Thứ tư 24/06/2026 12:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.

Abstract: Arbitration is an alternative dispute resolution method outside the court, regulated by the Law on Commercial Arbitration 2010. However, in practice, there are still many different views on the application of the provisions of the Court proceedings to arbitration proceedings, leading to inconsistent application and interpretation of the law. This article analyzes and clarifies the application of the provisions of the Court proceedings to arbitration proceedings through a number of actual cases to assess the reasonableness of the application; from there, it makes a number of proposals to ensure consistency in the interpretation and application of the law.

Đặt vấn đề

Một số quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thể hiện là áp dụng cho Tòa án, trong khi pháp luật trọng tài không có các quy định tương tự áp dụng trong tố tụng trọng tài. Vậy, các quy định áp dụng cho Tòa án có mặc định áp dụng trong tố tụng trọng tài hay không. Vấn đề này còn có những quan điểm khác nhau trong thực tiễn áp dụng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bộ luật gốc, do đó, những quy định áp dụng cho tố tụng Tòa án phải được áp dụng cho tố tụng trọng tài. Quan điểm thứ hai cho rằng, tố tụng trọng tài là tố tụng riêng biệt, được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên không áp dụng quy định tương tự của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài. Từ thực tiễn, nghiên cứu, phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc cụ thể; từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất góp phần bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật về vấn đề này.

1. Thực tiễn áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài

Nghiên cứu đưa ra hai tình huống pháp lý thực tế thể hiện quan điểm khác nhau của các thẩm phán và trọng tài viên về vấn đề này.

Tình huống thứ nhất: Vụ tranh chấp số 79/21 tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).

Nguyên đơn - công ty có trụ sở tại Singapore, đã nộp các tài liệu khởi kiện, trong đó có Nghị quyết Hội đồng quản trị của nguyên đơn về việc ủy quyền cho cá nhân đại diện khởi kiện bị đơn tại VIAC. Tài liệu này không được hợp pháp hóa lãnh sự khi gửi tới Hội đồng trọng tài xét xử vụ tranh chấp này. Do đó, bị đơn đã căn cứ vào Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam” để phản đối tính hợp pháp của tài liệu trên trong quá trình tố tụng. Điều luật này thể hiện chủ thể nhận giấy tờ, tài liệu mà điều luật điều chỉnh là Tòa án Việt Nam.

Hội đồng trọng tài vụ việc này cho rằng, “Hội đồng trọng tài là cơ quan tiếp nhận (tài liệu từ nước ngoài) của Việt Nam có quyền không yêu cầu các tài liệu ủy quyền của nguyên đơn phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Hội đồng trọng tài cũng cho rằng Luật Trọng tài thương mại và các quy định khác của Việt Nam liên quan đến tố tụng trọng tài không có bất kỳ yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự nào đối với các tài liệu nước ngoài được sử dụng trong tố tụng trọng tài tại Việt Nam”[1].

Trong khi, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, tại Quyết định số 12/2023/QĐ-PQTT ngày 04/7/2023 về việc hủy phán quyết trọng tài, đã diễn giải: “khoản 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự”. Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”; khoản 3 Điều này quy định: “trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”. Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Bộ luật Tố tụng dân sự góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Như vậy, có thể hiểu, đây là những đạo luật gốc, cơ bản, khi các luật khác không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được coi là quy định pháp luật tương ứng) để giải quyết.

Trong vụ việc này, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn Luật không quy định thì được áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt có công chứng, chứng thực đã được hợp pháp hóa lãnh sự”. Vì vậy, VIAC đã thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận tư cách tham gia tố tụng của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn khi các tài liệu này chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, trong khi bị đơn phản đối là không đúng quy định[2].

Như vậy, trong vụ việc này, Hội đồng trọng tài và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có quan điểm trái ngược nhau trong việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài.

Tình huống thứ hai: Vụ tranh chấp số 28/16 tại VIAC.

Trong tình huống pháp lý này, tranh luận giữa các bên liên quan đến vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài. Dưới góc độ nghiên cứu, có thể coi vấn đề thời hiệu khởi kiện thuộc về tố tụng, mặc dù, trên thực tế, đây là vấn đề đang tồn tại các quan điểm khác nhau[3].

Đại diện của bị đơn trong vụ tranh chấp này đã phản đối việc Hội đồng trọng tài áp dụng Điều 162 Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc “bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện” vụ án dân sự. Bị đơn đã viện dẫn khái niệm về thời hiệu khởi kiện tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2005: “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” và lập luận rằng khái niệm thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được định nghĩa là thời hiệu cho tố tụng tại Tòa án và không đề cập đến tố tụng trọng tài. Do đó, quy định về “bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện” trong Bộ luật Dân sự năm 2005 là quy định áp dụng cho khởi kiện tại Tòa án.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (là văn bản pháp luật ra đời sau Bộ luật Dân sự năm 2005) quy định về thời hiệu khởi kiện theo tố tụng trọng tài nhưng không quy định trực tiếp hay dẫn chiếu đến việc áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện tại Bộ luật Dân sự năm 2005 vào tố tụng trọng tài. Do đó, đại diện của bị đơn cho rằng, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã chủ ý không quy định về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài. Vì vậy, đại diện của bị đơn đã phản đối việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện trong tố tụng tại Tòa án vào tố tụng trọng tài.

Trong khi đó, tại Quyết định số 01/2018/QĐ-PQTT ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc không hủy phán quyết trọng tài cho rằng, Hội đồng trọng tài áp dụng Điều 162 Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở[4], mặc dù, Tòa án không đưa ra diễn giải cụ thể về vấn đề áp dụng tương ứng quy định cho tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài. Như vậy, trong vụ tranh chấp này, Hội đồng trọng tài và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có cùng quan điểm về việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài.

Hai vụ việc trên đã thể hiện sự thiếu nhất quán trong cách hiểu, diễn giải và áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài. Việc áp dụng không thống nhất dẫn đến nguy cơ áp dụng pháp luật thiếu đồng nhất trong các cơ quan phán xử, ảnh hưởng đến tính ổn định của các phán quyết trọng tài, gia tăng rủi ro pháp lý và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp vào cơ chế trọng tài tại Việt Nam.

Nguyên nhân chính dẫn đến những quan điểm khác nhau trong áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài xuất phát từ việc Việt Nam chưa có quy định hay lý thuyết chi tiết về các nguyên tắc trong việc diễn giải pháp luật. Mặc dù, trên lý thuyết, thẩm quyền diễn giải luật thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội[5] và các nguyên tắc diễn giải được nêu một cách sơ bộ tại Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (trước đây là tại Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015). Tuy nhiên, khi các tranh chấp xảy ra, việc diễn giải pháp luật để giải quyết tranh chấp đó trước tiên và thực tế sẽ phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có quyền ra phán quyết đối với tranh chấp. Cùng một quy định nhưng cách hiểu của mỗi chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn thiếu nhất quán, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đồng nhất, mang thiên hướng chủ quan. Điều này dẫn đến thiếu tính logic, không khách quan và thiếu tính thuyết phục của các phán quyết, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia tố tụng.

2. Đánh giá việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài

2.1. Việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài từ góc độ giải thích pháp luật

Trong tình huống áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, quan điểm ủng hộ việc áp dụng thường lý giải tương tự như tình huống pháp lý thứ nhất, đó là “khi các luật khác không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự hoặc Bộ luật Tố tụng dân sự (được coi là quy định pháp luật tương ứng) để giải quyết. Trong vụ việc này, Luật Trọng tài thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật Trọng tài thương mại không quy định thì được áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”[6].

Tuy nhiên, việc lý giải do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không quy định nên áp dụng tương ứng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài là chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc giải thích pháp luật được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các nguyên tắc phổ biến trên thế giới.

Ví dụ, việc diễn giải Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam trong Vụ tranh chấp số 79/21 tại VIAC. Nếu tuân thủ theo nguyên tắc “việc giải thích luật phải phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp, luật, pháp lệnh” tại điểm b khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 hoặc nguyên tắc “phù hợp với nghĩa phổ thông của từ ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật đó” tại điểm a khoản 2 Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, thì nội dung của Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi rõ là áp dụng cho “tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam” cần phải được hiểu là Điều luật này áp dụng cho việc gửi tài liệu tới “Tòa án Việt Nam” mà không phải là một cơ quan nào khác.

Với Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu nhà làm luật có ý chí áp dụng Điều luật này cho các cơ quan khác ngoài Tòa án thì có thể cụm từ “Tòa án hoặc trọng tài Việt Nam” hoặc “cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp” đã được sử dụng trong điều luật mà không phải chỉ giới hạn ở cụm từ “Tòa án Việt Nam”.

Việc giải thích luật căn cứ theo nội dung, ngôn ngữ của điều luật tại điểm b khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cũng phù hợp với việc giải thích luật theo nguyên tắc ngữ nghĩa thuần (literal rules)[7] phổ biến trong hệ thống Common Law, nguyên tắc này yêu cầu Tòa án phải tôn trọng trước tiên ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và cấu trúc câu để giải thích ý nghĩa.

Ngoài ra, việc giải thích do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không quy định nên áp dụng tương ứng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài vô hình trung đã sửa đổi nội dung của điều luật trong tố tụng Tòa án và tạo ra quy định mới, do đó, vi phạm nguyên tắc tại điểm c khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, đó là: “không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới”. Điều này cũng không phù hợp với nguyên tắc phổ biến khác trên thế giới là nguyên tắc sửa lỗi (mischief rules)[8] trong hệ thống common law, nguyên tắc này không chỉ cân nhắc ngữ nghĩa câu chữ của điều luật mà còn cân nhắc cả mục đích lập pháp khi điều luật được ban hành nhằm giải quyết những “lỗ hổng” của pháp luật trước đó. Nếu theo nguyên tắc này, việc giải thích luật phải làm rõ được sự liên quan giữa các đạo luật và mục đích ban hành của quy định được diễn giải nhằm giải quyết “lỗ hổng” nào của quy định trước đó. Trong trường hợp này, nếu áp dụng nguyên tắc sửa lỗi thì phải làm rõ được sự liên quan giữa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010, mục đích ban hành của điều luật được diễn giải (ví dụ, Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) nhằm giải quyết “lỗ hổng” nào của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hay Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Việc giải thích Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không quy định nên áp dụng tương ứng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài đã không tuân thủ nguyên tắc này vì đã bỏ qua mục đích lập pháp khi ban hành pháp luật về trọng tài, đó là tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp khác độc lập với cơ chế tại Tòa án, đồng thời, cũng không chỉ rõ đâu là “lỗ hổng” của các luật trước đó mà điều luật được diễn giải (ví dụ, Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) để giải quyết.

2.2. Việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài từ góc độ áp dụng tương tự pháp luật

Việc giải thích do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không quy định nên áp dụng tương ứng quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài có bản chất là áp dụng tương tự pháp luật được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015[9]. Thực tiễn cho thấy, mục đích chính của việc áp dụng tương tự pháp luật nhằm mục đích khắc phục việc thiếu nguồn luật để điều chỉnh một vấn đề pháp lý. Trong quá trình làm luật, các nhà làm luật đều cố gắng dự kiến đến mức tối đa các trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong đời sống xã hội để điều chỉnh kịp thời, nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, các tranh chấp diễn ra trên thực tế không phải lúc nào cũng có các quy phạm trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó. Đây chính là tình trạng thiếu pháp luật, tình trạng pháp luật có những lỗ hổng, những khoảng trống nhất định[10]. Trong trường hợp này, để bảo đảm công lý, bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể trong quan hệ dân sự, chủ thể có thẩm quyền không thể chờ đến khi ban hành quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh vụ việc mới giải quyết mà phải giải quyết ngay bằng cách thừa nhận việc áp dụng tương tự pháp luật[11]. Như vậy, mục đích của áp dụng tương tự pháp luật là nhằm đưa ra một nguồn luật để cơ quan giải quyết tranh chấp có thể căn cứ vào để giải quyết được những quan hệ pháp luật mới mà luật pháp chưa có quy định điều chỉnh.

Về vấn đề áp dụng tương tự quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng tương tự tại các tình huống pháp lý thực tế trên là chưa thực sự phù hợp với bản chất và mục đích của áp dụng tương tự pháp luật. Áp dụng tương tự pháp luật nhằm mục đích xử lý khi không có nguồn luật điều chỉnh trực tiếp một vấn đề pháp lý và nếu không áp dụng tương tự pháp luật thì cơ quan giải quyết không có cơ sở pháp lý để giải quyết được vấn đề đó. Do đó, nếu các vấn đề pháp lý đó hoàn toàn có thể giải quyết được dựa vào nguồn luật về trọng tài thì việc áp dụng quy định của tố tụng Tòa án là sai bản chất, mục đích của việc áp dụng tương tự pháp luật.

Ngoài ra, không có cơ sở để cho rằng, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có những “lỗ hổng” và cần áp dụng tương tự pháp luật để xử lý. Bởi, vấn đề áp dụng tương tự pháp luật thường đặt ra cho các tình huống mà luật có “lỗ hổng” nào đó, ở một bối cảnh mới và chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, nếu nhìn ở khía cạnh lịch sử lập pháp thì Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự từ năm 1995 đến nay đều không dẫn chiếu việc áp dụng tương tự các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài. Với những quy phạm áp dụng cho Tòa án, các nhà làm luật dùng câu chữ dẫn chiếu cụ thể đến Tòa án thay vì quy định Tòa án và trọng tài hay cơ quan giải quyết tranh chấp. Cách diễn giải này lặp lại trong nhiều lần ban hành Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Pháp lệnh Trọng tài thương mại và Luật Trọng tài thương mại. Mặt khác, tố tụng trọng tài ra đời sau tố tụng Tòa án và mang những đặc trưng riêng biệt về tính linh động, nhanh gọn, tập trung vào tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và tôn trọng tối đa thỏa thuận của các bên tranh chấp. Do đó, việc chưa có quy định như tố tụng Tòa án trong tố tụng trọng tài là hoàn toàn dễ hiểu và phù hợp với bản chất của loại hình tố tụng này.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần xây dựng và pháp điển các nguyên tắc khi giải thích pháp luật. Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc các nguyên tắc diễn giải pháp luật phổ biến trên thế giới đã được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia trong hệ thống Common Law, bởi hệ thống này đề cao việc giải thích pháp luật của Tòa án - chủ thể chính trong việc giải thích pháp luật để xử lý các tranh chấp. Theo đó, việc giải thích ý nghĩa của điều luật cần phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, như: (i) nguyên tắc ngữ nghĩa thuần (literal rule): yêu cầu người giải thích điều luật phải tôn trọng trước tiên ý nghĩa nguyên văn của từ và cấu trúc câu để giải thích; (ii) nguyên tắc vàng (golden rules)[12]: áp dụng khi ngữ nghĩa thông thường của câu chữ tạo ra sự mơ hồ hoặc không nhất quán thì Tòa án sẽ có quyền giải thích theo cách rộng hơn để loại bỏ sự mơ hồ đó; (iii) nguyên tắc sửa lỗi (the mischief rule): nguyên tắc này không chỉ cân nhắc ngữ nghĩa câu chữ của điều luật mà còn cân nhắc cả mục đích lập pháp khi luật mới được ban hành nhằm giải quyết những “lỗ hổng” của luật cũ.

Thứ hai, trong quá trình lập pháp, các nhà làm luật (đặc biệt, pháp luật trọng tài và Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), cần phải rà soát tổng thể các chế định pháp luật áp dụng tại tố tụng Tòa án để quyết định các chế định nào sẽ áp dụng trong tố tụng trọng tài, các chế định nào sẽ không được áp dụng trong tố tụng trọng tài và phản ánh cụ thể ý chí này vào các văn bản quy phạm pháp luật về trọng tài trong thời gian sớm nhất.

Kết luận

Như vậy, nghiên cứu, phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua các vụ việc thực tế để đánh giá về tính hợp lý trong việc áp dụng. Từ thực trạng áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài đang tồn tại những quan điểm không thống nhất giữa các cơ quan giải quyết tranh chấp, nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc thiếu nhất quán trong diễn giải và áp dụng pháp luật trong vấn đề này cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên./.

LS. Trịnh Ngọc Tuấn

Công ty Luật TNHH TS Law

[1]. Quyết định số 12/2023/QĐ-PQTT ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc hủy phán quyết trọng tài, tr. 20.

[2]. Quyết định số 12/2023/QĐ-PQTT ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc hủy phán quyết trọng tài, tr. 21.

[3]. Tưởng Duy Lượng, Thời hiệu khởi kiện thuộc pháp luật nội dung hay pháp luật tố tụng - Đôi điều kiến nghị, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/thoi-hieu-khoi-kien-thuoc-phap-luat-noi-dung-hay-phap-luat-to-tung-doi-dieu-kien-nghi?, truy cập ngày 07/5/2025.

[4]. Quyết định số 01/2018/QĐ-PQTT ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc không hủy phán quyết trọng tài, tr. 6.

[5]. Xem khoản 3 Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và khoản 2 Điều 159 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[6]. Quyết định số 12/2023/QĐ-PQTT ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc hủy phán quyết trọng tài, tr. 21.

[7]. Riya Ramesh Pandey (2023), An Overview on the Literal Rule of Interpretation of Statute, International Journal of Law Management & Humanities, https://ijlmh.com/paper/an-overview-on-the-literal-rule-of-interpretation-of-statute/#, truy cập ngày 07/5/2025.

[8]. Shrikant P Thombre (2019), General principles of statutory interpretation with special reference to golden rule & mischief rule, International Journal of Law, https://www.lawjournals. org/assets/archives/2019/vol5issue6/5-6-45-706.pdf, truy cập ngày 07/5/2025.

[9]. Xem Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[10]. Nguyễn Thị Hồi (2009), Áp dụng pháp luật ở Việt nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, tr. 86.

[11]. Dương Quỳnh Hoa (2017), Áp dụng pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15(343) - tháng 8/2017.

[12]. Shrikant P Thombre (2019), General principles of statutory interpretation with special reference to golden rule & mischief rule, International Journal of Law, https://www.lawjournals. org/assets/archives/2019/vol5issue6/5-6-45-706.pdf, truy cập ngày 07/5/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Quỳnh Hoa (2017), Áp dụng pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Viện Nghiên cứu lập pháp, số 15(343) tháng 8/2017.

2. Nguyễn Thị Hồi (2009), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp.

3. Riya Ramesh Pandey (2023), An Overview on the Literal Rule of Interpretation of Statute, International Journal of Law Management & Humanities, https://ijlmh.com/paper/an-overview-on-the-literal-rule-of-interpretation-of-statute/#, truy cập ngày 07/5/2025.

4. Shrikant P Thombre (2019), General principles of statutory interpretation with special reference to golden rule & mischief rule, International Journal of Law, https://www.lawjournals.org/assets/archives/2019/ vol5issue6/5-6-45-706.pdf, truy cập ngày 07/5/2025.

5. Tưởng Duy Lượng (2019), Thời hiệu khởi kiện thuộc pháp luật nội dung hay pháp luật tố tụng - Đôi điều kiến nghị, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/thoi-hieu-khoi-kien-thuoc-phap-luat-noi-dung-hay-phap-luat-to-tung-doi-dieu-kien-nghi?, truy cập ngày 07/5/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (434) tháng 8/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quá trình chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của các giao dịch tài chính số tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, đồng thời, cũng làm gia tăng các hành vi lừa đảo công nghệ cao, đặc biệt, các thủ đoạn lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó, nổi bật là công nghệ Deepfake. Công nghệ này cho phép giả mạo giọng nói, hình ảnh với độ chân thực cao, đe dọa trực tiếp cơ chế xác thực sinh trắc học và an toàn ngân hàng số. Nghiên cứu tập trung phân tích: (i) sự thiếu thống nhất trong định tội danh giữa Điều 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025; (ii) thách thức đối với giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử và sự thiếu quy chuẩn giám định AI chuyên biệt; (iii) khoảng trống trong cơ chế bảo vệ dữ liệu sinh trắc học, chế tài đối với hành vi thương mại hóa dữ liệu và cơ chế phong tỏa tài khoản trong giao dịch nghi ngờ gian lận. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng: làm rõ ranh giới định tội danh; xây dựng quy chuẩn giám định AI; hình sự hóa hành vi chiếm đoạt dữ liệu sinh trắc học; tăng cường cơ chế phong tỏa tài khoản có điều kiện… Các giải pháp này nhằm nâng cao năng lực ứng phó của hệ thống pháp lý trước tội phạm Deepfake trong kỷ nguyên số.
Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, việc thiết kế ngưỡng doanh thu miễn thuế hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả quản lý và công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu phân tích cơ chế ngưỡng thuế mềm dưới góc độ kinh tế học pháp luật, tập trung nhận diện các rủi ro hành vi phát sinh và đánh giá tính hợp lý của quy định hiện hành tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lợi ích chi phí, kết hợp so sánh kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra ngưỡng mềm có thể làm giảm hiện tượng né ngưỡng tại một điểm doanh thu nhất định, nhưng chưa loại bỏ hoàn toàn động cơ tránh né nghĩa vụ thuế, từ đó, đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng thiết kế biểu thuế phù hợp, xây dựng cơ chế chuyển tiếp rõ ràng và tăng cường các biện pháp kiểm soát tuân thủ nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng của chính sách thuế.
Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.

Theo dõi chúng tôi trên: