Chủ nhật 26/07/2026 16:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đề cao quyền tự quyết của các bên, vì thủ tục này chỉ được tiến hành khi các bên có thỏa thuận trọng tài. Cơ chế tự do thỏa thuận đặt ra vấn đề, liệu các bên có được thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hay không? Bài viết phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về khả năng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, so sánh với pháp luật của một số quốc gia về vấn đề này; từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Abstract: Resolving disputes by commercial arbitration emphasizes the autonomy of the parties, because this procedure is only carried out when the parties have an arbitration agreement. The mechanism of freedom of agreement raises the question of whether the parties can agree on the statute of limitations to bring the dispute to arbitration or not? The article analyzes the current state of Vietnamese law on the possibility of agreeing on the statute of limitations to resolve disputes by commercial arbitration, comparing it with the laws of some countries on this issue; from there, proposing recommendations to improve the law.

Đặt vấn đề

Thủ tục tố tụng trọng tài linh hoạt, mềm dẻo hơn so với Tòa án. Đặc điểm này thể hiện ở việc trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên có thỏa thuận trọng tài. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được xây dựng theo hướng tôn trọng quyền tự định đoạt và tự do thỏa thuận của các bên, như: các bên có quyền thỏa thuận về ngôn ngữ tố tụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài (khoản 2 Điều 10), địa điểm giải quyết tranh chấp (Điều 11), cách thức và trình tự gửi thông báo tố tụng (Điều 12), luật áp dụng giải quyết tranh chấp đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài (khoản 2 Điều 14), số lượng trọng tài viên (Điều 39), thời gian và địa điểm mở phiên họp giải quyết tranh chấp (Điều 54),… Tuy nhiên, đối với thời hiệu khởi kiện - chế định cơ bản, quan trọng ảnh hưởng đến quyền khởi kiện và sự ổn định của quan hệ pháp lý chưa được pháp luật trọng tài quy định rõ về khả năng các bên được quyền thỏa thuận.

Nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia có nền trọng tài phát triển (như Anh, Pháp và Hoa Kỳ) cho thấy, pháp luật các nước này đều thừa nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu theo thỏa thuận được xem như sự lựa chọn bổ sung bên cạnh thời hiệu luật định, nhằm tăng tính linh hoạt và đề cao tính tự chủ, quyền tự quyết của các bên trong tố tụng trọng tài. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá khả năng ghi nhận quyền thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo pháp luật Việt Nam là vấn đề cần thiết. Nghiên cứu này phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; đồng thời, so sánh với pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới, từ đó, đề xuất tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

1. Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo pháp luật Việt Nam

Theo Từ điển Luật học, “thời hiệu khởi kiện” được hiểu là “thời hạn do pháp luật quy định mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Khi thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện và chỉ được khôi phục lại nếu lý do bỏ qua thời hiệu được Tòa án công nhận là chính đáng như ốm đau nặng kéo dài, do nguyên nhân bất khả kháng”[1]. Dưới góc độ luật thực định, khái niệm thời hiệu khởi kiện được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự - luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự. Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp, cụ thể là thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được định nghĩa như sau: “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.

Có thể thấy, Nhà nước thừa nhận, bảo đảm công dân có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nhưng quyền khởi kiện phải được thực hiện trong khuôn khổ thời gian nhất định. Nói cách khác, thời hiệu khởi kiện là “phương tiện” để bình ổn tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một khoảng thời gian nhất định. Việc thừa nhận thời hiệu khởi kiện là một trong những biện pháp của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu khách quan của pháp luật là bảo đảm trật tự, công bằng xã hội[2]. Quy định này không chỉ tạo sự chủ động cho người dân trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn giảm bớt sức nặng của khối lượng công việc mà cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết. Ý nghĩa quan trọng khác của thời hiệu khởi kiện còn nằm ở chỗ thời hiệu khởi kiện là cơ sở để xác định người khởi kiện còn hay không còn quyền khởi kiện để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Thời hiệu khởi kiện được ghi nhận tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Tiếp đó, Điều 33 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Như vậy, thời hiệu khởi kiện tranh chấp tại trọng tài là một khoảng thời gian nhất định và quy định này không cho thấy khả năng các bên được thỏa thuận thay đổi thời hiệu khởi kiện.

Tuy nhiên, việc Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không cho biết khả năng các bên có thể thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện không đồng nghĩa với việc các bên không có quyền thỏa thuận. Bởi lẽ, khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận sự tự do, tự nguyện của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự là một nguyên tắc cơ bản, theo đó: “cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Quy định này cho thấy, các chủ thể của đời sống dân sự được tự do thỏa thuận, miễn là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 giải thích khái niệm điều cấm của luật, đạo đức xã hội như sau: “điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”; “đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Mặt khác, khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng ghi nhận, tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cụ thể: “trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Ngoài ra, về thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, khoản 1 Điều 31 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, các bên có quyền thỏa thuận về một thời điểm khác để bắt đầu thủ tục tố tụng trọng tài, kể cả khả năng các bên thỏa thuận về một thời hạn nhất định mà một bên được quyền mang tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài.

Trước đây, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 cho phép thỏa thuận liên quan đến thời hiệu khởi kiện tại điểm a.7 tiểu mục 2.2 Phần IV như sau: “trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a1, a2, a3, a4, a5 và a6 tiểu mục 2.2 này nếu các bên có thỏa thuận khác về thời hiệu, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính theo thỏa thuận của các bên”. Sau đó, quy định này tiếp tục được kế thừa tại điểm g khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặc dù, quy định này nhằm hướng dẫn và giải thích về thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhưng qua đó cho thấy, pháp luật Việt Nam đã “manh nha” cho phép khả năng các bên được quyền thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện.

2. Kinh nghiệm pháp luật quốc tế về khả năng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

2.1. Thỏa thuận về thời hạn của thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Về phương diện pháp luật quốc tế, Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế năm 1985 (Luật mẫu UNCITRAL) không quy định cụ thể về khả năng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, Điều 21 Luật mẫu UNCITRAL quy định: “nếu các bên không có thỏa thuận nào khác, tố tụng của Ủy ban Trọng tài liên quan đến tranh chấp cụ thể bắt đầu từ ngày đơn kiện gửi tới trọng tài được bị đơn nhận”[3]. Quy định này cho thấy, các bên có quyền thỏa thuận về thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, gồm cả thỏa thuận về khoảng thời gian nhất định mà một bên có thể mang tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài (tức là thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện). Mặc dù, cách tiếp cận trên của Luật mẫu UNCITRAL khá rộng, nhưng nhìn chung, Điều 21 Luật mẫu UNCITRAL được xem là quy định mang tính định hướng về khả năng các bên được thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Ngoài ra, với vai trò là khung pháp lý chung mang tính khuyến nghị áp dụng cho các quốc gia trên thế giới, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế quy định rõ về khả năng “các bên có thể thỏa thuận thay đổi thời hạn của thời hiệu khởi kiện” tại Điều 10.3; hay khoản 2 Điều 14:601 Bộ nguyên tắc về luật hợp đồng châu Âu cũng quy định cho phép các bên có thể thỏa thuận rút ngắn hoặc kéo dài các thời hạn luật định.

Trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài không phải là vấn đề mới. Bên cạnh thời hiệu khởi kiện được quy định cụ thể trong pháp luật, pháp luật một số quốc gia thừa nhận giá trị pháp lý của thời hiệu khởi kiện theo thỏa thuận. Thời hiệu theo thỏa thuận được đặt ra như một sự lựa chọn bổ sung bên cạnh thời hiệu vốn đã được khống chế bằng quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện tối ưu cho các bên được tự do và tự quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ của mình. Đồng thời, thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện còn giúp tăng cường tính tự chủ của các bên và thể hiện sâu sắc quyền tự do thỏa thuận của các bên trong tố tụng trọng tài. Cụ thể, thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện cho phép các bên có quyền thỏa thuận một khoảng thời hạn của thời hiệu dài hơn hoặc ngắn hơn so với quy định của pháp luật trong trường hợp muốn đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài. Thậm chí, các bên còn có thể thỏa thuận áp dụng thời hiệu khởi kiện được quy định bởi luật của một tiểu bang khác bất kỳ[4]. Thực tiễn, rất nhiều hợp đồng vận chuyển bằng đường biển, trong đó, điều khoản về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được các bên thỏa thuận như sau: “bất cứ đơn kiện nào đều phải làm bằng văn bản và nguyên đơn phải chỉ định một trọng tài viên trong vòng ba tháng sau khi hoàn thành việc dỡ hàng; trong trường hợp quy định này không được tuân thủ thì việc khiếu nại sẽ được coi là được từ bỏ và hoàn toàn bị hết thời hiệu”[5].

Tại Anh, quốc gia có nền trọng tài phát triển, pháp luật cho phép khả năng các bên được thỏa thuận thời hiệu khởi kiện đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài. Cụ thể, Điều 14.1 Luật Trọng tài năm 1996 của Anh quy định: “các bên được tự do thỏa thuận về thời điểm bắt đầu thủ tục trọng tài theo mục đích của Phần này hoặc Luật về thời hiệu”. Nếu các bên không xác lập thỏa thuận thời hiệu khởi kiện tranh chấp ra trọng tài thì các căn cứ luật định mới được áp dụng. Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử cũng ghi nhận trường hợp các bên thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài. Chẳng hạn, theo án lệ Nea Agrex SA v Baltic Shipping Co Ltd (The Agios Lazaros), tháng 01/1972, Nea Agrex SA đã thuê tàu Agios Lazaros của Công ty Intershipping Charter thông qua đại lý là Công ty Baltic Shipping Co Ltd để vận chuyển một lô hàng quả cam từ Hy Lạp đến Rotterdam, sau đó đến Hamburg. Trên đường vận chuyển, tàu va chạm và mắc cạn dẫn đến nhiều quả cam bị hỏng nên bên thuê tàu đã khởi kiện tranh chấp ra trọng tài yêu cầu bồi thường tổn thất. Theo hợp đồng vận chuyển, các bên đã thỏa thuận bất kỳ tranh chấp nào cũng phải được đưa ra trọng tài trong vòng 03 tháng kể từ khi xảy ra sự kiện gây tranh chấp. Tòa án Anh đưa ra phán quyết, nếu một bên không tuân thủ thời hạn này, họ sẽ mất quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, trừ khi có lý do chính đáng cho sự chậm trễ[6].

Tại Hoa Kỳ, thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng được thừa nhận trong thực tiễn tư pháp. Chẳng hạn, trong vụ kiện Broom và Morgan Stanley (năm 2010), khi lập luận về việc hủy bỏ phán quyết của Hội đồng Trọng tài liên quan đến việc áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án Tối cao Washington đã đưa ra nhận định, các bên trong tranh chấp có thể thỏa thuận trong hợp đồng về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện, cụ thể là áp dụng luật thời hiệu của tiểu bang và trong trường hợp đó, Hội đồng Trọng tài phải áp dụng luật này để giải quyết[7]. Thông qua vụ việc này, Tòa án của bang Washington cho thấy khả năng các bên được tự do thỏa thuận thời hiệu khởi kiện và trọng tài có nghĩa vụ tôn trọng thỏa thuận đó.

Tại Pháp, Điều 2254 Bộ luật Dân sự quy định, thời hiệu có thể được rút ngắn hoặc kéo dài theo thỏa thuận giữa các bên. Như vậy, khả năng thỏa thuận thay đổi thời hiệu khởi kiện tranh chấp ra Tòa án hay trọng tài đều được pháp luật Pháp thừa nhận.

Tương tự, khả năng này cũng được quy định tại Điều 202 Bộ luật Dân sự của Đức. Theo đó, thỏa thuận về thời hiệu không được chấp nhận trong các trường hợp sau: (i) trong trường hợp trách nhiệm phát sinh do hành vi cố ý, thời hiệu không thể bị rút ngắn trước bằng giao dịch pháp lý; (ii) thời hiệu không thể được gia hạn bằng giao dịch pháp lý vượt quá 30 năm kể từ khi thời hiệu theo luật định bắt đầu.

Vấn đề pháp lý khác đặt ra, liệu việc vi phạm thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện có gây ra hậu quả pháp lý gì không. Có quan điểm cho rằng, khi các bên xác lập thỏa thuận trọng tài có quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp thì được xem là thỏa thuận trọng tài có điều kiện và điều kiện là các bên phải tuân thủ thời hạn của thời hiệu khởi kiện đã thỏa thuận. Do đó, việc một bên vi phạm thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài dẫn đến hệ quả là thỏa thuận trọng tài mất hiệu lực. Quan điểm này được thể hiện qua vụ việc thực tế Vekoma kiện Maran (năm 1995), hợp đồng giữa các bên quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải được khởi xướng trong vòng 30 ngày kể từ ngày thương lượng không thành. Tòa án Tối cao Thụy Sĩ nhận định, thỏa thuận trọng tài phải tuân thủ điều kiện thời hiệu khởi kiện là 30 ngày nhưng bên khởi kiện đã không đáp ứng được điều kiện đó. Do vậy, Tòa án Tối cao Thụy Sĩ đã tuyên hủy phán quyết trọng tài, vì thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực nên trọng tài viên không có thẩm quyền để thụ lý giải quyết tranh chấp[8]. Theo pháp luật Ba Lan, điều khoản thỏa thuận trọng tài có quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được xem là thỏa thuận trọng tài có điều kiện; trong trường hợp các bên thỏa thuận việc không khởi kiện trọng tài trong vòng 30 ngày sau khi các bên không thể thương lượng hoặc không kết thúc trọng tài trong vòng hai tuần kể từ khi nộp đơn khởi kiện thì hậu quả pháp lý là thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực[9].

Ở Việt Nam, pháp luật chưa quy định rõ về việc thừa nhận khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nên chưa quy định điều chỉnh hậu quả pháp lý của vấn đề này. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, việc không tuân thủ thời hiệu khởi kiện đã thỏa thuận không phải là cơ sở để xác định trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Bởi lẽ, việc thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp trong thỏa thuận trọng tài không phải là điều kiện để phát sinh hay hủy bỏ thỏa thuận trọng tài, do đó, đây không phải là thỏa thuận trọng tài có điều kiện. Thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện ý chí của các bên cùng đồng thuận để thay đổi thời hiệu khởi kiện luật định. Mặt khác, việc xác định Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hay không phải dựa vào quy định pháp luật điều chỉnh về các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài (Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010) cũng như các quy định hướng dẫn về thỏa thuận trọng tài vô hiệu hay thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được (Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại (Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP)).

2.2. Giới hạn của thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

2.2.1. Giới hạn về nội dung của thỏa thuận

Bên cạnh việc thừa nhận khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, hầu hết, pháp luật các nước đều đặt ra giới hạn nhất định cho sự thỏa thuận này. Giải pháp chung là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận nhưng có tính đến các lợi ích chung của xã hội, cụ thể là không được vi phạm trật tự công. Điều 6 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định, các bên không được thỏa thuận những điều trái với các quy định liên quan đến trật tự công và thuần phong mỹ tục. Trong hệ thống pháp luật Anh, Mỹ, các thỏa thuận về thời hiệu đều phải tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật và không được vi phạm trật tự công. Pháp luật Việt Nam không đề cập thuật ngữ “trật tự công” nhưng nội hàm của thuật ngữ này được thể hiện tương tự thông qua “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật” tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, giới hạn của sự tự do thỏa thuận là điều cấm của luật và đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực trọng tài, cách hiểu “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật” được Tòa án nhân dân tối cao giải thích thông qua khái niệm “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam” (điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP). Mặc dù, mỗi quốc gia có cách tiếp cận và diễn giải khác nhau về “trật tự công” và giá trị cơ bản mà pháp luật nước mình không thể nhượng bộ. Song, nội hàm của trật tự công về cơ bản là không khác biệt. Đến nay, trật tự công vẫn luôn là khái niệm/chế định được mô tả một cách chung chung, trừu tượng và chỉ có thể được xác định bởi cơ quan tài phán trong các vụ án cụ thể[10].

Thực tiễn trong một vụ việc tại Tòa án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC), nguyên đơn đã khởi kiện tranh chấp ra trọng tài khi đã vượt quá thời hiệu khởi kiện đã thỏa thuận. Cơ sở để nguyên đơn cho rằng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện không có giá trị pháp lý vì đã vi phạm trật tự công - hạn chế quyền khởi kiện của mình. Trong một quyết định sơ bộ, Hội đồng Trọng tài trả lời lập luận về việc đi ngược lại trật tự công thông qua việc phân biệt quyền khởi kiện ra trọng tài và quyền khởi kiện ra Tòa án. Theo đó, Hội đồng Trọng tài cho rằng, đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên có quyền tự do thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện trong hợp đồng, vì trọng tài là một thể thức hoàn toàn có tính chất lựa chọn[11]. Như vậy, trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài đã đưa ra quan điểm thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện tranh chấp ra trọng tài không vi phạm trật tự công nên không có cơ sở vô hiệu hóa thỏa thuận.

2.2.2. Giới hạn về thời gian của thỏa thuận

Bên cạnh việc thừa nhận khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cần quan tâm đến giới hạn về thời gian tối đa và tối thiểu của thỏa thuận. Bởi lẽ, việc không giới hạn thời gian thực hiện việc khởi kiện có thể gây nên những xáo trộn và làm thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Nếu người có quyền để vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất lợi và khó có thể đưa ra được chứng cứ để biện hộ cho mình[12]. Ngược lại, nếu các bên thỏa thuận thời hiệu khởi kiện quá ngắn có thể dẫn tới nguy cơ một bên (nhất là bên yếu thế) có ít thời gian và khả năng để kịp thời phát hiện ra vi phạm, thu thập chứng cứ và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.

Ở Hoa Kỳ, pháp luật của một số tiểu bang cho phép các bên thỏa thuận rút ngắn thời hiệu khởi kiện trong hợp đồng nhưng không được dưới 01 năm. Chẳng hạn, Điều 2-725 Bộ luật Thương mại Thống nhất (UCC) của New York quy định, thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ mua bán hàng hóa là 04 năm, nhưng các bên có thể thỏa thuận rút ngắn thời hạn này nhưng tối thiểu là 01 năm và không được thỏa thuận thời hiệu khởi kiện quá 04 năm. Giới hạn thời hiệu khởi kiện tối thiểu 01 năm cũng được đề cập tại Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 10.3 của Bộ nguyên tắc này, các bên không thể rút ngắn thời hiệu của luật chung ít hơn 01 năm, rút ngắn thời hạn tối đa của thời hiệu ít hơn 04 năm và cũng không được kéo dài thời hạn tối đa của thời hiệu tới hơn 15 năm. Về thời hạn tối đa của thỏa thuận, pháp luật của mỗi quốc gia có thể có những quy định khác nhau. Chẳng hạn, pháp luật của Pháp, Thụy Sĩ cho phép các bên thỏa thuận thời hiệu khởi kiện tối đa 10 năm (Điều 2254 Bộ luật Dân sự Pháp, Điều 129 Bộ luật Nghĩa vụ của Thụy Sĩ); pháp luật của Đức mở quy định độ dài của thời hiệu khởi kiện theo thỏa thuận lên đến 30 năm, kể từ ngày bắt đầu thời hiệu theo luật định (Điều 202.2 Bộ luật Dân sự của Đức). Như vậy, có thể thấy, đa số các hệ thống pháp luật trên thế giới đều ghi nhận về thời gian tối thiểu của thỏa thuận là 01 năm và mốc thời gian tối đa của thỏa thuận mà các bên có thể thỏa thuận là 30 năm.

Ngoài ra, đối với các loại quan hệ tranh chấp mà pháp luật không áp dụng thời hiệu khởi kiện thì các bên cũng không được thỏa thuận rút ngắn thời hiệu khởi kiện này, tức là thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện ở đây vi phạm điều cấm của luật và không được chấp nhận. Chẳng hạn, Điều 2254 Bộ luật Dân sự của Pháp không cho phép thỏa thuận điều chỉnh thời hiệu đối với “yêu cầu thanh toán hoặc đòi trả lương, các khoản trả định kỳ của lợi tức vĩnh viễn, tiền cấp dưỡng, tiền thuê nhà, tiền lĩnh canh, tiền thuê, tiền lãi từ các khoản cho vay và các yêu cầu thanh toán tất cả những gì phải trả theo năm hoặc theo định kỳ ngắn hơn”. Tương tự, đối với các quan hệ quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, không có quyền thỏa thuận rút ngắn thời hiệu khởi kiện, gồm: (i) yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; (ii) yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; (iii) tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; (iv) trường hợp khác do luật quy định.

3. Đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Về phương diện pháp lý, thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực trọng tài nói riêng không phải là vấn đề mới nhưng đặt trong bối cảnh xã hội luôn không ngừng vận động và phát triển, thời hiệu khởi kiện tất yếu chứa đựng những yêu cầu mới của thời đại. Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài càng được quan tâm và chú trọng khi phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng phát triển và mang tính hội nhập quốc tế. Do đó, việc pháp luật chấp nhận cho các bên thỏa thuận về khả năng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi và đề cao hơn quyền tự quyết của các bên đối với giao dịch của mình. Trong bối cảnh sửa đổi Luật Trọng tài thương mại năm 2010, nghiên cứu kiến nghị:

Thứ nhất, bổ sung quy định cụ thể về việc các bên được thỏa thuận khoảng thời gian cụ thể để đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan trọng tài vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trọng tài thương mại.

Thứ hai, quy định giới hạn thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thời gian tối thiểu là 01 năm theo xu hướng chung của pháp luật thế giới. Bên cạnh đó, cần quy định giới hạn thời gian tối đa của thỏa thuận là 10 năm để phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia.

Cụ thể, bổ sung tại Điều 33 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trọng tài thương mại như sau: “các bên có quyền tự do thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài bằng cách rút ngắn hoặc kéo dài thời hạn luật định nhưng không được ít hơn 01 năm và vượt quá 10 năm”. Nếu được ghi nhận, quy định này sẽ là một bước tiến về thời hiệu khởi kiện cũng như thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng phát triển và hiệu quả.

Kết luận

Từ những phân tích trên cho thấy, khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói riêng hiện chưa được quy định rõ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới và thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp thay thế bằng trọng tài, việc ghi nhận và củng cố những ưu điểm nổi bật của phương thức này thông qua việc thừa nhận quyền thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện là yêu cầu cấp thiết và cần được quan tâm. Việc bảo đảm quyền tự do thỏa thuận, đồng thời, đặt ra những giới hạn hợp lý đối với thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý an toàn và nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật trọng tài. Trên cơ sở đó, nghiên cứu cho rằng, việc pháp luật Việt Nam cho phép các bên được thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài sẽ tạo điều kiện thuận lợi, sự chủ động và đề cao hơn quyền tự quyết của các bên đối với giao dịch của mình. Đồng thời, đây cũng là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật, giúp pháp luật Việt Nam ngày càng tiệm cận và hài hòa hơn với các chuẩn mực pháp lý quốc tế hiện hành./.

LS. Huỳnh Thị Kim Thoa

Công ty Luật TNHH Sophia

[1]. Bộ Tư pháp (2010), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 724.

[2]. Nguyễn Minh Hằng (2022), Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng - Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh châu Âu”, Trường Đại học - Luật Đại học Huế, tr. 60.

[3]. UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration 1985 (with amendments as adopted in 2006), United Nation Publication, p. 14.

[4]. Richards, Lara K & Jason W. Burge (2013), Analyzing the Applicability of Statutes of Limitations in Arbitration, 49 Gonz L Rev 213, p. 227.

[5]. Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby, Constantine Partasides (2004), Law and Practice of International Commercial Arbitration, 4th edition, Sweet & Maxwell, p. 215.

[6]. Nea Agrex SA v Baltic Shipping Co Ltd (The Agios Lazaros), https://cmlcmidatabase.org/nea-agrex-sa-v-baltic-shipping-co-ltd-agios-lazaros?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 03/8/2025.

[7]. Broom v. Morgan Stanley DW, Inc., https://law.justia.com/cases/washington/supreme-court/2010/823111-opn.html, truy cập ngày 03/8/2025.

[8]. Judgment of the Supreme Court, Switzerland of 17 August 1995, No. 4P. 284/1994/odi. Transporten Handelsmaatschappij “Vekoma” BV v. Maran Coal Corporation. In ASA Bulletin, 1996, Vol. 14, No. 4.

[9]. Anita Garnuszek (2017), Time Limits in Arbitration Agreements - What can we expect, if we fail to meet them?, Masaryk University, p. 75.

[10]. Nguyễn Đức Việt (2023), Trật tự công trong tư pháp quốc tế Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 11, tr. 119.

[11]. Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby, Constantine Partasides (2004), Law and Practice of International Commercial Arbitration, 4th edition, Sweet & Maxwell, p. 216.

[12]. Trần Anh Tuấn (2011), Thời hiệu dân sự - Nhìn từ góc độ lịch sử và so sánh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6, tr. 1.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Văn Đại, Ngô Thị Vân Anh (2021), Thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện - Kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3.

2. Nguyễn Minh Hằng (2022), Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng - Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh châu Âu”, Trường Đại học - Luật Đại học Huế.

3. Trần Anh Tuấn (2011), Thời hiệu dân sự - Nhìn từ góc độ lịch sử và so sánh, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6.

4. Nguyễn Đức Việt (2023), Trật tự công trong tư pháp quốc tế Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 11. 5. Richards, Lara K & Jason W. Burge (2013), Analyzing the Applicability of Statutes of Limitations in Arbitration, 49 Gonz L Rev 213.

6. Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby, Constantine Partasides (2004), Law and Practice of International Commercial Arbitration, 4th edition, Sweet & Maxwell.

7. Anita Garnuszek (2017), Time Limits in Arbitration Agreements - What can we expect, if we fail to meet them?, Masaryk University.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (434) tháng 8/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: