụ thông báo kịp thời, chính xác địa chỉ cư trú, địa chỉ tiếp nhận thông báo của cơ quan thi hành án dân sự là một điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền lợi của đương sự. Vì vậy, dự án Luật Thi hành án dân sự cần quy định rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin về địa chỉ nhận thông báo thi hành án, gồm địa chỉ bưu chính, địa chỉ thư điện tử và các phương thức tiếp nhận thông báo khác; đồng thời, bổ sung quy định khi chấp hành viên đã thực hiện việc thông báo theo đúng địa chỉ đương sự đã cung cấp thì việc thông báo do chấp hành viên thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định cần được xác định là thông báo hợp lệ.

Thứ ba, để pháp luật thi hành án dân sự phù hợp với chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW và tiếp tục hoàn thiện các quy định về hình thức thông báo thi hành án, cần sửa đổi quy định tại Điều 39 và các điều liên quan trong Luật Thi hành án dân sự theo hướng ghi nhận các hình thức thông báo thi hành án hợp pháp gồm thông báo trực tiếp, thông báo qua các nền tảng điện tử như thông báo qua hệ thống VNeID, trên Cổng thông tin điện tử về thi hành án, qua địa chỉ thư điện tử, niêm yết, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng…

Quy định các hình thức thông báo như vậy không chỉ triển khai thực hiện đúng các chủ trương của Đảng mà còn nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành án, nhất là những địa bàn lớn như thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và những địa phương phải thụ lý, giải quyết các vụ việc thi hành án có số đương sự lớn hoặc đặc biệt lớn trong thời gian vừa qua. Qua đó, tăng cường vai trò, trách nhiệm và cơ chế để đương sự có thể chủ động thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thi hành án dân sự[12].

Việc quy định thông báo thi hành án trên các phương tiện điện tử cũng phù hợp với xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Tại Cộng hòa Séc, trên 90% tác nghiệp của thừa phát lại (yêu cầu, tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án, đấu giá tài sản, trừ vào thu nhập…) được thực hiện bằng phương thức điện tử. Tại Cộng hòa Italia, toàn bộ các thông báo tống đạt, thông tin thủ tục, biên bản kê biên… có thể được tạo lập, lưu trữ và gửi, nhận trực tuyến; các luật sư, chủ nợ, bên liên quan đều có thể truy cập hồ sơ số hóa, nhận thông báo, theo dõi tiến trình thi hành án qua mạng[13].

Theo Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an đã cấp và kích hoạt hơn 62 triệu tài khoản định danh điện tử cho người dân, 292 triệu tài khoản định danh cho tổ chức điện tử trên ứng dụng VneID[14]. Hiện, “cửa sổ” thông báo thi hành án đã được tích hợp trên hệ thống VNeID. Chính vì vậy, đây là cơ sở thực tiễn thuận lợi cho việc luật hóa quy định thông báo về thi hành án trên các phương tiện điện tử. Quy định này không những không tạo thêm bất kỳ “gánh nặng” nào cho đương sự mà còn góp phần bảo đảm tốt hơn quyền, nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự.

Kết luận

Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi[15]. Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước cũng quy định các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ. Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Nhà nước thông qua các quy định pháp luật để một mặt, yêu cầu các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đương sự; mặt khác, tạo ra cơ chế để đương sự có thể chủ động thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Với những nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định cụ thể liên quan đến thông báo thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự đã được phân tích, nghiên cứu, cung cấp thông tin, để các nhà làm luật có cơ sở xem xét, thông qua dự án Luật Thi hành án dân sự, đóng góp một phần vào xây dựng, hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.

ThS. Lại Thế Anh

Văn phòng Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Được sửa đổi, bổ sung bởi các luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự ngày 25/11/2014; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự; Luật Đất đai ngày 18/01/2024; Luật Tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24/6/2025.

[2]. Có 90 điều, khoản, gồm các điều 3, 5, 6, 7, 7a, 8, 9, 20, 26, 27, 30, 31, 39, 40, từ 43 đến 50, 53, 54, từ 58 đến 61, 64, từ 66 đến 69, 71, từ 73 đến 82, 84, 87, 88, từ 90 đến 93, từ 95 đến 101, từ 103 đến 105, từ 107 đến 120, 126, 127, từ 129 đến 131, 134, 135, 137, 140, 145, 162, 165, từ 178 đến 180.

[3]. Có 27 điều, khoản, gồm các điều 7, 7a, 7b, 31, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 48, 49, 68, 69, 73, 74, 75, 88, 99, 104, 126,129, 131, 134, 135, 145, 148.

[4]. Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[5]. Theo quy định của pháp luật, văn bản thi hành án phải được giao trực tiếp đương sự hoặc những người thân thích hoặc người liên quan nhất định theo quy định của pháp luật và có ký nhận hoặc điểm chỉ.

[6]. Phụ lục III, Phụ lục VI ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2025 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự.

[7]. Thu Nguyễn (2025), Năm 2024: Nhiều khởi sắc trong công tác thi hành án dân sự, https://baophapluat.vn/nam-2024-nhieu-khoi-sac-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-post536470.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[8]. Tiến Long (2024), Mỗi chấp hành viên thụ lý 400-500 việc/năm, Thi hành án dân sự Thủ Đức “kêu” quá tải, https://tuoitre.vn/moi-chap-hanh-vien-thu-ly-400-500-viec-nam-thi-hanh-an-dan-su-thu-duc-keu-qua-tai-20241008154315135.htm, truy cập ngày 05/9/2025.

[9]. Xuân Nha (2024), VKSND tối cao chỉ ra 16 dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/thuc-tien-kinh-nghiem/vksnd-toi-cao-chi-ra-16-dang-vi-pham-pho-bien-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-160799.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[10]. Nghị định số 152/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Nghị định số 33/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

[11]. Trang Thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/lists/thavanthinhphat/view_detail.aspx?itemid=13, truy cập ngày 05/9/2025.

[12]. TS. Nguyễn Quang Thái (chủ nhiệm) (2023), Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác THADS trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, tr. 202 - 203.

[13]. Đặng Văn Huy (2025), Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Cộng hòa Séc và Cộng hòa Italia, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2712, truy cập ngày 05/9/2025.

[14]. Trần Vũ (2025), Sau khi sáp nhập tỉnh, xã, dữ liệu mới về quê quán sẽ được cập nhật lên VNeID, https://lsvn.vn/sau-khi-sap-nhap-tinh-xa-du-lieu-moi-ve-que-quan-se-duoc-cap-nhat-len-vneid-a156829.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[15]. ThS. Nguyễn Tiến Dũng (2023), Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/ton-trong-bao-dam-va-bao-ve-quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 05/9/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Văn Huy (2025), Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Cộng hòa Séc và Cộng hòa Italia, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/ nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2712, truy cập ngày 05/9/2025.

2. ThS. Nguyễn Tiến Dũng (2023), Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/ton-trong-bao-dam-va-bao-ve-quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 05/9/2025.

3. Thu Nguyễn (2025), Năm 2024: Nhiều khởi sắc trong công tác thi hành án dân sự, https://baophapluat.vn/nam-2024-nhieu-khoi-sac-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-post536470.html, truy cập ngày 04/9/2025.

4. Tiến Long (2024), Mỗi chấp hành viên thụ lý 400-500 việc/năm, Thi hành án dân sự Thủ Đức “kêu” quá tải, https://tuoitre.vn/moi-chap-hanh-vien-thu-ly-400-500-viec-nam-thi-hanh-an-dan-su-thu-duc-keu-qua-tai-20241008154315135.htm, truy cập ngày 05/9/2025.

5. Trần Vũ (2025), Sau khi sáp nhập tỉnh, xã, dữ liệu mới về quê quán sẽ được cập nhật lên VNeID, https://lsvn. vn/sau-khi-sap-nhap-tinh-xa-du-lieu-moi-ve-que-quan-se-duoc-cap-nhat-len-vneid-a156829.html, truy cập ngày 05/9/2025.

6. Trang Thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/lists/thavanthinhphat/view_detail.aspx?itemid=13, truy cập ngày 05/9/2025.

7. TS. Nguyễn Quang Thái (chủ nhiệm) (2023), Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp.

8. Xuân Nha (2024), VKSND tối cao chỉ ra 16 dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/thuc-tien-kinh-nghiem/vksnd-toi-cao-chi-ra-16-dang-vi-pham-pho-bien-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-160799.html, truy cập ngày 05/9/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (438) tháng 10/2025)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: