Chủ nhật 28/06/2026 01:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình hình thực hiện pháp luật về chứng thực tại tỉnh Lâm Đồng

Cùng với Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Cùng với Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định cần “hoàn thiện chế định công chứng, xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng; xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này”. Thực hiện các Nghị quyết quan trọng này, ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động công chứng.

Ngày 18/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (Nghị định số 79/2007/NĐ-CP). Việc ban hành Luật Công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP là bước tiến quan trọng trong việc phát triển pháp luật về công chứng, chứng thực; tạo hành lang pháp lý cho hoạt động công chứng phát triển theo hướng xã hội hóa, chuyên nghiệp; hoạt động chứng thực thì gắn với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Ngày 16/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch để thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ-CP (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP). Sau đó, kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Công chứng (sửa đổi), tại Điều 77 của Luật này đã giao lại cho công chứng viên được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của pháp luật về chứng thực.

1. Hoạt động chứng thực ở tỉnh Lâm Đồng thời gian qua

Trong những năm qua, công tác chứng thực luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức có liên quan. Ngay sau khi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động chứng thực có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp triển khai thực hiện một cách đồng bộ trên địa bàn tỉnh, sao cho các công việc liên quan đến chứng thực được giải quyết nhanh gọn, kịp thời cho người dân.

Công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng đã được cấp ủy đảng và Ủy ban nhân dân các cấp quan tâm thực hiện, hoạt động chứng thực trên địa bàn đã từng bước đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định. Việc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện tương đối tốt, kịp thời hồ sơ được nhận và trả ngay trong ngày làm việc.

Các Phòng Tư pháp - cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân huyện về công tác chứng thực duy trì thường xuyên lịch giao ban hàng quý, để nghe cán bộ tư pháp cấp xã báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng quý, những khó khăn vướng mắc, để kịp thời báo cáo đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp huyện có hướng chỉ đạo, giải quyết, góp phần đưa công tác chứng thực đi vào nề nếp. Hiện nay, tại đa số các đơn vị hành chính cấp huyện, chứng thực được thực hiện theo cơ chế “Một cửa”, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, đúng quy trình thủ tục, mức thu lệ phí được niêm yết công khai, hạn chế tối đa hiện tượng sách nhiễu, gây phiền hà cho công dân, tổ chức đến chứng thực.

Năm 2009, tại tỉnh Lâm Đồng chỉ có 03 đơn vị hành chính cấp huyện có Phòng Công chứng là thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và huyện Đức Trọng. Ngày 28/10/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 82/2009/QĐ-UBND chuyển thẩm quyền chứng thực các hợp đồng giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp xã cho các tổ chức hành nghề công theo hướng chuyển giao toàn bộ việc chứng thực hợp đồng giao từ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và huyện Đức Trọng cho các tổ chức hành nghề công chứng. Còn đối với các huyện chưa có tổ chức hành nghề công chứng, thì người tham gia hợp đồng giao dịch có liên quan đến bất động sản được lựa chọn công chứng tại một trong các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định. Số lượng đơn vị hành chính cấp xã chuyển giao theo Quyết định này là 42/148 đơn vị.

Tuy nhiên, do sự phản ánh của người dân trên địa bàn phải đi công chứng hợp đồng giao dịch quá xa, nên ngày 15/10/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 34/2010/QĐ-UBND để điều chỉnh theo hướng chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng tại những đơn vị hành chính cấp huyện đã có tổ chức hành nghề công chứng. Đối với những hộ gia đình, cá nhân ở các xã, phường, thị trấn mà trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã cách tổ chức hành nghề công chứng trên 10km và giá trị hợp đồng, giao dịch dưới 100 triệu đồng mà các bên tham gia giao dịch tự nguyện, chấp nhận thì được lựa chọn Ủy ban nhân dân cấp xã để chứng thực hoặc đến tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện công chứng các hợp đồng giao dịch. Số lượng đơn vị hành chính cấp xã chuyển giao theo Quyết định này giảm xuống còn 30/148 đơn vị.

Năm 2012, do tiếp tục có sự phản ánh của người dân trên các địa bàn cấp xã phải đi công chứng hợp đồng giao dịch quá xa và ngoài ra một số ngân hàng trên địa bàn tỉnh cho rằng, việc chứng thực một số các hợp đồng, giao dịch không đảm bảo an toàn về mặt pháp lý, ngày 25/5/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND về việc chỉ chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng tại các phường trên địa bàn thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc; thị trấn các huyện và các xã trên địa bàn tỉnh đã có tổ chức hành nghề công chứng. Còn tại các xã, thị trấn chưa có tổ chức hành nghề công chứng, người tham gia các hợp đồng, giao dịch có liên quan đến bất động sản được quyền lựa chọn công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn khác hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn theo quy định pháp luật, nhưng khuyến khích người dân công chứng các hợp đồng, giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Số lượng đơn vị cấp xã chuyển giao theo Quyết định này giảm xuống còn 26/148 và từ năm 2012 đến nay tăng lên lại 28/148 đơn vị do 02 tổ chức hành nghề công chứng mới được thành lập[1].

Mặc dù, việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã sang các tổ chức hành nghề công chứng đã phải giảm xuống, nhưng hoạt động chứng thực các hợp đồng giao dịch trên địa bàn tỉnh vẫn đáp ứng được nhu cầu của người dân. Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên chỉ đạo các sở, ban, ngành đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tập huấn, kiểm tra chuyên môn về hoạt động chứng thực, thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị phục vụ hoạt động chứng thực: Hầu hết, Phòng Tư pháp tại các địa phương cấp huyện và cấp xã trung tâm của huyện đều được đầu tư khá đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị như máy vi tính, máy in, máy photocopy, bố trí địa điểm tiếp dân để phục vụ cho công việc. Tuy nhiên, tại một số địa phương vùng sâu, vùng xa điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác chứng thực vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn như: Một số xã phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân cấp xã chật hẹp, chưa được trang bị thiết bị máy móc phục vụ cho công tác chứng thực.

Về đội ngũ cán bộ công chức làm công tác chứng thực: Theo số liệu thống kê trong Báo cáo tổng kết công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2016, số lượng đội ngũ công chức tư pháp toàn tỉnh là 232 người, có 92/148 Ủy ban nhân dân cấp xã bố trí 02 công chức tư pháp hộ tịch, trong đó chuyên trách là 142 (61,2%), kiêm nhiệm là 93 (39,8%), trình độ trung học cơ sở là 03 (1,3%), phổ thông trung học là 229 (98,7%), đã được bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực là 142 (61,2%), có trình độ đại học luật trở lên là 118 (50,1%), có trình độ trung cấp luật là 91 (40%), có trình độ chuyên môn khác là 23 (9,9%).

Công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật về chứng thực cho đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch thường xuyên được chú trọng, được tổ chức ngay sau mỗi văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực có hiệu lực thi hành. Hằng năm, Sở Tư pháp đều có bố trí kinh phí phục vụ công tác tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công tác tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác chứng thực. Qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng, công chức tư pháp hộ tịch được trang bị đầy đủ các kiến thức pháp luật về chứng thực. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch ở cơ sở, trong những năm qua, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã chỉ đạo đào tạo các lớp trung cấp luật cho công chức cấp xã đang làm công tác tư pháp hộ tịch ở cơ sở.

2. Những thuận lợi, khó khăn của tỉnh Lâm Đồng trong việc triển khai thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

Sau 02 năm triển khai thi hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, có những thuận lợi, khó khăn và hạn chế cụ thể sau:

2.1. Thuận lợi

Thứ nhất, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã nêu cụ thể thẩm quyền chứng thực cho Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng nhằm tạo điều kiện thuận lợi, giảm thời gian, tiết kiệm chi phí cho tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thực hiện chứng thực; các mẫu về lời chứng và biểu mẫu các loại sổ chứng thực được ghi chặt chẽ, đầy đủ, dễ tra cứu phù hợp với các biểu mẫu báo cáo theo quy định.

Thứ hai, việc mở rộng thẩm quyền chứng thực cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu chứng thực (trước đây việc phân định thẩm quyền chứng thực văn bản, giấy tờ có tính chất song ngữ còn chưa được rõ ràng, nhiều cách hiểu dẫn đến việc áp dụng khác nhau nên đã có trường hợp người dân đến cấp xã chứng thực đều được giới thiệu lên cấp huyện để thực hiện, gây không ít khó khăn, phiền hà).

Thứ ba, theo khoản 2 Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì chứng thực bản sao từ bản chính không cần lưu trữ. Quy định như vậy đã giảm bớt giấy tờ cho tổ chức, cá nhân, giảm bớt công tác lưu trữ của cơ quan thực hiện chứng thực.

2.2. Khó khăn, hạn chế

Một là, về chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản: Trong quá trình thực hiện, việc thu lệ phí chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định tại Thông tư liên tịch số 62/2013/TTLT-BTC-BTP ngày 13/5/2013 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp có quy định mức thu khá cao so với mức thu nhập của người dân địa phương, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa.

Thứ nhất, điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP nêu thẩm quyền của Phòng Tư pháp là “chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản” nhưng trong Nghị định này lại không có mẫu hợp đồng nên khi áp dụng giữa các cơ quan không thống nhất về mẫu gây khó khăn cho công dân.

Thứ hai, một số văn bản, giấy tờ cũ hoặc bằng cấp hiện nay khi phân định bằng mắt thường, thiếu phương tiện kiểm tra để xác định tính pháp lý, vì vậy, trong chứng thực đôi khi còn sai sót.

Thứ ba, việc chứng thực chữ ký người dịch chỉ là chứng thực về hình thức và nhiều nơi chưa có đội ngũ người dịch có trình độ, nên chất lượng bản dịch chưa được bảo đảm, ảnh hưởng đến lợi ích của người dân khi có yêu cầu. Để thực hiện chứng thực chữ ký người dịch, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP giao các Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện kiểm tra tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên dịch thuật và ký hợp đồng cộng tác viên với người dịch. Nhưng thời gian qua, nhiều Phòng Tư pháp không thể thực hiện được do không có đội ngũ cộng tác viên dịch thuật đáp ứng được yêu cầu.

3. Kiến nghị, đề xuất

Để công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói chung và cả nước nói riêng được triển khai có hiệu quả trong thời gian tới, chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, đề nghị cấp có thẩm quyền nghiên cứu có chế độ trích tỷ lệ phần trăm phí, lệ phí chứng thực để mua sắm sổ sách, biên lai, chứng từ và hỗ trợ, động viên cơ quan, người làm công tác chứng thực.

Thứ hai, có giải pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chứng thực vì hiện nay vẫn còn một số Ủy ban nhân dân xã, thị trấn chưa thật sự quan tâm, coi trọng công tác chứng thực, chưa bố trí công chức làm công tác chứng thực phù hợp với năng lực, trình độ để tránh sai sót khi thực hiện chứng thực.

Thứ ba, tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực; thường xuyên tiến hành kiểm tra thanh tra để phát huy những mặt tích cực và hạn chế, khắc phục những sai sót.

Thứ tư, đến nay, hoạt động chứng thực mới chỉ được điều chỉnh bằng nghị định của Chính phủ. Trong khi đó, một số lĩnh vực liên quan đến chứng thực lại được điều chỉnh bằng các luật, bộ luật (như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Công chứng…). Do đó, mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật còn có sự khác nhau. Nhiều biện pháp cải cách hành chính trong lĩnh vực chứng thực của Chính phủ, nhất là biện pháp chống lạm dụng yêu cầu nộp bản sao chứng thực, chưa thực sự phát huy tác dụng. Vì vậy, trong thời gian tới, cần hoàn thiện pháp luật về chứng thực theo hướng ban hành một đạo luật riêng về chứng thực.

Bùi Thị Mai Liên

Phòng Hành chính tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo Báo cáo tổng kết công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2016.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự Vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên toà hình sự Hoàn thiện thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp Bàn về thẩm quyền đề nghị miễn thi hành án khoản tiền phạt theo Bộ luật Hình sự Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về “cưỡng chế trả giấy tờ” Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Báo cáo thống kê thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: