Thứ hai 27/07/2026 14:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thách thức và xu hướng phát triển trợ giúp pháp lý của khu vực Asean trong bối cảnh hội nhập

Bài viết nêu lên những thách thức đối với sự phát triển trợ giúp pháp lý trong khu vực ASEAN, từ đó, phân tích xu hướng phát triển trợ giúp pháp lý nhằm xây dựng mô hình trợ giúp pháp lý thống nhất, hoạt động hiệu quả, không chỉ ở một quốc gia mà còn trong toàn bộ khu vực ASEAN.

1. Những thách thức đối với sự phát triển trợ giúp pháp lý trong khu vực ASEAN

Trải qua gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển, ASEAN đã trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết của 10 quốc gia thành viên, có vai trò quan trọng đối với hòa bình, an ninh ở khu vực ASEAN và toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Được đánh giá là một trong những tổ chức hợp tác khu vực năng động và thành công nhưng khi Cộng đồng ASEAN được thành lập với ba trụ cột: Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC), các nước thành viên trong ASEAN sẽ có nhiều lợi ích chung và cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ bởi sự đa dạng và không đồng đều về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

Toàn cầu hóa và kinh tế thị trường khiến các vấn đề xã hội (bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, thảm họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu, vấn đề tăng dân số quá nhanh…) phát sinh ngày một tăng về số lượng và diễn biến phức tạp. Nhiều vấn đề đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, như: Vấn đề di cư và nhập cư trái phép, vấn đề biến đổi khí hậu, các bệnh dịch thế kỷ… Bên cạnh đó, sự chênh lệch về trình độ phát triển, khoảng cách về năng lực và nguồn lực, thu nhập giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trong mỗi một quốc gia (giữa vùng nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, giữa cộng đồng dân tộc thiểu số và đa số) ngày càng lớn. Những vấn đề này dẫn đến nhu cầu trợ giúp pháp lý (TGPL) của người dân ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng, phức tạp về tính chất, nội dung, thậm chí có yêu cầu vượt khỏi phạm vi quốc gia, tạo sức ép lớn cho các quốc gia thành viên và cả toàn khu vực ASEAN.

Các cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế trong một số nước ASEAN đã ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển kinh tế và đời sống người dân. Sự hữu hạn về nguồn nhân lực và kinh phí khiến cho mỗi quốc gia cũng như toàn khối phải có sự cân nhắc, tính toán kỹ trong việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực này. Một số nước phát triển, như Hoa Kỳ, cũng phải cắt giảm kinh phí cho TGPL dân sự.

Trong khi đó, tiêu chí quốc tế và khu vực về tiếp cận công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày một cao hơn. Các cam kết quốc tế ngày càng nhiều hơn, không chỉ trong lĩnh vực xã hội mà vấn đề nhân quyền còn được lồng ghép trong cả lĩnh vực kinh doanh, thương mại và đầu tư. Chính các điều ước quốc tế, các nội dung hợp tác song phương và đa phương đã buộc các nước thành viên phải có nghĩa vụ thực thi các cam kết quốc tế.

2. Xu hướng phát triển trợ giúp pháp lý trong khu vực ASEAN

Hội nhập là một trong những xu thế tất yếu của quan hệ quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa và hợp tác mạnh mẽ giữa các quốc gia. Nhu cầu phát triển đã đưa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn tới sự hình thành mạng lưới toàn cầu hay hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, các nước cũng phải gắn kết để cùng nhau giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế như những vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, vấn đề dân số và sức khỏe cộng đồng, sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tội phạm mang tính quốc tế.

Một mục tiêu quan trọng của các nước thành viên được thể hiện trong Tuyên bố Băng-cốc khi thành lập ASEAN là để thúc đẩy hợp tác nhằm giữ hòa bình và ổn định chung cũng như của từng nước thành viên. Trong quá trình phát triển sau này, ASEAN đã cụ thể hóa và bổ sung các mục tiêu của tổ chức để phù hợp với mức độ và nhu cầu hợp tác, cũng như tình hình thế giới và khu vực từng thời kỳ. Tuy nhiên, mục tiêu xuyên suốt và không đổi của ASEAN là tạo dựng, duy trì và củng cố môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực, tạo điều kiện để các nước thành viên phát triển và hướng tới sự thịnh vượng chung, xây dựng một cộng đồng các dân tộc ASEAN hài hòa, đoàn kết, đùm bọc và chia sẻ, hướng tới người dân, chăm lo cho thể chất, phúc lợi, môi trường sống ngày càng tốt hơn của người dân, và tạo dựng một bản sắc chung của khu vực…

Trên phương diện quốc tế, các yêu cầu liên quan đến việc bảo đảm quyền con người và tiếp cận TGPL ngày càng cao hơn. Một trong những văn bản quốc tế quan trọng liên quan đến lĩnh vực TGPL phải kể đến là Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về các nguyên tắc và những hướng dẫn về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự. Theo đó, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thừa nhận TGPL là một thành tố cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền[1]. Quyền được TGPL được coi là quyền cơ bản của công dân và khuyến nghị các nước quy định trong Hiến pháp về quyền này.

TGPL không chỉ trong lĩnh vực hình sự mà cần được nghiêm túc nghiên cứu một cách toàn diện trong tổng thể các vấn đề xã hội và sự phát triển bền vững của quốc gia. Với quyết tâm vì một ASEAN thịnh vượng và phát triển bền vững, “không bỏ lại một ai ở phía sau”, các nước trong khu vực ASEAN cần nỗ lực trong việc tìm kiếm, thiết lập các cơ chế hợp tác kịp thời, hiệu quả để có thể nhận diện cơ hội, thách thức và tìm ra các giải pháp xây dựng mô hình, hệ thống TGPL thực sự hiệu quả, phù hợp với khả năng điều kiện của các nước trong khu vực và xu thế chung của thế giới.

“Chương trình nghị sự phát triển bền vững đến năm 2030” chính thức được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững diễn ra ở New York (Mỹ), với 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030[2]. Trong đó, đáng chú ý là Mục tiêu thứ 16 hướng tới việc thúc đẩy xã hội hòa bình và hòa nhập để phát triển bền vững, cung cấp tiếp cận công lý cho tất cả mọi người và xây dựng các thể chế có hiệu quả, có trách nhiệm và toàn diện ở tất cả các cấp. Cụ thể hơn, Mục tiêu 16.3 hướng tới thúc đẩy pháp quyền ở cấp quốc gia và quốc tế và bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý cho tất cả mọi người”[3]. Việc bắt đầu Chương trình nghị sự 2030 đồng thời với việc thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, nhấn mạnh đến việc bổ sung của Chương trình nghị sự 2030 với các nỗ lực xây dựng cộng đồng ASEAN. Điều này được tăng cường bởi Sáng kiến Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN năm 2025, bao gồm mục tiêu “thiết lập các chương trình hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên ASEAN trong việc phát triển các chiến lược tăng cường pháp quyền, hệ thống tư pháp và cơ sở hạ tầng pháp lý”[4]. Tại Hội đàm khu vực ASEAN về mục tiêu phát triển bền vững - Tiếp cận công lý và TGPL, tổ chức ở Jakarta, Indonesia từ ngày 26-27/5/2016, các chuyên gia của các nước trong khu vực đã khẳng định rằng, sẽ không có sự phát triển bền vững nếu không có công lý, và không thể có tiếp cận công lý mà không có TGPL[5]. Như vậy, TGPL cần được ghi nhận và xây dựng là một thành tố quan trọng, là hạt nhân không thể thiếu của tiếp cận công lý và phát triển bền vững của mỗi địa phương, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, trong khu vực ASEAN cũng như trên toàn thế giới. Vì vậy, mỗi đơn vị hành chính, mỗi cấp, mỗi quốc gia cần xây dựng và vận hành thể chế TGPL toàn diện, phù hợp, hiệu quả và bảo đảm tính khả thi.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và thông tin cùng với các yêu cầu ngày càng cao của quá trình toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu bức bách về việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả chất lượng TGPL trong phạm vi quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế. Đặc biệt là ứng dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành hệ thống TGPL; thủ tục yêu cầu và giải quyết yêu cầu TGPL.

Là một khối gồm 10 thành viên, ASEAN sẽ thực sự đổi mới, phát triển mạnh mẽ và đạt được mục tiêu nếu như mỗi quốc gia thành viên có sự đổi mới, phát triển và thiết lập được các chương trình hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Là một thành viên trong ASEAN, Việt Nam đã nỗ lực, quyết tâm đóng góp vào sự phát triển chung trong toàn khối. Trong Kế hoạch hành động quốc gia nhằm thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững[6], Việt Nam khẳng định quan điểm “con người là trung tâm của phát triển bền vững”; “tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận các nguồn lực chung... Không để ai bị bỏ lại phía sau, tiếp cận những đối tượng khó tiếp cận nhất trước, bao gồm trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người nghèo, người khuyết tật, đồng bào vùng sâu, vùng xa và những đối tượng dễ bị tổn thương khác. Kế hoạch cũng chỉ rõ trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển. Theo đó, mục tiêu thúc đẩy pháp quyền, đảm bảo tiếp cận công lý bình đẳng cho tất cả mọi người được giao cho BTP chủ trì, phối hợp các cơ quan thực hiện. Chủ trương, kế hoạch đó đã được thực hiện thông qua việc đổi mới mạnh mẽ chính sách, pháp luật về TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL và nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL miễn phí cho người dân; đẩy mạnh việc thực thi pháp luật TGPL.

Như vậy, có thể khẳng định, mục tiêu phát triển bền vững trong ASEAN chỉ có thể đạt được nếu như yếu tố tiếp cận công lý và TGPL trong khu vực thực sự được quan tâm, phát triển. Vì vậy, các nước ASEAN cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng mô hình TGPL trong ASEAN thống nhất trong đa dạng, hoạt động thực sự hiệu quả, không chỉ ở mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà trong toàn bộ khu vực ASEAN. Sự phát triển của TGPL không thể tách rời sự phát triển chung của xã hội và cần được đặt trong bối cảnh hợp tác, hội nhập ngày càng sâu rộng của khu vực và thế giới. TGPL không còn là vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia mà cần nâng tầm lên vấn đề khu vực và quốc tế. Đồng thời, việc vận hành, đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL phải xuất phát từ quan điểm lấy người được TGPL làm trung tâm của sự phát triển, tăng cường năng lực cho đội ngũ thực hiện TGPL và nâng cao chất lượng TGPL. Bên cạnh đó, TGPL cần được thực hiện ở một tầm cao mới, đòi hỏi có sự đầu tư thỏa đáng về nguồn nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất phù hợp của mỗi quốc gia và trong toàn khu vực ASEAN.

Vũ Thị Thu

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Tại phiên họp lần thứ 60, ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 67/187 về các nguyên tắc và hướng dẫn về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự.

[2] The GlobalGoals seek to end poverty, reduce inequality & tackle climate change, http://www.un.org/sustainabledevelopment/.

[3] https://sustainabledevelopment.un.org/sdg16.

[4] Report: Association of Southeast Asian National (ASEAN), Regional Consultation on Substainable Development Goals, Access to Justice and Legal Aid , Jakarta, 26-27/5/2016, pg.3.

[5] There is no development without justice and that there is no access to justice without legal aid.

[6] Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: