Thứ tư 26/08/2026 08:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu khi tham gia giao thông đường bộ ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện

Rượu, bia là những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và có nguy cơ gây ra các vấn đề kinh tế - xã hội. Hậu quả của rượu, bia có thể xuất hiện ngay sau khi uống và nếu người sử dụng mà điều khiển phương tiện, vận hành máy móc thì rất dễ xảy ra tai nạn bởi khi có nồng độ cồn

Rượu, bia là những sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và có nguy cơ gây ra các vấn đề kinh tế - xã hội. Hậu quả của rượu, bia có thể xuất hiện ngay sau khi uống và nếu người sử dụng mà điều khiển phương tiện, vận hành máy móc thì rất dễ xảy ra tai nạn bởi khi có nồng độ cồn, người điều khiển phương tiện giao thông thường không làm chủ được thần kinh dẫn đến nguy cơ rất cao gây tai nạn giao thông (TNGT). Các báo cáo y học cho thấy, tỷ lệ TNGT và tử vong sau khi bị TNGT do sử dụng đồ uống có cồn luôn chiếm tỷ lệ cao. Do đó, cần nghiên cứu các giải pháp kiểm soát, hạn chế TNGT đường bộ có liên quan đến nồng độ cồn, tập trung vào bốn vấn đề: Cưỡng chế, giáo dục, hạ tầng kỹ thuật, cấp cứu. Trong đó, cưỡng chế bằng các quy định về giới hạn nồng độ cồn và chế tài xử phạt liên quan là biện pháp bảo đảm cho sự thành công và hiệu quả của các biện pháp khác.
Quy định về giới hạn nồng độ cồn trong máu (Blood Alcohol Concentration - BAC) trong pháp luật quốc gia là cốt lõi của mọi biện pháp giải quyết vấn đề TNGT có liên quan đến nồng độ cồn. Một trong những biện pháp hạn chế vi phạm quy định về BAC khi tham gia giao thông đường bộ (GTĐB) hàng đầu được thảo luận, triển khai là ban hành luật nhằm giới hạn BAC khi tham gia giao thông và áp dụng các chế tài xử phạt tùy theo mức độ vi phạm. Mặc dù được triển khai đồng bộ, quyết liệt và tạo được chuyển biến bước đầu, song vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm về nồng độ cồn điều khiển phương tiện gây TNGT, số người tử vong do TNGT gây ra còn ở mức cao. Vì vậy, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, trật tự xã hội, giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ TNGT liên quan đến chất có cồn.
1. Quy định pháp luật của một số quốc gia về xử phạt vi phạm nồng độ cồn
So sánh pháp luật của một số quốc gia quy định chế tài đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB cho thấy có nhiều quốc gia áp dụng chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi này mà không cần xét đến yếu tố hậu quả. Chính sách luật này đã mang lại hiệu quả tích cực. Cụ thể:
Tại Trung Quốc, Điều 133 Bộ luật Hình sự[1] quy định về tội gây sự cố giao thông, theo đó, người nào vi phạm pháp luật và các quy định quản lý giao thông vận tải (kể cả quy định về nồng độ cồn), gây thương tích nặng, chết người hoặc gây thiệt hại tài sản thì bị phạt tù không quá 03 năm, trường hợp đặc biệt nguy hiểm khác thì bị phạt tù không quá 07 năm. Điều 133-1 quy định chi tiết về tội lái xe nguy hiểm, theo đó, người nào điều khiển xe trên đường trong tình trạng say rượu sẽ bị tạm giữ hình sự và phạt tiền. Về chế tài xử phạt hành chính, các mức phạt cao nhất tại Điều 91 Luật An toàn giao thông đường bộ[2] dành cho người lái xe trong tình trạng say xỉn gồm: Bị giam giữ (tối đa 10 ngày hoặc 15 ngày), bị phạt tiền từ 1.000 ¥ - 2.000 ¥ hoặc bị phạt 5.000 ¥, tịch thu Giấy phép lái xe có thời hạn (05 năm, 10 năm hoặc vĩnh viễn).
Luật hình sự Canada cấm lái xe khi say rượu (với BAC ≥ 0,08 g/dL), các chế tài phạt tối thiểu đối với hành vi lái xe khi say rượu là phạt tiền tối đa 5.000 $ và phạt tù đến 06 tháng. Hình phạt tối đa cho hành vi lái xe khi say rượu gây chết người là tù chung thân[3].
Cộng hòa Pháp có những quy định rất nghiêm ngặt liên quan đến việc lái xe sau khi uống rượu, giới hạn BAC cho phép là dưới 0,05 g/dL. Trường hợp người lái xe có mức BAC từ 0,05 g/dL đến 0,08 g/dL thì mức phạt là từ 135 € - 750 € và phải chờ đến khi BAC giảm xuống dưới 0,05 g/dL mới được phép tiếp tục lái xe. Nếu người lái xe có mức BAC vượt quá 0,08 g/dL thì bị phạt tiền 4.500 € và phạt tù tối đa 02 năm. Trong mọi trường hợp, nếu quá giới hạn BAC 0,05 g/dL, người lái xe có thể bị thu giữ Giấy phép lái xe (lên đến 03 năm) cũng như phương tiện giao thông[4].
Kể từ năm 2008, Brazil thông qua Luật 11705 (thường được gọi là Lei Seca) áp dụng chế độ không khoan nhượng đối với nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông. Năm 2012, Brazil tiếp tục thông qua Luật 12760 quy định phạt 2.934,7 BRL và tước Giấy phép lái xe trong 12 tháng đối với người lái xe có bất kỳ mức BAC nào trên 0,00 g/dL và không quá 0,06 g/dL. Phạt tù từ 06 - 36 tháng đối với trường hợp có nồng độ cồn trong máu trên 0,06 g/dL.
Tựu trung lại, đối với quy định quản lý trật tự giao thông nhằm kéo giảm vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB, chính sách pháp luật ở một số nước trên thế giới có các điểm đáng chú ý sau: (i) Chế tài phạt rất nghiêm khắc và đa dạng hình thức xử phạt (phạt tiền, tịch thu phương tiện, đình chỉ hiệu lực Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc vĩnh viễn, tạm giữ người, phạt tù có thời hạn hoặc chung thân); (ii) Hình sự hóa (phạt tù) đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi tham gia GTĐB mà không cần xét đến yếu tố hậu quả gây thiệt hại cho người khác; (iii) Gặt hái được nhiều kết quả tốt (được chứng minh bởi các khảo sát, nghiên cứu khoa học độc lập, uy tín), góp phần đạt được các mục tiêu an toàn giao thông đã đề ra.
2. Pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu khi tham gia giao thông đường bộ
2.1. Quy định về giới hạn nồng độ cồn trong máu
Trước khi luật hóa, giới hạn BAC khi tham gia GTĐB tại Việt Nam được quy định tại Điều lệ an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị (ban hành kèm theo Nghị định số 36-CP của Chính phủ ngày 29/5/1995 về bảo đảm an toàn GTĐB và trật tự an toàn giao thông đô thị), trong đó, tại Điều 29 Điều lệ này nghiêm cấm người điều khiển các loại xe trong trường hợp người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá 80 mmg/100 mml máu (BAC ≤ 0,08 g/dL). Từ năm 2001, cơ sở pháp lý nhằm giới hạn BAC khi tham gia GTĐB tại Việt Nam được quy định tại Luật Giao thông đường bộ. Các lần sửa đổi năm 2018 và năm 2019 của đạo luật này liên tục siết chặt và ngày càng tăng cường giới hạn BAC khi tham gia GTĐB. Sau lần sửa đổi, bổ sung năm 2019, Luật quy định nghiêm cấm điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn (BAC = 0,00 g/dL). Trong khi đó, thông lệ tốt nhất của thế giới theo GsRRs 2018 là BAC ≤ 0,05 g/dL đối với người bình thường và BAC ≤ 0,02 g/dL đối với người trẻ tuổi hoặc người mới lái xe.
Như vậy, có thể thấy, mức giới hạn BAC của pháp luật Việt Nam từ năm 1995 đến nay đã tiệm cận và vượt qua thông lệ chung của thế giới, ấn định giới hạn BAC ở mức bằng không (0,00g/dL). Có nghĩa là, pháp luật Việt Nam hiện nay áp dụng chính sách luật theo quan điểm không khoan nhượng, nghiêm cấm người nào có nồng độ cồn trong cơ thể điều khiển phương tiện tham gia GTĐB, mà không cần quan tâm đến các mức chỉ số BAC như trước đây. Điều này thể hiện sự quyết tâm cao của Nhà nước trong việc hạn chế tối đa BAC đối với người tham gia giao thông nhằm tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Để người dân tuân thủ các quy định trên, Nhà nước đặt ra các chế tài xử lý vi phạm về nồng độ cồn khi tham gia giao thông dựa theo tính chất, mức độ vi phạm. Các chế tài gồm: (i) Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB; (ii) Truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.2. Xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng (Nghị định số 100/2019/NĐ-CP) quy định về đối tượng bị xử phạt và các mức xử phạt về hành vi điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, gồm phạt tiền và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB. Theo đó, có thể thấy, mức phạt tiền tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP là cao so mức thu nhập bình quân của 01 người 01 tháng. Ngoài ra, đối chiếu với Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt thì mức phạt đối với các hành vi điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP đã tăng lên nhiều lần.
Mặc dù vậy, mức phạt này vẫn chưa đủ sức răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và ít có tác dụng đối với người có thu nhập cao, làm cho tình trạng TNGT có liên quan đến vi phạm nồng độ cồn còn diễn ra phức tạp, gây mất an ninh, trật tự, an toàn GTĐB khiến việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát, kéo giảm TNGT năm 2022 theo Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông có khả năng không đạt được.
2.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài xử phạt vi phạm hành chính, Nhà nước còn áp dụng chế tài hình sự đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) xếp các tội xâm phạm an toàn giao thông tại Mục 1 Chương XXI quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trong đó có 03 tội danh liên quan tới nồng độ cồn trong máu khi tham gia GTĐB, gồm: Tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB (Điều 260), tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia GTĐB (Điều 263), tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia GTĐB (Điều 264). Các mức phạt quy định tại các điều này có liên quan đến nồng độ cồn đều được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã gây hậu quả cho người khác, gồm gây thiệt hại về tài sản, gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe (tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên) hay làm chết người.
Tác giả cho rằng, các quy định trên có tác dụng răn đe, trừng trị người phạm tội nhưng tác dụng phòng ngừa chung của các chế tài hình sự thì còn chưa đủ đáp ứng thực tiễn xã hội. Bởi lẽ, các chế tài hình sự này khiến cho người vi phạm có tâm lý chủ quan, tin rằng miễn là chưa gây ra hậu quả làm thiệt hại cho người khác thì người vi phạm chỉ bị áp dụng các chế tài hành chính khi bị xử lý.
Ngoài ra, đối với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB (Điều 260), Bộ luật Hình sự năm 2015 còn có chế tài xử phạt trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời với mức hình phạt tối đa lên đến 01 năm tù (khoản 4 Điều 260). Tuy nhiên, thế nào là “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời” thì chưa được quy định, hướng dẫn rõ ràng, dẫn đến trong thực tế chưa có vụ án nào liên quan đến điều này. Đồng thời, “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời” phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan, năng lực chủ thể thực hiện (có khả năng thực tế) cũng như các điều kiện ngoại cảnh (ngăn chặn kịp thời). Như vậy, đây là một điều khoản chế tài hình sự mà chính nó đã tự vô hiệu hóa, khó có khả năng áp dụng trên thực tế. Theo tác giả, cần thay đổi quan điểm theo hướng thừa nhận chỉ cần trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn (BAC > 0,00 g/dL) thì đã đủ khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời. Từ đó áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về nồng độ cồn khi tham gia GTĐB.
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2019/NĐ-CP theo hướng nâng mức xử phạt tiền đối với hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhằm bảo đảm tính răn đe hơn. Hiện mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi này chỉ đến 40 triệu đồng (tại khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP) tương đương với 4% mức trần phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính (1 tỷ đồng) quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017, 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng bổ sung hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề không thời hạn” làm cơ sở pháp lý cho việc bổ sung hình thức xử phạt “tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn” tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2019/NĐ-CP theo hướng bổ sung biện pháp ngăn chặn “tạm giữ người” theo thủ tục hành chính (phù hợp với khoản 1 Điều 119, điểm a khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đối với người tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn cho đến khi không còn nồng độ cồn (tối đa không quá 24 giờ theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Thứ tư, hình sự hóa hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn theo hướng loại bỏ dấu hiệu mô tả về hậu quả (gây thiệt hại). Do đó, cần bổ sung Điều 260a tại Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn với mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 15 năm tù hoặc cao hơn tùy theo tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả gây ra cho xã hội.

Hồ Bảo
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1979, được sửa đổi, bổ sung lần gần nhất vào năm 2021, http://www.npc.gov.cn/wxzlhgb/gb2021/202104/3a338df89b0a415481a9bf0571588f88/files/3d9248e0
1141484ead7d01b58958e0ae.pdf
.

[2] Luật An toàn giao thông đường bộ Trung Quốc năm 2003, được sửa đổi, bổ sung lần gần nhất vào năm 2021, https://baike.baidu.com/item/%E4%B8%AD%E5%8D%8E%E4%BA%BA%E6%B0%91%E5%85%B1%E5%
92%8C%E5%9B%BD%E9%81%93%E8%B7%AF%E4%BA%A4%E9%80%9A%E5%AE%89%E5%
85%A8%E6%B3%95/149277
.

[3] Government of Canada, Backgrounder, Changes to Impaired Driving Laws, https://www.canada.ca/en/health-canada/news/2017/04/backgrounder_changestoimpaireddrivinglaws.html.

[4] Alcool au volant, La réglementation, https://www.securite-routiere.gouv.fr/reglementation-liee-aux-risques/reglementation-de-lalcool-au-volant.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Tóm tắt: Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, nghĩa vụ nhận biết khách hàng của ngân hàng thương mại được đặt trong nhóm nghĩa vụ phòng ngừa tội phạm tài chính. Tính phòng ngừa thể hiện ở việc ngân hàng phải chủ động nhận diện nguy cơ ngay từ trước khi giao dịch phát sinh rủi ro. Hoạt động thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng không chỉ để nhận biết khách hàng, mà còn nhằm phát hiện khả năng ngân hàng bị lợi dụng để thực hiện hành vi rửa tiền. Nghiên cứu phân tích làm rõ vai trò của hoạt động nhận biết thông tin khách hàng; chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật về nhận biết, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng của ngân hàng thương mại; từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Xác định sự thật của vụ án là nguyên tắc cơ bản, chi phối hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này đã xác lập mục đích, hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định liên quan đến nguyên tắc này, từ đó, đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.
Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quá trình chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của các giao dịch tài chính số tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, đồng thời, cũng làm gia tăng các hành vi lừa đảo công nghệ cao, đặc biệt, các thủ đoạn lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó, nổi bật là công nghệ Deepfake. Công nghệ này cho phép giả mạo giọng nói, hình ảnh với độ chân thực cao, đe dọa trực tiếp cơ chế xác thực sinh trắc học và an toàn ngân hàng số. Nghiên cứu tập trung phân tích: (i) sự thiếu thống nhất trong định tội danh giữa Điều 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025; (ii) thách thức đối với giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử và sự thiếu quy chuẩn giám định AI chuyên biệt; (iii) khoảng trống trong cơ chế bảo vệ dữ liệu sinh trắc học, chế tài đối với hành vi thương mại hóa dữ liệu và cơ chế phong tỏa tài khoản trong giao dịch nghi ngờ gian lận. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng: làm rõ ranh giới định tội danh; xây dựng quy chuẩn giám định AI; hình sự hóa hành vi chiếm đoạt dữ liệu sinh trắc học; tăng cường cơ chế phong tỏa tài khoản có điều kiện… Các giải pháp này nhằm nâng cao năng lực ứng phó của hệ thống pháp lý trước tội phạm Deepfake trong kỷ nguyên số.
Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, việc thiết kế ngưỡng doanh thu miễn thuế hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả quản lý và công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu phân tích cơ chế ngưỡng thuế mềm dưới góc độ kinh tế học pháp luật, tập trung nhận diện các rủi ro hành vi phát sinh và đánh giá tính hợp lý của quy định hiện hành tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lợi ích chi phí, kết hợp so sánh kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra ngưỡng mềm có thể làm giảm hiện tượng né ngưỡng tại một điểm doanh thu nhất định, nhưng chưa loại bỏ hoàn toàn động cơ tránh né nghĩa vụ thuế, từ đó, đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng thiết kế biểu thuế phù hợp, xây dựng cơ chế chuyển tiếp rõ ràng và tăng cường các biện pháp kiểm soát tuân thủ nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng của chính sách thuế.
Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: