Thứ bảy 07/11/2026 23:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: thông báo thi hành án; đương sự; chấp hành viên; thi hành án dân sự; hoàn thiện pháp luật.

Abstract: Notice of judgment enforcement is an indispensable procedure in each stage of the process of organizing civil judgment enforcement. However, the current law on notice of judgment enforcement still has some shortcomings and limitations such as the lack of correspondence between the rights and obligations of the parties, between the responsibilities and powers of the civil judgment enforcement agency, enforcement officers and is mainly implemented in the form of direct notification... The article analyzes the applicable law and enforcement practice, thereby proposing to improve the legal provisions related to notice of judgment enforcement to suit the reality, meeting the requirements of building and completing the Socialist rule of law State of Vietnam in the current period.

Keywords: Notice of judgment enforcement of; parties; enforcement officer; civil judgment enforcement; completing the law.

Đặt vấn đề

Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong suốt quá trình tổ chức thi hành án dân sự, từ khi ra quyết định thi hành án, tổ chức cho các đương sự thỏa thuận việc thi hành án, thực hiện các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án cho đến khi kết thúc việc thi hành án. Trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008[1] có gần một nửa số điều, khoản quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự[2], được chia thành 11 nhóm quyền với 03 nhóm nghĩa vụ của người được thi hành án, 08 nhóm quyền với 04 nhóm nghĩa vụ của người phải thi hành án. Đối với quy định về thông báo thi hành án, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có 27 điều, khoản[3], chiếm gần 1/3 số điều, khoản quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, trong đó, hầu hết quy định về quyền của đương sự về thông báo thi hành án.

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 dành nhiều điều, khoản quy định về quyền của đương sự nhưng thực tiễn thi hành các quy định này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà còn đến việc bảo đảm thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan.

1. Quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân

1.1. Nguyên tắc “cân bằng” về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong Hiến pháp và pháp luật dân sự

Việc quy định cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức là yếu tố rất quan trọng, vừa là điều kiện bảo đảm, vừa là nguyên tắc cơ bản để xây dựng chế định pháp luật chặt chẽ, khả thi và ổn định. Điều này được thể hiện và quy định cụ thể tại Hiến pháp và một số đạo luật cơ bản.

Trước hết, Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) quy định các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, Điều 14, Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác, công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.

Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 là đạo luật quan trọng, điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản của xã hội. Ở Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật, mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; ở chiều ngược lại, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự (Điều 2, Điều 3).

Trong lĩnh vực tố tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025) quy định đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng; đương sự có trách nhiệm sử dụng quyền của mình một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật.

Như vậy, từ quy định của các đạo luật cơ bản cho thấy, quyền của tổ chức, cá nhân sẽ được bảo đảm khi nghĩa vụ tương ứng của tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện; ngược lại, khi tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật sẽ là cơ sở để bảo đảm quyền tương ứng của tổ chức, cá nhân có liên quan.

1.2. Quy định pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án

Đương sự theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự bao gồm tổ chức, cơ quan, cá nhân được hưởng quyền, lợi ích trong các bản án, quyết định được thi hành hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành[4].

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật quy định đương sự được quyền “rất rộng” về thông báo thi hành án, điều này đồng nghĩa với việc chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm “rất lớn” trong việc bảo đảm quyền của đương sự về thông báo thi hành án. Trong khi đó, pháp luật chỉ quy định đương sự có nghĩa vụ thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có sự thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.

Trong từng khâu, từng bước, từng thủ tục khi giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải thông báo cho đương sự, bảo đảm đủ nội dung, đúng yêu về cầu hình thức và trong thời hạn quy định.

- Về nội dung thông báo: theo quy định pháp luật hiện hành, đương sự được thông báo về các quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án và theo quyết định thi hành án; thời gian, địa điểm, nội dung các buổi làm việc trong quá trình giải quyết việc thi hành án; kết quả xác minh sau 02 lần mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành; việc cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản thi hành án; kết quả thẩm định giá tài sản thi hành án; kết quả đấu giá tài sản thi hành án, kể cả trong trường hợp đấu giá không thành; việc giao tài sản, trả lại tiền, tài sản tạm giữ, việc nhận tiền thi hành án do người phải thi hành án là phạm nhân hoặc thân nhân của họ nộp khi đã hết thời hiệu thi hành án.

Đồng thời, đương sự cũng được thông báo, hướng dẫn để thực hiện các quyền liên quan phát sinh trong quá trình giải quyết việc thi hành án. Cụ thể, đương sự được thông báo về: quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ trong trường hợp tài sản, giấy tờ đó đang bị cơ quan thi hành án tạm giữ để thực hiện nhiệm vụ thi hành án; quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, quyền khởi kiện đối với tài sản thi hành án có tranh chấp; quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp giao dịch đó liên quan đến tài sản thi hành án và ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

- Về hình thức và thời hạn thông báo: về hình thức, pháp luật thi hành án dân sự quy định đương sự được nhận trực tiếp[5] các văn bản liên quan đến việc thi hành án, gồm quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản khác có liên quan, khi nhận quyết định thi hành án, đương sự được chấp hành viên giải thích trực tiếp, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ cụ thể được ghi trong quyết định thi hành án; trường hợp không thể thông báo trực tiếp thì chấp hành viên mới tiếp tục thực hiện các hình thức thông báo khác như niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Về thời hạn thông báo, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc thông báo thi hành án phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

2. Thực trạng thi hành pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án

Pháp luật hiện hành quy định hình thức thông báo thi hành án chủ yếu được thực hiện theo phương thức trực tiếp và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra văn bản. Trong khi đó, để giải quyết việc thi hành án, pháp luật hiện hành quy định có 60 loại quyết định thi hành án và rất nhiều loại văn bản thi hành án khác cần được thông báo cho đương sự như giấy báo, giấy mời, giấy triệu tập và các thông báo trong quá trình tổ chức việc thi hành án như thông báo việc cưỡng chế thi hành án, thông báo về việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản, thông báo về việc bán tài sản, thông báo về việc giao tài sản, thông báo về việc nhận tiền, tài sản…[6].

Từ thực tiễn quy định pháp luật trên đã phát sinh một số khó khăn, hạn chế như:

Thứ nhất, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng các điều về thông báo thi hành án (từ Điều 39 đến Điều 42) vẫn giữ nguyên từ năm 2008 đến nay. Các quy định này không còn phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc xóa bỏ các rào cản, cản trở sự phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính được nêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) và chủ trương nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, thi hành án, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí được nêu tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

Thứ hai, khối lượng công việc và áp lực ngày càng gia tăng. Số lượng việc phải thông báo theo quy định pháp luật trong từng khâu, từng bước của quá trình tổ chức thi hành án ngày càng nhiều, kèm theo nghĩa vụ xác minh địa chỉ đương sự trước khi tiến hành thông báo. Điều này đặt ra gánh nặng trách nhiệm rất lớn cho chấp hành viên. Khó khăn càng nhân lên trong bối cảnh số lượng việc và tiền thụ lý mới không ngừng tăng, nhiều vụ án có tính chất phức tạp, giá trị lớn. Thực tế, trung bình mỗi chấp hành viên phải tổ chức thi hành khoảng 233 việc với số tiền lên tới 127 tỷ đồng[7], thậm chí có địa bàn, con số này lên đến 400 - 500 việc/năm[8], vượt xa năng lực giải quyết thông thường.

Thứ ba, tình trạng đương sự không thực hiện nghĩa vụ về thông báo thay đổi địa chỉ, nơi cư trú hoặc không phối hợp tiếp nhận thông báo về thi hành án diễn ra khá phổ biến như cố tình trốn tránh, vắng mặt tại nơi cư trú khi chấp hành viên, công chức thi hành án đến để thực hiện việc thông báo thi hành án, giải quyết việc thi hành án. Điều này tạo ra “trách nhiệm không hợp lý” đối với chấp hành viên khi vẫn phải thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục thông báo thi hành án theo quy định. Trường hợp không thể thông báo trực tiếp, kể cả vì lý do đương sự cố tình không tiếp nhận thông báo hoặc không thực nghĩa vụ thông báo thay đổi địa chỉ, nơi cư trú để nhận thông báo thi hành án thì chấp hành viên phải thực hiện các phương thức thông báo thi hành án thay thế (như niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng) và chỉ sau khi không thể thông báo trực tiếp.

Thứ tư, sự quá tải trong công việc và trách nhiệm “quá nặng nề” đối với chấp hành viên là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vi phạm quy định về thông báo thi hành án của chấp hành viên. Qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ ra một trong những dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự tại các địa phương là vi phạm về thông báo thi hành án như thông báo quá thời hạn quy định…[9].

Để khắc phục ngay một số hạn chế, bất cập của pháp luật, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đang trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, Chính phủ đã quy định thông báo về thi hành án theo hướng “mở” hơn để giảm bớt áp lực công việc cho chấp hành viên nhưng vẫn bảo đảm không trái với quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Theo đó, việc thông báo về thi hành án lần đầu vẫn được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, từ lần thông báo thứ hai trở đi, nếu người được thông báo đồng ý thì cơ quan thi hành án dân sự có thể thực hiện thông báo qua VNeID hoặc Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự (nay là Thi hành án dân sự) và Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự (nay là Cục Quản lý thi hành án dân sự) thuộc Bộ Tư pháp[10].

Việc quy định bổ sung hình thức thông báo thi hành án qua VNeID và các hình thức điện tử khác đã góp phần giải quyết những khó khăn của chấp hành viên, công chức thi hành án khi thực hiện thông báo trực tiếp, nhất là đối với các vụ án có số đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đặc biệt lớn lên đến hơn 43.000 người như vụ Trương Mỹ Lan[11]. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để những khó khăn, bất cập trên, cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự về thông báo thi hành án.

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án để bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự

Yêu cầu triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW của trung ương, các văn bản của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan trung ương triển khai các nghị quyết của trung ương và sự trông đợi của các cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết những khó khăn, bất cập, hạn chế từ thực tiễn trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã đặt ra nhiệm vụ rà soát, sửa đổi tổng thể Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và đang được tích cực triển khai thực hiện. Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được xem xét, cho ý kiến, thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án như sau:

Thứ nhất, việc thông báo thi hành án cho đương sự ở nước ngoài bên cạnh chịu sự điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của Luật Tương trợ tư pháp liên quan đến tống đạt văn bản, tài liệu cho đương sự ở nước ngoài. Vì vậy, việc rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định liên quan đến thông báo thi hành án của Luật Thi hành án dân sự cần được thực hiện đồng thời với việc rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định liên quan của các Luật hiện hành để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Thứ hai, cần xác định rõ việc thực hiện nghĩa vụ thông báo kịp thời, chính xác địa chỉ cư trú, địa chỉ tiếp nhận thông báo của cơ quan thi hành án dân sự là một điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền lợi của đương sự. Vì vậy, dự án Luật Thi hành án dân sự cần quy định rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin về địa chỉ nhận thông báo thi hành án, gồm địa chỉ bưu chính, địa chỉ thư điện tử và các phương thức tiếp nhận thông báo khác; đồng thời, bổ sung quy định khi chấp hành viên đã thực hiện việc thông báo theo đúng địa chỉ đương sự đã cung cấp thì việc thông báo do chấp hành viên thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định cần được xác định là thông báo hợp lệ.

Thứ ba, để pháp luật thi hành án dân sự phù hợp với chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW và tiếp tục hoàn thiện các quy định về hình thức thông báo thi hành án, cần sửa đổi quy định tại Điều 39 và các điều liên quan trong Luật Thi hành án dân sự theo hướng ghi nhận các hình thức thông báo thi hành án hợp pháp gồm thông báo trực tiếp, thông báo qua các nền tảng điện tử như thông báo qua hệ thống VNeID, trên Cổng thông tin điện tử về thi hành án, qua địa chỉ thư điện tử, niêm yết, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng…

Quy định các hình thức thông báo như vậy không chỉ triển khai thực hiện đúng các chủ trương của Đảng mà còn nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành án, nhất là những địa bàn lớn như thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và những địa phương phải thụ lý, giải quyết các vụ việc thi hành án có số đương sự lớn hoặc đặc biệt lớn trong thời gian vừa qua. Qua đó, tăng cường vai trò, trách nhiệm và cơ chế để đương sự có thể chủ động thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thi hành án dân sự[12].

Việc quy định thông báo thi hành án trên các phương tiện điện tử cũng phù hợp với xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Tại Cộng hòa Séc, trên 90% tác nghiệp của thừa phát lại (yêu cầu, tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án, đấu giá tài sản, trừ vào thu nhập…) được thực hiện bằng phương thức điện tử. Tại Cộng hòa Italia, toàn bộ các thông báo tống đạt, thông tin thủ tục, biên bản kê biên… có thể được tạo lập, lưu trữ và gửi, nhận trực tuyến; các luật sư, chủ nợ, bên liên quan đều có thể truy cập hồ sơ số hóa, nhận thông báo, theo dõi tiến trình thi hành án qua mạng[13].

Theo Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an đã cấp và kích hoạt hơn 62 triệu tài khoản định danh điện tử cho người dân, 292 triệu tài khoản định danh cho tổ chức điện tử trên ứng dụng VneID[14]. Hiện, “cửa sổ” thông báo thi hành án đã được tích hợp trên hệ thống VNeID. Chính vì vậy, đây là cơ sở thực tiễn thuận lợi cho việc luật hóa quy định thông báo về thi hành án trên các phương tiện điện tử. Quy định này không những không tạo thêm bất kỳ “gánh nặng” nào cho đương sự mà còn góp phần bảo đảm tốt hơn quyền, nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự.

Kết luận

Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi[15]. Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước cũng quy định các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ. Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Nhà nước thông qua các quy định pháp luật để một mặt, yêu cầu các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đương sự; mặt khác, tạo ra cơ chế để đương sự có thể chủ động thực hiện, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Với những nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định cụ thể liên quan đến thông báo thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự đã được phân tích, nghiên cứu, cung cấp thông tin, để các nhà làm luật có cơ sở xem xét, thông qua dự án Luật Thi hành án dân sự, đóng góp một phần vào xây dựng, hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.

ThS. Lại Thế Anh

Văn phòng Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Được sửa đổi, bổ sung bởi các luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự ngày 25/11/2014; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự; Luật Đất đai ngày 18/01/2024; Luật Tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24/6/2025.

[2]. Có 90 điều, khoản, gồm các điều 3, 5, 6, 7, 7a, 8, 9, 20, 26, 27, 30, 31, 39, 40, từ 43 đến 50, 53, 54, từ 58 đến 61, 64, từ 66 đến 69, 71, từ 73 đến 82, 84, 87, 88, từ 90 đến 93, từ 95 đến 101, từ 103 đến 105, từ 107 đến 120, 126, 127, từ 129 đến 131, 134, 135, 137, 140, 145, 162, 165, từ 178 đến 180.

[3]. Có 27 điều, khoản, gồm các điều 7, 7a, 7b, 31, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 48, 49, 68, 69, 73, 74, 75, 88, 99, 104, 126,129, 131, 134, 135, 145, 148.

[4]. Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[5]. Theo quy định của pháp luật, văn bản thi hành án phải được giao trực tiếp đương sự hoặc những người thân thích hoặc người liên quan nhất định theo quy định của pháp luật và có ký nhận hoặc điểm chỉ.

[6]. Phụ lục III, Phụ lục VI ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2025 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự.

[7]. Thu Nguyễn (2025), Năm 2024: Nhiều khởi sắc trong công tác thi hành án dân sự, https://baophapluat.vn/nam-2024-nhieu-khoi-sac-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-post536470.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[8]. Tiến Long (2024), Mỗi chấp hành viên thụ lý 400-500 việc/năm, Thi hành án dân sự Thủ Đức “kêu” quá tải, https://tuoitre.vn/moi-chap-hanh-vien-thu-ly-400-500-viec-nam-thi-hanh-an-dan-su-thu-duc-keu-qua-tai-20241008154315135.htm, truy cập ngày 05/9/2025.

[9]. Xuân Nha (2024), VKSND tối cao chỉ ra 16 dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/thuc-tien-kinh-nghiem/vksnd-toi-cao-chi-ra-16-dang-vi-pham-pho-bien-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-160799.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[10]. Nghị định số 152/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Nghị định số 33/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

[11]. Trang Thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/lists/thavanthinhphat/view_detail.aspx?itemid=13, truy cập ngày 05/9/2025.

[12]. TS. Nguyễn Quang Thái (chủ nhiệm) (2023), Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác THADS trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, tr. 202 - 203.

[13]. Đặng Văn Huy (2025), Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Cộng hòa Séc và Cộng hòa Italia, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2712, truy cập ngày 05/9/2025.

[14]. Trần Vũ (2025), Sau khi sáp nhập tỉnh, xã, dữ liệu mới về quê quán sẽ được cập nhật lên VNeID, https://lsvn.vn/sau-khi-sap-nhap-tinh-xa-du-lieu-moi-ve-que-quan-se-duoc-cap-nhat-len-vneid-a156829.html, truy cập ngày 05/9/2025.

[15]. ThS. Nguyễn Tiến Dũng (2023), Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/ton-trong-bao-dam-va-bao-ve-quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 05/9/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Văn Huy (2025), Kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Cộng hòa Séc và Cộng hòa Italia, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/ nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2712, truy cập ngày 05/9/2025.

2. ThS. Nguyễn Tiến Dũng (2023), Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/ton-trong-bao-dam-va-bao-ve-quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 05/9/2025.

3. Thu Nguyễn (2025), Năm 2024: Nhiều khởi sắc trong công tác thi hành án dân sự, https://baophapluat.vn/nam-2024-nhieu-khoi-sac-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-post536470.html, truy cập ngày 04/9/2025.

4. Tiến Long (2024), Mỗi chấp hành viên thụ lý 400-500 việc/năm, Thi hành án dân sự Thủ Đức “kêu” quá tải, https://tuoitre.vn/moi-chap-hanh-vien-thu-ly-400-500-viec-nam-thi-hanh-an-dan-su-thu-duc-keu-qua-tai-20241008154315135.htm, truy cập ngày 05/9/2025.

5. Trần Vũ (2025), Sau khi sáp nhập tỉnh, xã, dữ liệu mới về quê quán sẽ được cập nhật lên VNeID, https://lsvn. vn/sau-khi-sap-nhap-tinh-xa-du-lieu-moi-ve-que-quan-se-duoc-cap-nhat-len-vneid-a156829.html, truy cập ngày 05/9/2025.

6. Trang Thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/lists/thavanthinhphat/view_detail.aspx?itemid=13, truy cập ngày 05/9/2025.

7. TS. Nguyễn Quang Thái (chủ nhiệm) (2023), Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp.

8. Xuân Nha (2024), VKSND tối cao chỉ ra 16 dạng vi phạm phổ biến trong công tác thi hành án dân sự, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/thuc-tien-kinh-nghiem/vksnd-toi-cao-chi-ra-16-dang-vi-pham-pho-bien-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-160799.html, truy cập ngày 05/9/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (438) tháng 10/2025)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: