Thứ hai 27/07/2026 18:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay

Giữa sự phát triển bền vững của xã hội với xây dựng và hoàn thiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tồn tại phụ thuộc vào nhau; chúng vừa là điều kiện, tiền đề cho nhau, vừa là hệ quả của nhau, cùng song song tồn tại và phát triển trong sự phát triển chung của đất nước.

1. Mối quan hệ giữa sự phát triển bền vững với xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Giữa sự phát triển bền vững của xã hội với xây dựng và hoàn thiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tồn tại phụ thuộc vào nhau; chúng vừa là điều kiện, tiền đề cho nhau, vừa là hệ quả của nhau, cùng song song tồn tại và phát triển trong sự phát triển chung của đất nước. Sự phát triển bền vững của xã hội là cơ sở thực tiễn vững chắc để Nhà nước tiếp tục xây dựng và thực hiện thành công các chiến lược, kế hoạch, chương trình xây dựng pháp luật phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế; là nguồn cung cấp các phương tiện vật chất - kỹ thuật cần thiết cho xây dựng và hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cho xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả cao; là một bảo đảm vật chất và tinh thần chắc chắn cho xã hội luôn luôn ổn định, phát triển hài hòa, tiến bộ, góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát triển lòng tin của nhân dân vào chế độ chính trị - xã hội, khuyến khích họ tham gia ngày càng tích cực và đông đảo hơn vào xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật để tạo ra một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đạt được các tiêu chuẩn toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn, có khả năng điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ xã hội cơ bản theo hướng phát triển nhanh, liên tục, ổn định, vững chắc, đem lại ngày càng nhiều lợi ích vật chất, tinh thần cho xã hội và các thành viên xã hội. Nhờ có sự tác động của hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện mà sự phát triển bền vững của xã hội mới được bảo đảm thực hiện một cách liên tục, thống nhất trên phạm vi toàn xã hội và trong từng lĩnh vực quan hệ xã hội, tạo tiền đề vật chất, tinh thần để Việt Nam hội nhập thành công với thế giới. Cho đến nay, hầu hết các lĩnh vực xã hội quan trọng như kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, an ninh - quốc phòng, đối ngoại đều được điều chỉnh bằng pháp luật. Nhờ có pháp luật điều chỉnh mà sự phát triển kinh tế đã bước đầu kết hợp được chặt chẽ, hợp lý, hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường; sự phát triển xã hội cũng đã phần nào kết hợp được sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm tiến bộ xã hội, công bằng xã hội.

Từ sự phân tích trên cho thấy, chúng ta phải thường xuyên duy trì và phát huy sự phát triển bền vững của xã hội, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay, vừa không ngừng đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả của xây dựng và hoàn thiện pháp luật trước những yêu cầu, đòi hỏi mới.

2. Một số bất cập trong nội dung của pháp luật và trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững

Nhìn chung, nội dung của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, an ninh - quốc phòng, đối ngoại còn chưa chứa đựng đầy đủ các yếu tố phát triển bền vững. Chẳng hạn, pháp luật về kinh tế hiện nay mới chủ yếu quy định những vấn đề ổn định và phát triển nền kinh tế trong thời gian trước mắt chứ chưa định hướng phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, nhằm đáp ứng nhu cầu của tương lai; còn thiên về tăng trưởng kinh tế mà chưa quy định đầy đủ các vấn đề về bảo đảm tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, về khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bản đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội và quốc phòng. Pháp luật về xã hội hiện nay vừa chưa quan tâm đúng mức tới việc giải quyết các vấn đề làm ổn định xã hội, vừa chưa thực sự chú trọng tới các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện, nâng cao chất lượng và bảo vệ môi trường. Pháp luật về môi trường cũng chưa kết hợp được một cách chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng và bảo vệ môi trường với việc phát triển kinh tế, xã hội; vừa chưa có các quy định về giải quyết các sự cố môi trường, phục hồi suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường, vừa thiếu những quy định để định hướng phát triển lâu dài nhằm đáp ứng nhu cầu tương lai của xã hội.

Nội dung của pháp luật về các lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung, pháp luật về kinh tế, xã hội, môi trường nói riêng còn chưa đảm bảo được yêu cầu phát triển bền vững, chủ yếu là do một số hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, thể hiện cụ thể ở những điểm sau:

Thứ nhất, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa có sự nhận thức đầy đủ, thống nhất, đúng đắn về ý nghĩa, tầm quan trọng của sự phát triển bền vững đối với đất nước trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế; về vị trí, vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước, cũng như cần thiết phải lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Thứ hai, công tác tổ chức cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xây dựng pháp luật lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật (mà về thực chất là quy trình luật định về xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật) về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, an ninh - quốc phòng, đối ngoại chưa được thường xuyên và chưa thật sự khoa học, chặt chẽ.

Thứ ba, trình độ kỹ thuật lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quy trình luật định về văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế và chậm được đổi mới, cải tiến. Việc tham khảo, học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm của nước ngoài về bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa được quan tâm thường xuyên.

Thứ tư, trình độ, năng lực chuyên môn luật, nhất là trình độ kỹ thuật, xây dựng và hoàn thiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền sáng kiến pháp luật và có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật, xét từ góc độ bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn có những hạn chế nhất định.

Thứ năm, cơ sở pháp luật về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa được hoàn thiện. Cho đến nay, pháp luật chưa quy định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong việc đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; về trình tự của việc lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quy trình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương (nhất là đối với các văn bản luật của Quốc hội và nghị định của Chính phủ) và địa phương. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của từng lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được thường xuyên.

Thứ sáu, công tác tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm đối với việc lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quy trình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được kịp thời và thường xuyên, liên tục.

3. Giải pháp góp phần bảo đảm nội dung phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Một là, cán bộ và nhân dân, đặc biệt là cán bộ trong các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần quán triệt sâu sắc quan niệm chung của thế giới về phát triển bền vững và về vị trí, vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam, từ đó thấy được sự cần thiết phải lồng ghép nội dung phát triển bền vững vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, vừa vận dụng trực tiếp một cách sáng tạo, linh hoạt đường lối, chính sách của Đảng về phát triển bền vững, vừa phải sử dụng pháp luật để điều tiết các mối quan hệ xã hội.

Hai là, cần phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện, khách quan hiện trạng mức độ phát triển bền vững trong tất cả các lĩnh vực quan hệ xã hội cần tới sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm xác lập căn cứ để tiếp tục xác định mới các yếu tố phát triển bền vững cần đưa vào nội dung pháp luật trong thời gian tới. Việc phân tích, đánh giá này cần được thực hiện dựa trên những yêu cầu, đòi hỏi về phát triển bền vững của đất nước nói chung, của từng lĩnh vực quan hệ xã hội nói riêng.

Ba là, phải xác định cụ thể các yếu tố phát triển bền vững của lĩnh vực quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh của pháp luật sẽ được chứa đựng trong nội dung của pháp luật phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng, mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế trong bối cảnh hiện nay. Chẳng hạn, các yếu tố phát triển bền vững quan trọng cần đưa vào nội dung pháp luật về xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động; tạo lập cơ hội bình đẳng để mọi người đều được tham gia vào các hoạt động xã hội, văn hóa, chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân số đối với các lĩnh vực tạo việc làm, y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái; định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm phát triển bền vững các đô thị; phân bố hợp lý dân cư và lực lượng lao động theo vùng, bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững ở các địa phương; nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước; phát triển số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.

Bốn là, lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững cần chứa đựng trong nội dung của pháp luật về từng lĩnh vực quan hệ xã hội cụ thể vào các giai đoạn của quy trình luật định về xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ trung ương xuống địa phương.

Năm là, thường xuyên đổi mới, cải tiến phương pháp lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững cần chứa đựng trong nội dung của pháp luật vào quy trình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là sử dụng các phương pháp tiên tiến của công nghệ thông tin hiện đại.

Sáu là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp luật nói chung, đặc biệt là cán bộ công tác trong các cơ quan pháp chế của các bộ, ban, ngành ở trung ương và các địa phương, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, kỹ thuật xây dựng pháp luật. Tăng cường hơn nữa việc nghiên cứu, tìm hiểu, học tập, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của nước ngoài về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Bảy là, thường xuyên tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu đảm bảo phát triển bền vững. Kết quả tổng kết, đánh giá và những bài học kinh nghiệm đó cần được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Tám là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp luật về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được kết quả đáng kể trong nhiều lĩnh vực liên quan tới phát triển bền vững, song vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong số đó, xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để tạo lập khung pháp lý toàn diện cho chiến lược phát triển của quốc gia được coi là yêu cầu tiên quyết đòi hỏi sự góp sức của các ngành, các cấp, đặc biệt là đối với các cơ quan lập pháp. Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật về phát triển bền vững. Công tác xây dựng pháp luật vừa phải đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, vừa phải tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc về kinh tế, xã hội và môi trường. Trong quá trình này, một mặt chúng ta vừa tổng kết việc thực thi pháp luật để có những sửa đổi, bổ sung thống nhất, mặt khác nghiên cứu sớm ban hành văn bản pháp luật mới trên một số lĩnh vực đang được hình thành và phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Đồng thời, cần tiếp tục nâng cao chất lượng biên soạn các dự án luật, pháp lệnh, bảo đảm tính khoa học, tính thống nhất của các văn bản. Trong việc nghiên cứu chuẩn bị các dự án phải tổng kết thực tiễn một cách đầy đủ, kết hợp với việc nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm nước ngoài, có chọn lọc, phù hợp với thực tiễn và hệ thống pháp luật Việt Nam; đồng thời loại dần các quy định chung, thiếu cụ thể, xây dựng các quy định dễ hiểu, dễ thực hiện, tiến tới xây dựng các đạo luật với các quy định chi tiết, đầy đủ góp phần giảm bớt việc ban hành các văn bản hướng dẫn kèm theo. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu dư luận xã hội về việc ban hành và thực hiện luật, pháp lệnh; gắn công tác xây dựng luật, pháp lệnh với việc giám sát thi hành.

Giải quyết tốt yêu cầu trên, không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, hiệu quả cao và bền vững, mà còn góp phần đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, hạn chế tác động tiêu cực, tạo điều kiện thuận lợi đưa đất n­ước ta theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đoàn Thị Ngọc Hải

Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình

Tài liệu tham khảo:

1. PGS.TS. Nguyễn Văn Động, Xây dựng và hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay, Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2010;

2. Một số tham luận tại Hội thảo Quốc gia đánh giá 10 năm phát triển bền vững ở Việt Nam - 2002;

3. Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế, tài chính và ngân sách, Kỷ yếu hội thảo, Ủy ban Kinh tế và ngân sách của Quốc hội khoá X, tháng 4/2002.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: