Thứ năm 15/01/2026 18:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu khi tham gia giao thông đường bộ ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện

Rượu, bia là những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và có nguy cơ gây ra các vấn đề kinh tế - xã hội. Hậu quả của rượu, bia có thể xuất hiện ngay sau khi uống và nếu người sử dụng mà điều khiển phương tiện, vận hành máy móc thì rất dễ xảy ra tai nạn bởi khi có nồng độ cồn

Rượu, bia là những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và có nguy cơ gây ra các vấn đề kinh tế - xã hội. Hậu quả của rượu, bia có thể xuất hiện ngay sau khi uống và nếu người sử dụng mà điều khiển phương tiện, vận hành máy móc thì rất dễ xảy ra tai nạn bởi khi có nồng độ cồn, người điều khiển phương tiện giao thông thường không làm chủ được thần kinh dẫn đến nguy cơ rất cao gây tai nạn giao thông (TNGT). Các báo cáo y học cho thấy, tỷ lệ TNGT và tử vong sau khi bị TNGT do sử dụng đồ uống có cồn luôn chiếm tỷ lệ cao. Do đó, cần nghiên cứu các giải pháp kiểm soát, hạn chế TNGT đường bộ có liên quan đến nồng độ cồn, tập trung vào bốn vấn đề: Cưỡng chế, giáo dục, hạ tầng kỹ thuật, cấp cứu. Trong đó, cưỡng chế bằng các quy định về giới hạn nồng độ cồn và chế tài xử phạt liên quan là biện pháp bảo đảm cho sự thành công và hiệu quả của các biện pháp khác.
Quy định về giới hạn nồng độ cồn trong máu (Blood Alcohol Concentration - BAC) trong pháp luật quốc gia là cốt lõi của mọi biện pháp giải quyết vấn đề TNGT có liên quan đến nồng độ cồn. Một trong những biện pháp hạn chế vi phạm quy định về BAC khi tham gia giao thông đường bộ (GTĐB) hàng đầu được thảo luận, triển khai là ban hành luật nhằm giới hạn BAC khi tham gia giao thông và áp dụng các chế tài xử phạt tùy theo mức độ vi phạm. Mặc dù được triển khai đồng bộ, quyết liệt và tạo được chuyển biến bước đầu, song vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm về nồng độ cồn điều khiển phương tiện gây TNGT, số người tử vong do TNGT gây ra còn ở mức cao. Vì vậy, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, trật tự xã hội, giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ TNGT liên quan đến chất có cồn.
1. Quy định pháp luật của một số quốc gia về xử phạt vi phạm nồng độ cồn
So sánh pháp luật của một số quốc gia quy định chế tài đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB cho thấy có nhiều quốc gia áp dụng chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi này mà không cần xét đến yếu tố hậu quả. Chính sách luật này đã mang lại hiệu quả tích cực. Cụ thể:
Tại Trung Quốc, Điều 133 Bộ luật Hình sự[1] quy định về tội gây sự cố giao thông, theo đó, người nào vi phạm pháp luật và các quy định quản lý giao thông vận tải (kể cả quy định về nồng độ cồn), gây thương tích nặng, chết người hoặc gây thiệt hại tài sản thì bị phạt tù không quá 03 năm, trường hợp đặc biệt nguy hiểm khác thì bị phạt tù không quá 07 năm. Điều 133-1 quy định chi tiết về tội lái xe nguy hiểm, theo đó, người nào điều khiển xe trên đường trong tình trạng say rượu sẽ bị tạm giữ hình sự và phạt tiền. Về chế tài xử phạt hành chính, các mức phạt cao nhất tại Điều 91 Luật An toàn giao thông đường bộ[2] dành cho người lái xe trong tình trạng say xỉn gồm: Bị giam giữ (tối đa 10 ngày hoặc 15 ngày), bị phạt tiền từ 1.000 ¥ - 2.000 ¥ hoặc bị phạt 5.000 ¥, tịch thu Giấy phép lái xe có thời hạn (05 năm, 10 năm hoặc vĩnh viễn).
Luật hình sự Canada cấm lái xe khi say rượu (với BAC ≥ 0,08 g/dL), các chế tài phạt tối thiểu đối với hành vi lái xe khi say rượu là phạt tiền tối đa 5.000 $ và phạt tù đến 06 tháng. Hình phạt tối đa cho hành vi lái xe khi say rượu gây chết người là tù chung thân[3].
Cộng hòa Pháp có những quy định rất nghiêm ngặt liên quan đến việc lái xe sau khi uống rượu, giới hạn BAC cho phép là dưới 0,05 g/dL. Trường hợp người lái xe có mức BAC từ 0,05 g/dL đến 0,08 g/dL thì mức phạt là từ 135 € - 750 € và phải chờ đến khi BAC giảm xuống dưới 0,05 g/dL mới được phép tiếp tục lái xe. Nếu người lái xe có mức BAC vượt quá 0,08 g/dL thì bị phạt tiền 4.500 € và phạt tù tối đa 02 năm. Trong mọi trường hợp, nếu quá giới hạn BAC 0,05 g/dL, người lái xe có thể bị thu giữ Giấy phép lái xe (lên đến 03 năm) cũng như phương tiện giao thông[4].
Kể từ năm 2008, Brazil thông qua Luật 11705 (thường được gọi là Lei Seca) áp dụng chế độ không khoan nhượng đối với nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông. Năm 2012, Brazil tiếp tục thông qua Luật 12760 quy định phạt 2.934,7 BRL và tước Giấy phép lái xe trong 12 tháng đối với người lái xe có bất kỳ mức BAC nào trên 0,00 g/dL và không quá 0,06 g/dL. Phạt tù từ 06 - 36 tháng đối với trường hợp có nồng độ cồn trong máu trên 0,06 g/dL.
Tựu trung lại, đối với quy định quản lý trật tự giao thông nhằm kéo giảm vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB, chính sách pháp luật ở một số nước trên thế giới có các điểm đáng chú ý sau: (i) Chế tài phạt rất nghiêm khắc và đa dạng hình thức xử phạt (phạt tiền, tịch thu phương tiện, đình chỉ hiệu lực Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc vĩnh viễn, tạm giữ người, phạt tù có thời hạn hoặc chung thân); (ii) Hình sự hóa (phạt tù) đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB mà không cần xét đến yếu tố hậu quả gây thiệt hại cho người khác; (iii) Gặt hái được nhiều kết quả tốt (được chứng minh bởi các khảo sát, nghiên cứu khoa học độc lập, uy tín), góp phần đạt được các mục tiêu an toàn giao thông đã đề ra.
2. Pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu khi tham gia giao thông đường bộ
2.1. Quy định về giới hạn nồng độ cồn trong máu
Trước khi luật hóa, giới hạn BAC khi tham gia GTĐB tại Việt Nam được quy định tại Điều lệ an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị (ban hành kèm theo Nghị định số 36-CP của Chính phủ ngày 29/5/1995 về bảo đảm an toàn GTĐB và trật tự an toàn giao thông đô thị), trong đó, tại Điều 29 Điều lệ này nghiêm cấm người điều khiển các loại xe trong trường hợp người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá 80 mmg/100 mml máu (BAC ≤ 0,08 g/dL). Từ năm 2001, cơ sở pháp lý nhằm giới hạn BAC khi tham gia GTĐB tại Việt Nam được quy định tại Luật Giao thông đường bộ. Các lần sửa đổi năm 2018 và năm 2019 của đạo luật này liên tục siết chặt và ngày càng tăng cường giới hạn BAC khi tham gia GTĐB. Sau lần sửa đổi, bổ sung năm 2019, Luật quy định nghiêm cấm điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn (BAC = 0,00 g/dL). Trong khi đó, thông lệ tốt nhất của thế giới theo GsRRs 2018 là BAC ≤ 0,05 g/dL đối với người bình thường và BAC ≤ 0,02 g/dL đối với người trẻ tuổi hoặc người mới lái xe.
Như vậy, có thể thấy, mức giới hạn BAC của pháp luật Việt Nam từ năm 1995 đến nay đã tiệm cận và vượt qua thông lệ chung của thế giới, ấn định giới hạn BAC ở mức bằng không (0,00g/dL). Có nghĩa là, pháp luật Việt Nam hiện nay áp dụng chính sách luật theo quan điểm không khoan nhượng, nghiêm cấm người nào có nồng độ cồn trong cơ thể điều khiển phương tiện tham gia GTĐB, mà không cần quan tâm đến các mức chỉ số BAC như trước đây. Điều này thể hiện sự quyết tâm cao của Nhà nước trong việc hạn chế tối đa BAC đối với người tham gia giao thông nhằm tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Để người dân tuân thủ các quy định trên, Nhà nước đặt ra các chế tài xử lý vi phạm về nồng độ cồn khi tham gia giao thông dựa theo tính chất, mức độ vi phạm. Các chế tài gồm: (i) Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB; (ii) Truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.2. Xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng (Nghị định số 100/2019/NĐ-CP) quy định về đối tượng bị xử phạt và các mức xử phạt về hành vi điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, gồm phạt tiền và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB. Theo đó, có thể thấy, mức phạt tiền tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP là cao so mức thu nhập bình quân của 01 người 01 tháng. Ngoài ra, đối chiếu với Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt thì mức phạt đối với các hành vi điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP đã tăng lên nhiều lần.
Mặc dù vậy, mức phạt này vẫn chưa đủ sức răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và ít có tác dụng đối với người có thu nhập cao, làm cho tình trạng TNGT có liên quan đến vi phạm nồng độ cồn còn diễn ra phức tạp, gây mất an ninh, trật tự, an toàn GTĐB khiến việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát, kéo giảm TNGT năm 2022 theo Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông có khả năng không đạt được.
2.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài xử phạt vi phạm hành chính, Nhà nước còn áp dụng chế tài hình sự đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) xếp các tội xâm phạm an toàn giao thông tại Mục 1 Chương XXI quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trong đó có 03 tội danh liên quan tới nồng độ cồn trong máu khi tham gia GTĐB, gồm: Tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB (Điều 260), tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia GTĐB (Điều 263), tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia GTĐB (Điều 264). Các mức phạt quy định tại các điều này có liên quan đến nồng độ cồn đều được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã gây hậu quả cho người khác, gồm gây thiệt hại về tài sản, gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe (tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên) hay làm chết người.
Tác giả cho rằng, các quy định trên có tác dụng răn đe, trừng trị người phạm tội nhưng tác dụng phòng ngừa chung của các chế tài hình sự thì còn chưa đủ đáp ứng thực tiễn xã hội. Bởi lẽ, các chế tài hình sự này khiến cho người vi phạm có tâm lý chủ quan, tin rằng miễn là chưa gây ra hậu quả làm thiệt hại cho người khác thì người vi phạm chỉ bị áp dụng các chế tài hành chính khi bị xử lý.
Ngoài ra, đối với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB (Điều 260), Bộ luật Hình sự năm 2015 còn có chế tài xử phạt trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời với mức hình phạt tối đa lên đến 01 năm tù (khoản 4 Điều 260). Tuy nhiên, thế nào là “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời” thì chưa được quy định, hướng dẫn rõ ràng, dẫn đến trong thực tế chưa có vụ án nào liên quan đến điều này. Đồng thời, “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời” phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan, năng lực chủ thể thực hiện (có khả năng thực tế) cũng như các điều kiện ngoại cảnh (ngăn chặn kịp thời). Như vậy, đây là một điều khoản chế tài hình sự mà chính nó đã tự vô hiệu hóa, khó có khả năng áp dụng trên thực tế. Theo tác giả, cần thay đổi quan điểm theo hướng thừa nhận chỉ cần trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn (BAC > 0,00 g/dL) thì đã đủ khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời. Từ đó áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về nồng độ cồn khi tham gia GTĐB.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2019/NĐ-CP theo hướng nâng mức xử phạt tiền đối với hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhằm bảo đảm tính răn đe hơn. Hiện mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi này chỉ đến 40 triệu đồng (tại khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP) tương đương với 4% mức trần phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính (1 tỷ đồng) quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017, 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng bổ sung hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề không thời hạn” làm cơ sở pháp lý cho việc bổ sung hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn” tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2019/NĐ-CP theo hướng bổ sung biện pháp ngăn chặn “tạm giữ người” theo thủ tục hành chính (phù hợp với khoản 1 Điều 119, điểm a khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đối với người tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn cho đến khi không còn nồng độ cồn (tối đa không quá 24 giờ theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Thứ tư, hình sự hóa hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn theo hướng loại bỏ dấu hiệu mô tả về hậu quả (gây thiệt hại). Do đó, cần bổ sung Điều 260a tại Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn với mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 15 năm tù hoặc cao hơn tùy theo tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả gây ra cho xã hội.

Hồ Bảo
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1979, được sửa đổi, bổ sung lần gần nhất vào năm 2021, http://www.npc.gov.cn/wxzlhgb/gb2021/202104/3a338df89b0a415481a9bf0571588f88/files/3d9248e0
1141484ead7d01b58958e0ae.pdf
.

[2] Luật An toàn giao thông đường bộ Trung Quốc năm 2003, được sửa đổi, bổ sung lần gần nhất vào năm 2021, https://baike.baidu.com/item/%E4%B8%AD%E5%8D%8E%E4%BA%BA%E6%B0%91%E5%85%B1%E5%
92%8C%E5%9B%BD%E9%81%93%E8%B7%AF%E4%BA%A4%E9%80%9A%E5%AE%89%E5%
85%A8%E6%B3%95/149277
.

[3] Government of Canada, Backgrounder, Changes to Impaired Driving Laws, https://www.canada.ca/en/health-canada/news/2017/04/backgrounder_changestoimpaireddrivinglaws.html.

[4] Alcool au volant, La réglementation, https://www.securite-routiere.gouv.fr/reglementation-liee-aux-risques/reglementation-de-lalcool-au-volant.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.
Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ, hồ sơ sức khỏe điện tử không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đặt ra thách thức lớn về bảo mật dữ liệu cá nhân. Mặc dù, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những tiến bộ quan trọng, đặc biệt với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành của Bộ Y tế, song còn tồn tại những hạn chế về chuẩn mực kỹ thuật, quyền tiếp cận dữ liệu, nghĩa vụ bảo mật của nhân viên y tế và chế tài xử lý. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử ở Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và đặt trong tổng thể chính sách chuyển đổi số y tế. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi theo hướng đồng bộ, hiện đại và nhân văn, nhằm bảo đảm quyền riêng tư, tăng cường niềm tin xã hội và xây dựng hệ sinh thái y tế số an toàn, bền vững.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ hội và thách thức đặt ra cho hoạt động đào tạo luật trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang phát triển nhanh và tác động mạnh mẽ đến giáo dục pháp luật. Từ việc nhận diện các yêu cầu đổi mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu đánh giá tiềm năng ứng dụng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật; đồng thời, chỉ ra những rủi ro liên quan như gian lận học thuật, sai lệch thông tin, định kiến thuật toán và các vấn đề đạo đức, pháp lý. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện khi tích hợp trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật tại Việt Nam.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp quyết liệt về phòng, chống hàng giả, tuy nhiên, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và hình thức. Bài viết nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng vi phạm hàng giả và những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự cần thiết phải thu hút và trọng dụng chuyên gia, trí thức, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài, nhằm tạo đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện cho thấy chính sách thu hút chuyên gia pháp luật ở nước ngoài của Việt Nam chưa hiệu quả, chưa khai thác được tiềm năng khoa học, trí thức của kiều bào. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá, gồm hoàn thiện cơ chế pháp lý, thiết lập tiêu chí, tiêu chuẩn lựa chọn, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút và phát huy tối đa vai trò của lực lượng này phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.
Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật là yêu cầu quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt biệt quan tâm. Ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hiện, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng. Bài viết nghiên cứu một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
Hoàn thiện pháp luật về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú

Hoàn thiện pháp luật về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú

Tóm tắt: Thời gian qua, nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, đặc biệt là các cơ sở nhỏ lẻ, chưa tuân thủ nghiêm các điều kiện về an ninh, trật tự; một số cơ sở hoạt động không phép hoặc cố tình lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để không thực hiện đúng các quy định pháp luật đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú. Từ thực tiễn này, bài viết nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: