Thứ năm 30/04/2026 15:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.

Từ khóa: động vật hoang dã; xử lý vi phạm; hoàn thiện pháp luật; đa dạng sinh học.

Abstract: In recent years, the legal system on handling violations in the field of wildlife protection has had many positive changes. However, practice shows that there are still many shortcomings in regulations and enforcement organization, affecting the effectiveness of State management. Based on the assessment, current legal status and practical application, this study proposes a number of solutions to complete the law and enhancing the effectiveness of handling violations in the field of wildlife protection.

Keywords: Wildlife; handling violations; completing the law; biodiversity.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế bền vững, yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường, đặc biệt, trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) ngày càng trở nên cấp thiết. Việc bảo vệ ĐVHD không chỉ góp phần duy trì đa dạng sinh học, cân bằng hệ sinh thái, mà còn thể hiện trách nhiệm quốc gia trong việc hoàn thiện các cam kết quốc tế. Những năm gần đây, tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD ngày càng diễn biến phức tạp với quy mô rộng và tính chất nghiêm trọng. Mặc dù, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực này đã được xây dựng tương đối đầy đủ, song, một số quy định cũng như cơ chế tổ chức thực thi còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiện đại. Do đó, yêu cầu đặt ra việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, nâng cao hiệu quả thực thi vấn đề này trên thực tế, qua đó, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ ĐVHD trong tình hình mới.

1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

1.1. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

1.1.1. Xử lý vi phạm hành chính

Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD được xây dựng tương đối đầy đủ và mang tính liên ngành. Cụ thể:

Thứ nhất, về hành vi vi phạm, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với các hành vi xâm hại đến động vật rừng, Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ (Nghị định số 35/2019/NĐ-CP) quy định rõ: hành vi săn, bắt, giết, nuôi, nhốt động vật rừng trái phép bị xử phạt từ 01 triệu đến 400 triệu đồng; hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chế biến động vật rừng hoặc sản phẩm, bộ phận của chúng bị xử phạt tối đa 360 triệu đồng, tùy tính chất, giá trị và loài vi phạm.

Một số hành vi quảng cáo liên quan đến ĐVHD cũng bị xử lý nghiêm như quảng cáo các loài ĐVHD có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên thuộc Phụ lục III Luật Đầu tư năm 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Đầu tư năm 2020) sẽ bị phạt từ 70 - 100 triệu đồng theo Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; quảng cáo động vật rừng không thuộc danh mục trên có thể bị xử phạt từ 01 - 1,5 triệu đồng theo Nghị định số 35/2019/NĐ-CP.

Đối với vi phạm liên quan đến hồ sơ, nguồn gốc lâm sản, mức xử phạt được quy định từ 500 nghìn đến 10 triệu đồng, có thể tăng lên đến 300 triệu đồng trong các trường hợp tang vật có giá trị lớn hoặc vi phạm có tổ chức.

Trong lĩnh vực thủy sản, Điều 28, Điều 41 Nghị định số 38/2024/NĐ-CP ngày 05/4/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản quy định các hành vi thu gom, mua bán, lưu giữ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển thủy sản trái phép các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm hoặc loài thuộc Phụ lục I, II, III Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) mà không có nguồn gốc hợp pháp sẽ bị xử phạt từ 10 - 100 triệu đồng; nếu vi phạm liên quan đến các loài có nguồn gốc từ khai thác bất hợp pháp hoặc loài thủy sản không có tên trong danh mục được phép kinh doanh tại Việt Nam hoặc không có nguồn gốc hợp pháp, mức phạt có thể lên đến 40 triệu đồng. Với hành vi khai thác bằng điện trái phép, mức xử phạt dao động từ 03 - 50 triệu đồng kèm biện pháp tịch thu công cụ vi phạm.

Đặc biệt, hành vi vi phạm quy định về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại được xem là nghiêm trọng và có thể bị xử phạt từ 01 triệu đến 01 tỷ đồng theo quy định tại Điều 51 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nghị định số 45/2022/NĐ-CP), kèm theo các biện pháp buộc tiêu hủy, tái xuất hoặc khôi phục trạng thái ban đầu môi trường bị xâm hại.

Thứ hai, về chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) cùng các nghị định chuyên ngành như Nghị định số 35/2019/NĐ-CP và Nghị định số 45/2022/NĐ-CP, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD được trao cho nhiều chủ thể, gồm: kiểm lâm, Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, quản lý thị trường, hải quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp. Mỗi chủ thể có phạm vi, giới hạn thẩm quyền riêng, được phân cấp theo từng cấp độ hành chính, tính chất hành vi và giá trị tang vật vi phạm.

Các chủ thể này đều có quyền xử phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ hoạt động khai thác, nuôi nhốt, chế biến, kinh doanh ĐVHD trong thời hạn từ 06 - 12 tháng; đồng thời, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc tiêu hủy mẫu vật, khôi phục môi trường sống tự nhiên hoặc nộp lại khoản thu lợi bất chính.

Thứ ba, về hình thức xử lý và chế tài áp dụng. Pháp luật hiện hành quy định 03 nhóm chế tài trong xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ ĐVHD, gồm: hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Trong đó, xử phạt chính chủ yếu là phạt tiền, với mức tối thiểu là 500 nghìn đồng và tối đa lên đến 01 tỷ đồng đối với cá nhân; tổ chức vi phạm chịu mức phạt gấp đôi. Mức phạt cụ thể được xác định dựa trên nhiều yếu tố: tính chất hành vi, mức độ nguy cấp của loài, số lượng cá thể…

Các hình thức xử phạt bổ sung thường được áp dụng, gồm: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ hoạt động; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề…

Biện pháp khắc phục hậu quả cũng được quy định khá chi tiết, như: buộc tiêu hủy mẫu vật, khôi phục tình trạng môi trường ban đầu, buộc tái xuất loài ngoại lai xâm hại hoặc buộc nộp lại khoản thu lợi bất chính. Việc kết hợp linh hoạt các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được xem là công cụ hiệu quả giúp tăng cường tính răn đe và ngăn ngừa tái phạm.

Thứ tư, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định tương đối đầy đủ các bước xử lý, từ phát hiện đến thi hành quyết định xử phạt. Theo đó, khi phát hiện hành vi vi phạm, người có thẩm quyền phải lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 58), xác minh tình tiết (các điều 59, 60), ra quyết định xử phạt trong thời hạn luật định (Điều 66) và tổ chức thi hành (các điều 67, 68). Người vi phạm có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện. Đặc biệt, nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm trong quá trình xử lý hành chính, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tiến hành tố tụng để xử lý theo quy định pháp luật hình sự.

1.1.2. Xử lý vi phạm hình sự

Chính sách xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm ĐVHD có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt, từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015) có hiệu lực, trong đó, phân hóa rõ hai tội danh:

- Tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD (Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015): quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ĐVHD hoặc bộ phận, sản phẩm của chúng trong trường hợp không thuộc nhóm đặc biệt nguy cấp. Hành vi vi phạm bị truy cứu nếu giá trị tang vật đạt từ 150 triệu đến dưới 700 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng. Ngoài ra, người đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi tương tự mà chưa được xóa án tích cũng sẽ bị xử lý hình sự nếu tái phạm, dù giá trị vi phạm dưới ngưỡng nêu trên. Hình phạt gồm phạt tiền (50 triệu đến 1,5 tỷ đồng) hoặc phạt tù (06 tháng đến 12 năm), tùy theo tính chất, mức độ hành vi.

- Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015): quy định TNHS đối với hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc các loài thuộc Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES. Ngoài ra, các hành vi liên quan đến ngà voi, sừng tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật, cũng bị xử lý nếu vượt quá các định lượng cụ thể. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả hành vi, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 - 15 năm. Các yếu tố như vi phạm có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, buôn bán xuyên biên giới, sử dụng công cụ bị cấm hoặc vi phạm số lượng lớn là tình tiết tăng nặng, có thể dẫn đến mức án cao nhất trong khung.

Đặc biệt, khoản 5 Điều 234 và khoản 5 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại. Theo đó, pháp nhân có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 06 tỷ đồng hoặc từ 01 - 15 tỷ đồng, tùy theo tính chất, mức độ hành vi. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn, cùng với các hình phạt bổ sung như cấm kinh doanh, cấm huy động vốn. Quy định này thể hiện rõ nỗ lực của Việt Nam trong đấu tranh với các hành vi vi phạm có tổ chức, thông qua doanh nghiệp hoặc mang tính xuyên quốc gia, đồng thời, phù hợp với xu hướng lập pháp hiện đại và các cam kết quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học.

2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

Mặc dù, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD đã có bước phát triển đáng ghi nhận, thể hiện ở sự đa dạng hình thức xử lý, mở rộng chủ thể bị xử lý và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, nhiều quy định và việc tổ chức thực thi còn bất cập, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ ĐVHD trong bối cảnh hiện nay.

Thứ nhất, việc giải thích và áp dụng một số khái niệm pháp lý liên quan đến ĐVHD chưa thống nhất, gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm. Các cụm từ như “ĐVHD”, “ĐVHD gây nuôi”, “động vật rừng”, “động vật rừng thông thường” chưa được quy định đồng bộ trong các văn bản pháp luật hiện hành. Luật Lâm nghiệp năm 2017 không giải thích thế nào là “động vật rừng” mặc dù khoản 16 Điều 2 Luật này quy định: “Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến”. Theo cách hiểu này, “động vật rừng” phải khai thác từ rừng mới được coi là lâm sản, điều này đồng nghĩa với việc, các loài ĐVHD không khai thác từ rừng (chim hoang dã, chim di cư bị bẫy, bắt trên cánh đồng…) không phải là lâm sản và không thuộc đối tượng quản lý trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Bên cạnh đó, Điều 44 Luật Đa dạng sinh học năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật Đa dạng sinh học năm 2008) quy định việc khai thác các loài hoang dã trong tự nhiên phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản và các quy định liên quan. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay hợp nhất là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) có trách nhiệm ban hành các quy định cụ thể và công bố định kỳ Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên và Danh mục loài được khai thác có điều kiện. Tuy nhiên, đến nay, chưa có quy định hướng dẫn thực hiện điều này, ngoài Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước CITES, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Điều này gây không ít khó khăn cho lực lượng kiểm lâm, bởi khi đến mùa chim di cư, kiểm lâm không có căn cứ pháp lý để xác định loài chim nào bị cấm săn bắt và không thể xử lý các hành vi giăng lưới, bẫy, bắt chim hoang dã, chim di cư… tại nhiều địa phương trên cả nước[1].

Thứ hai, một số quy định pháp luật còn bất cập, chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình áp dụng để xử lý vi phạm:

- Điểm d khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi săn, bắt, giết, vận chuyển ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm trái phép thuộc Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES với số lượng 03 - 07 cá thể lớp thú, 07 - 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 - 15 cá thể động vật lớp khác thì sẽ bị truy cứu TNHS; nếu không đủ số lượng cá thể theo từng lớp sẽ không bị truy cứu TNHS. Quy định này là chưa chặt chẽ, trường hợp một cá nhân hoặc pháp nhân buôn bán tới 17 cá thể động vật được bảo vệ thuộc Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES (ví dụ, 02 cá thể động vật có vú, 06 cá thể chim hoặc bò sát và 09 cá thể thuộc các lớp sinh học khác) sẽ không bị truy cứu TNHS, trong khi một đối tượng bị phát hiện buôn bán 03 cá thể động vật có vú thuộc Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều này cho thấy, sự không công bằng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi so với chế tài tương ứng, làm giảm tính răn đe và có thể dẫn tới khả năng bỏ lọt tội phạm[2].

- Cơ quan điều tra gặp khó khăn trong việc áp dụng pháp luật đối với các tang vật như vảy tê tê, do pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc quy đổi trọng lượng vảy tê tê sang số cá thể. Theo quy định tại Phụ lục I Công ước CITES, hành vi xâm hại từ 03 cá thể sẽ bị truy tố, tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định quy đổi bao nhiêu vảy tê tê sẽ tương ứng với số lượng cá thể cần thiết để truy cứu TNHS[3]. Bên cạnh đó, Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015 sử dụng giá trị tang vật làm căn cứ định tội đối với hành vi xâm hại đến các loài thuộc Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước CITES. Tuy nhiên, việc đặt ngưỡng từ 150 triệu đồng trở lên để truy cứu TNHS là chưa thực sự phù hợp với thực tiễn. Nhiều trường hợp vi phạm như buôn bán, vận chuyển, nuôi nhốt trái phép ĐVHD tuy có hành vi rõ ràng, nhưng do giá trị tang vật không đủ ngưỡng nên chỉ bị xử phạt hành chính. Quy định này làm giảm tính răn đe của pháp luật, không phản ánh đúng mức độ nguy hiểm của hành vi, đặc biệt, trong bối cảnh tội phạm về ĐVHD diễn biến phức tạp, có tổ chức và ngày càng tinh vi.

- Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP) đã đưa ra khái niệm “bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống” (khoản 5 Điều 2) nhưng lại thiếu tiêu chí cụ thể để xác định thời điểm động vật chết (ngay lập tức hay sau một thời gian), dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng. Ngay cả cơ quan giám định chuyên môn cũng gặp khó khăn khi đánh giá một bộ phận cụ thể có thuộc diện này hay không, do tiêu chí mang tính định tính, chưa có hướng dẫn kỹ thuật rõ ràng.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa quy định cụ thể thời điểm xác định mùa sinh sản, mùa di cư của từng loài, dù đây là yếu tố quan trọng để áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm đ khoản 2 Điều 234 và điểm h khoản 2 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý vi phạm trong những thời kỳ đặc biệt này.

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, hành vi tàng trữ cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của ĐVHD từ trước ngày 01/01/2018 không bị truy cứu TNHS, trừ khi có mục đích buôn bán, thu lợi bất chính. Trên thực tế, quy định này tạo kẽ hở cho các đối tượng vi phạm lợi dụng khai báo gian dối về thời điểm và nguồn gốc tang vật, gây khó khăn cho việc xác minh và xử lý.

Thứ ba, công tác giám định và định giá tang vật là ĐVHD gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xử lý vi phạm. Theo Quyết định số 2249/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/6/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chỉ định cơ quan khoa học CITES Việt Nam, hiện, có 04 cơ quan khoa học CITES Việt Nam được chỉ định, trong đó, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Viện Nghiên cứu Hải sản là hai đơn vị có thẩm quyền giám định chuyên môn về ĐVHD. Tuy nhiên, kết quả giám định giữa các cơ quan này chưa được chia sẻ hoặc thống nhất trong hệ thống thực thi pháp luật, gây thiếu đồng bộ trong xử lý và thống kê. Ngoài ra, nhiều cơ quan chức năng còn chưa nắm rõ đầu mối chuyên môn, dẫn đến lúng túng trong việc trưng cầu giám định khi phát sinh vụ việc.

Bên cạnh đó, hiện, chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục lấy mẫu giám định đối với tang vật là ĐVHD (thời gian trưng cầu, cách lấy mẫu (đối với cá thể sống hoặc chết), bảo quản, bàn giao và công nhận kết quả). Đối với các mẫu vật thuộc Phụ lục I Công ước CITES tịch thu được đều phải tiến hành trưng cầu giám định ở các cơ quan khác nhau như Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật hoặc Viện Khoa học Lâm nghiệp. Tuy nhiên, do trang thiết bị, kinh nghiệm và kỹ năng giám định khác nhau dẫn đến nhiều trường hợp cùng một mẫu vật nhưng kết quả giám định không thống nhất hoặc trái chiều, gây khó khăn cho cơ quan xử lý vụ việc[4].

Đồng thời, hiện, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về phương pháp xác định giá trị của tang vật là ĐVHD mà thường được thực hiện dựa trên giá trị thị trường, song, đây là tiêu chí không ổn định và thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, nhất là trong bối cảnh ĐVHD thường không được giao dịch hợp pháp trên thị trường công khai. Nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải tham khảo ý kiến chuyên gia, tổ chức bảo tồn hoặc căn cứ vào giá thị trường “chợ đen”, dẫn đến có nhiều quan điểm trái chiều về kết quả định giá và thiếu cơ sở pháp lý.

Thứ tư, việc xử lý vật chứng là ĐVHD, đặc biệt, các cá thể sống, chưa có cơ chế thống nhất.

Có cơ quan quyết định tiêu hủy, có cơ quan giao cho kiểm lâm, có cơ quan giao cho bảo tàng; có Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy, có Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước[5]. Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc tiếp nhận, chăm sóc và bảo quản ĐVHD là vật chứng. Một số trường hợp, sau khi thu giữ, các cơ quan thường gặp khó khăn trong việc tìm đơn vị đủ điều kiện tiếp nhận động vật, do không phải địa phương nào cũng có trung tâm cứu hộ, vườn quốc gia hoặc tổ chức bảo tồn có thể hỗ trợ. Ngoài ra, kinh phí nuôi nhốt, cứu hộ còn hạn chế, gây áp lực cho các cơ quan thực thi.

Thứ năm, tình hình vi phạm pháp luật liên quan đến ĐVHD tiếp tục gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số vụ án khởi tố đã tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 2019 - 2023 (từ 201 vụ/271 bị can lên 392 vụ/493 bị can); số vụ án được truy tố cũng tăng (từ 125 vụ/198 bị can lên 268 vụ/371 bị can) và số vụ xét xử tăng đáng kể (từ 114 vụ/169 bị cáo lên 263 vụ/355 bị cáo)[6].

Riêng giai đoạn 2018 - 2021, ghi nhận có 727 bị can bị khởi tố, trong đó có đến 80,7% (587 bị can) liên quan đến 05 hành vi phổ biến là buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, săn bắt và nuôi nhốt trái phép, với buôn bán chiếm tỷ lệ cao nhất (44,8%). Chủ thể vi phạm chủ yếu là nam giới (chiếm 87,2%) trong độ tuổi từ 20 - 40. Đáng chú ý, có 329 bị cáo bị phạt tù, trong đó, mức án từ 01 năm đến dưới 03 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (160 người). Ngoài ra, có 286 bị cáo được hưởng án treo, một số trường hợp bị phạt tiền (09 bị cáo) hoặc cải tạo không giam giữ (07 bị cáo). Như vậy, xét trên phương diện mức hình phạt đã áp dụng với các đối tượng phạm tội, với đại đa số hình phạt là dưới 03 năm tù[7].

Bên cạnh đó, theo thống kê, trong năm 2024 (cập nhật đến ngày 13/02/2025), tại Việt Nam, có 141 vụ vi phạm về ĐVHD, 68% liên quan đến buôn bán và vận chuyển; trong đó, 25 vụ liên tỉnh và 12 vụ có yếu tố xuyên quốc gia, liên quan đến các đường dây từ châu Phi và khu vực Đông Nam Á. Vi phạm diễn ra tại cả thành phố lớn (thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) và các tỉnh biên giới (Nghệ An, Tây Ninh, Lạng Sơn…), trong đó có 37 vụ sử dụng mạng xã hội (Facebook, Zalo, WeChat) để giao dịch trái phép ĐVHD, với tang vật rất nghiêm trọng: hơn 1,6 tấn ngà voi; 346 kg vảy tê tê; 9,5 kg sừng tê giác; gần 1.000 cá thể rùa và hàng nghìn cá thể khỉ, rắn, chim thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm[8].

Thứ sáu, nguồn lực thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn nhiều hạn chế. Đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp xử lý vi phạm thiếu kiến thức chuyên sâu về pháp luật, sinh học, giám định mẫu vật và kỹ năng điều tra dẫn đến khó khăn trong nhận diện loài, áp dụng quy định pháp lý hoặc xử lý tang vật, làm tăng nguy cơ áp dụng sai chế tài hoặc bỏ lọt hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp liên ngành còn thiếu thống nhất, chưa quy định rõ về trách nhiệm và quy trình phối hợp, dẫn đến tình trạng chồng chéo, chuyển giao hồ sơ chậm trễ và thiếu liên thông dữ liệu.

Mặt khác, nhiều địa phương còn thiếu kinh phí, phương tiện chuyên dụng, trong khi địa bàn quản lý rộng và vi phạm diễn ra phức tạp. Việc áp dụng Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 111/2022/NĐ-CP) cũng phát sinh vướng mắc trong thanh toán hợp đồng lao động phục vụ tuần tra, giám sát, đặc biệt là chi phí trả cho lái xe, làm cho hoạt động thực thi ở cơ sở gặp nhiều trở ngại. Điều 12 Nghị định số 111/2022/NĐ-CP quy định: “Kinh phí thực hiện hợp đồng từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu khác (nếu có); nằm ngoài quỹ lương của cơ quan, đơn vị”, vì vậy, một số hạt kiểm lâm không quyết định được việc trả kinh phí cho lái xe, do quy định chưa rõ ràng, phải xin ý kiến từ cấp tỉnh mới có cơ chế trả lương. Với ngành, nghề đặc thù của kiểm lâm, việc hợp đồng lao động làm nhiệm vụ lái xe là rất cần thiết nhằm hỗ trợ, phục vụ cho lực lượng kiểm lâm thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong công tác kiểm tra, tuần tra rừng; quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng[9]…

Thứ bảy, công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn hạn chế, hiệu quả tiếp cận chưa cao. Nhiều chương trình triển khai còn hình thức, thiếu trọng tâm, chưa tiếp cận được các nhóm đối tượng có nguy cơ vi phạm cao, đặc biệt, ở vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân thấp, do trình độ nhận thức hạn chế, không ít người vẫn tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào hoạt động săn bắt, buôn bán ĐVHD trái phép, gây khó khăn cho công tác kiểm tra và xử lý vi phạm.

Thứ tám, hợp tác quốc tế trong xử lý vi phạm về ĐVHD gặp nhiều khó khăn. Việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chức năng của Việt Nam và nước ngoài còn chậm, thiếu cơ chế phản hồi nhanh, làm nhiều vụ việc xuyên quốc gia mất dấu vết, gây khó khăn cho truy bắt và xử lý. Đặc biệt, nhiều yêu cầu tương trợ tư pháp gửi đến các quốc gia châu Phi thường bị kéo dài hoặc không nhận được phản hồi. Đến cuối năm 2022, Việt Nam đã gửi 39 yêu cầu đến 12 quốc gia châu Phi để hỗ trợ điều tra các vụ việc liên quan đến vận chuyển trái phép ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê… Tuy nhiên, Việt Nam chưa nhận được kết quả thực hiện yêu cầu nào của các quốc gia này[10].

Bên cạnh đó, sự khác biệt về hệ thống pháp luật, quy định xử phạt và mức độ ưu tiên trong bảo vệ ĐVHD giữa các quốc gia cũng tạo “khoảng trống” pháp lý, làm cho việc xử lý các vụ việc xuyên biên giới gặp nhiều khó khăn. Đây là “kẽ hở” để các đối tượng vi phạm lợi dụng nhằm né tránh trách nhiệm pháp lý, làm giảm hiệu quả đấu tranh và cản trở sự phối hợp quốc tế trong bảo vệ đa dạng sinh học.

3. Kiến nghị, giải pháp

Thứ nhất, thống nhất khái niệm và phạm vi đối tượng quản lý về ĐVHD. Hiện, việc định danh các loài “ĐVHD”, “động vật rừng”, “động vật rừng thông thường”, “ĐVHD gây nuôi”… còn thiếu thống nhất, dẫn đến lúng túng trong xác định hành vi vi phạm và thẩm quyền xử lý. Do đó, cần nghiên cứu ban hành Luật Bảo vệ động vật hoang dã để điều chỉnh hành vi bảo vệ loài, quản lý thương mại, nhằm bảo đảm thống nhất pháp lý, cụ thể hóa các khái niệm và phân loại loài ĐVHD trong các lĩnh vực có liên quan, đồng thời, xác định cụ thể cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm hướng dẫn áp dụng thống nhất. Bên cạnh đó, cần xây dựng và ban hành Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên và Danh mục loài được khai thác có điều kiện theo đúng quy định tại Điều 44 Luật Đa dạng sinh học năm 2008. Việc chưa công bố Danh mục này đang tạo “khoảng trống thực thi” trong bảo vệ nhiều loài chim di cư, loài ĐVHD sống ngoài rừng, cánh đồng… làm cho lực lượng chức năng thiếu căn cứ pháp lý để xử lý hành vi vi phạm.

Thứ hai, hoàn thiện một số quy định pháp luật hình sự.

- Sửa đổi điểm d khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng: áp dụng tổng hợp số lượng vi phạm trên các lớp sinh học, thay vì tách biệt từng lớp riêng rẽ như quy định hiện hành nhằm bảo đảm việc xử lý tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi, khắc phục tình trạng xử nặng các hành vi nhỏ lẻ nhưng bỏ lọt các hành vi phức tạp hơn.

- Sửa đổi Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng: giảm phụ thuộc vào giá trị tang vật vi phạm. Việc đặt ngưỡng từ 150 triệu đồng trở lên đối với các loài thuộc Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước CITES chưa phù hợp với thực tiễn, làm cho nhiều hành vi vi phạm rõ ràng không thể xử lý hình sự do không đạt mức định giá. Việc điều chỉnh tiêu chí định tội theo hướng hạ ngưỡng hoặc kết hợp thêm yếu tố tính chất loài sẽ góp phần tăng tính răn đe và bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật hình sự trong lĩnh vực này.

- Hoàn thiện quy định về “bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống” được hướng dẫn tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP theo hướng bổ sung tiêu chí kỹ thuật rõ ràng, mang tính sinh học - pháp y, đồng thời, quy định cơ chế tham vấn bắt buộc từ cơ quan giám định trong các vụ việc phức tạp. Với loài đặc thù như tê tê, cần có hướng dẫn riêng về ngưỡng khối lượng vảy tương ứng với mức độ xâm hại để làm căn cứ định tội.

- Ban hành danh mục mùa sinh sản, mùa di cư của từng loài ĐVHD nhằm áp dụng tình tiết tăng nặng tại Điều 234 và Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời, cần bổ sung quy định rõ trách nhiệm chứng minh trong các trường hợp vi phạm được phát hiện sau ngày 01/01/2018 nhưng người vi phạm viện dẫn lý do không có mục đích buôn bán, thu lợi bất chính (khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP). Trường hợp không có căn cứ hợp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có thể căn cứ vào tài liệu, chứng cứ khách quan để xử lý phù hợp, tránh bị lợi dụng nhằm né tránh TNHS.

Thứ ba, hoàn thiện quy định về giám định và định giá tang vật là ĐVHD. Công tác xử lý vi phạm còn gặp khó khăn do thiếu hướng dẫn cụ thể về trình tự trưng cầu, lấy mẫu, bảo quản và công nhận kết quả giám định, đặc biệt, với mẫu vật sống hoặc đã chết. Việc định giá tang vật là yếu tố quan trọng để xác định TNHS nhưng chủ yếu dựa vào giá thị trường, thiếu ổn định và dễ gây tranh cãi. Do đó, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất về quy trình giám định mẫu vật ĐVHD, đồng thời, quy định rõ tiêu chí định giá trên cơ sở mức độ quý hiếm, nguy cấp và tính bất hợp pháp của loài. Trước mắt, nên xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cho một số mẫu vật phổ biến như ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê… để phục vụ công tác điều tra, xử lý các hành vi vi phạm trong buôn bán ĐVHD, động vật nguy cấp, quý, hiếm trái phép[11].

Thứ tư, hoàn thiện quy định về xử lý vật chứng là ĐVHD. Cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí phân loại vật chứng để quyết định tiêu hủy, lưu giữ, sử dụng làm mẫu vật hoặc chuyển giao cho cơ quan chuyên môn phù hợp như cơ sở nghiên cứu, trung tâm bảo tồn hoặc bảo tàng. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc tiếp nhận, bảo quản, nuôi dưỡng vật chứng là ĐVHD còn sống. Cần có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các đơn vị tiếp nhận và xây dựng hệ thống cơ sở vật chất chuyên trách cấp tỉnh hoặc liên vùng nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, xử lý vật chứng theo đúng quy chuẩn.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và tố tụng hình sự trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới. Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xác định rõ: Chủ tịch UBND cấp xã và Chủ tịch UBND cấp tỉnh 11. Phạm minh Tuyên (2020), tlđd. Dân chủ và Pháp luật đều có quyền xử phạt: cảnh cáo; phạt tiền (cấp xã được phạt đến 50% mức tối đa của lĩnh vực tương ứng, cấp tỉnh được phạt đến mức tối đa); tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Trên cơ sở đó, cần sửa đổi các nghị định xử phạt trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD để loại bỏ thẩm quyền của cấp huyện, đồng thời, quy định rõ tiêu chí phân cấp, theo hướng giao UBND cấp xã xử lý các hành vi vi phạm thông thường, quy mô nhỏ, mang tính cá nhân hoặc hộ gia đình, còn UBND cấp tỉnh xử lý các vi phạm nghiêm trọng, phức tạp, có tổ chức hoặc phạm vi liên địa bàn. Thẩm quyền cần được lượng hóa theo giá trị, mức độ nguy hiểm và đặc điểm loài.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm sự thống nhất với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025, trong đó, khoản 5 Điều 1 quy định Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công khởi tố, điều tra các vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. Đồng thời, nghiên cứu, sớm ban hành hướng dẫn xác định tiêu chí phân loại vụ án ĐVHD thuộc thẩm quyền điều tra của cấp xã và những vụ án bắt buộc chuyển cho cấp tỉnh. Cùng với đó, cần tăng cường đào tạo nghiệp vụ điều tra tội phạm môi trường cho Điều tra viên cấp xã, trang bị phương tiện và cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ điều tra tại chỗ. Việc chấm dứt hoạt động Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thay thế bằng cấp khu vực cũng đòi hỏi hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc điều tra, truy tố và xét xử ở các cấp để bảo đảm tính thống nhất, tránh bỏ lọt hoặc chậm xử lý vụ việc, đồng thời, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật hình sự về bảo vệ ĐVHD.

Thứ sáu, cần tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực cho công tác thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Trước hết, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu, định kỳ cho lực lượng thực thi pháp luật về kiến thức pháp lý, sinh học, giám định mẫu vật và kỹ năng điều tra. Đồng thời, ban hành quy chế phối hợp liên ngành thống nhất, quy định rõ trách nhiệm và quy trình phối hợp, bảo đảm liên thông dữ liệu và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm. Bên cạnh đó, cần bổ sung ngân sách, phương tiện kỹ thuật và nhân lực cho các địa phương có địa bàn rộng, trọng điểm về vi phạm. Đối với các vướng mắc phát sinh từ việc áp dụng Nghị định số 111/2022/NĐ-CP, cần có hướng dẫn cụ thể về cơ chế chi trả hợp đồng lao động phục vụ nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra nhằm bảo đảm tính liên tục và hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng và ĐVHD.

Thứ bảy, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và phát huy vai trò cộng đồng. Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy hành chính, việc tuyên truyền trở thành giải pháp phòng ngừa vi phạm ngay từ cơ sở. Cần phát huy vai trò của chính quyền cấp xã, lực lượng bán chuyên trách và các tổ chức xã hội trong công tác này, đặc biệt, tại vùng sâu, vùng xa - nơi nguy cơ vi phạm cao. Hình thức tuyên truyền cần kết hợp linh hoạt giữa truyền thống và hiện đại như phát thanh, mạng xã hội, hội thảo cộng đồng, phiên tòa giả định…, đồng thời, lồng ghép vào giáo dục học đường. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia giám sát, phát hiện và tố giác vi phạm từ cộng đồng, gắn với cơ chế khen thưởng kịp thời nhằm tạo động lực lan tỏa và hỗ trợ hiệu quả cho bộ máy nhà nước trong điều kiện không còn cấp huyện làm trung gian triển khai.

Thứ tám, tăng cường hợp tác quốc tế trong xử lý vi phạm về ĐVHD. Cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành đầu mối tại Việt Nam để tiếp nhận, xử lý và phản hồi nhanh các yêu cầu hợp tác, đặc biệt, với các quốc gia châu Phi - nơi thường phát sinh các tuyến buôn bán ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê. Đồng thời, thúc đẩy ký kết và triển khai hiệu quả các hiệp định song phương, đa phương về bảo vệ ĐVHD và tương trợ tư pháp hình sự, nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định trong việc trao đổi thông tin, dẫn độ và truy bắt đối tượng vi phạm.

Cùng với đó, cần tích cực tham gia các sáng kiến quốc tế và tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, công nghệ và đào tạo từ các tổ chức như CITES, INTERPOL, UNODC, WCS… Trong bối cảnh cải cách bộ máy hành chính đang được đẩy mạnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả, các nguồn lực quốc tế đóng vai trò bổ trợ quan trọng, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, giảm áp lực ngân sách và thúc đẩy hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD.

Kết luận

Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm pháp chế và trật tự quản lý nhà nước, mà còn là trách nhiệm thực hiện các cam kết quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững. Để pháp luật thực sự phát huy hiệu quả, cần có sự hoàn thiện đồng bộ cả về nội dung và cơ chế tổ chức thực thi. Trong bối cảnh đất nước đang thực hiện cải cách bộ máy hành chính và hội nhập sâu, rộng, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong lĩnh vực này phải gắn chặt với thực tiễn quản lý, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và phù hợp với định hướng phát triển bền vững./.

Hoàng Minh Hải

Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

(Ảnh: Internet)

[1]. Tăng Xuân Phương (2021), Bất cập và khuyến nghị trong xử lý vi phạm về động vật hoang dã, Bản tin Chính sách Tài nguyên, Môi trường, Phát triển bền vững, Trung tâm con người và thiên nhiên, số 32/2021, tr. 28.

[2]. Đặng Bá Vinh (2024), Hoàn thiện pháp luật trong điều tra tội phạm xâm hại động vật hoang dã ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý Nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/08/23/hoan-thien-phap-luat-trong-dieu-tra-toi-pham-xam-hai-dong-vat-hoang-da-o-viet-nam/, truy cập ngày 10/6/2025.

[3]. Trương Công Lý (2020), Khắc phục những khó khăn, vướng mắc để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại động vật hoang dã có hiệu quả, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/khac-phuc-nhung-kho-khan-vuong-mac-de-dau-tranh-phong-chong-toi-pham-xam-hai-dong-vat-hoang-da-co-hieu-qua, truy cập ngày 11/6/2025.

[4]. Phạm Minh Tuyên (2020), Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 12/6/2025.

[5]. Nguyễn Bích Diệp (2023), Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật hình sự về bảo vệ động vật hoang dã, Trang thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, https://vksquangninh.gov.vn/mot-so-kho-khan-vuong-mac-trong-thuc-tien-thi-hanh-phap-luat-hinh-su-ve-bao-ve-dong-vat-hoang-da/, truy cập ngày 12/6/2025.

[6]. Nguyễn Đức Hạnh, Võ Ngọc Khánh Linh (2025), Thực tiễn xử lý các vụ án liên quan đến động vật hoang dã: Khó khăn và Thách thức, Kỷ yếu Hội thảo “Xử lý các vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã: Thực trạng và Giải pháp”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

[7]. Nguyễn Đức Hạnh, Võ Ngọc Khánh Linh (2025), tlđd, tr. 3.

[8]. WCS (2025), Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam, https://programs.wcs.org/vietnam/vi-vn/Resources-vi-VN/Publications-vi-VN.aspx, truy cập ngày 15/6/2025.

[9]. Lâm Viên (2024), Nguy cơ xe tuần tra rừng bị ‘treo’ vì không có kinh phí trả lương lái xe, https://thanhnien.vn/nguy-co-xe-tuan-tra-rung-bi-treo-vi-khong-co-kinh-phi-tra-luong-lai-xe-185240408164545618.htm, truy cập ngày 18/6/2025.

[10]. WCS Việt Nam (2022), Báo cáo nghiên cứu pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và thực trạng hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với một số quốc gia châu Phi.

[11]. Phạm minh Tuyên (2020), tlđd.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Bá Vinh (2024), Hoàn thiện pháp luật trong điều tra tội phạm xâm hại động vật hoang dã ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý Nhà nước, https://www.quanlynhanuoc. vn/2024/08/23/hoan-thien-phap-luat-trong-dieu-tra-toi-pham-xam-hai-dong-vat-hoang-da-o-viet-nam/, truy cập ngày 10/6/2025.

2. Lâm Viên (2024), Nguy cơ xe tuần tra rừng bị “treo” vì không có kinh phí trả lương lái xe, https://thanhnien.vn/nguy-co-xe-tuan-tra-rung-bi-treo-vi-khong-co-kinh-phi-tra-luong-lai-xe-185240408164545618.htm, truy cập ngày 18/6/2025.

3. Nguyễn Bích Diệp (2023), Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật hình sự về bảo vệ động vật hoang dã, Trang thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, https://vksquangninh.gov.vn/mot-so-kho-khan-vuong-mac-trong-thuc-tien-thi-hanh-phap-luat-hinh-su-ve-bao-ve-dong-vat-hoang-da/, truy cập ngày 12/6/2025.

4. Nguyễn Đức Hạnh, Võ Ngọc Khánh Linh (2025), Thực tiễn xử lý các vụ án liên quan đến động vật hoang dã: Khó khăn và Thách thức, Kỷ yếu Hội thảo “Xử lý các vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã: Thực trạng và Giải pháp”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 3.

5. Phạm Minh Tuyên (2020), Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 12/6/2025.

6. Tăng Xuân Phương (2021), Bất cập và khuyến nghị trong xử lý vi phạm về động vật hoang dã, Bản tin Chính sách Tài nguyên, Môi trường, Phát triển bền vững, Trung tâm con người và thiên nhiên, số 32/2021.

7. Trương Công Lý (2020), Khắc phục những khó khăn, vướng mắc để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại động vật hoang dã có hiệu quả, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/khac-phuc-nhung-kho-khan-vuong-mac-de-dau-tranh-phong-chong-toi-pham-xam-hai-dong-vat-hoang-da-co-hieu-qua, truy cập ngày 11/6/2025.

8. WCS (2025), Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam, https://programs.wcs.org/vietnam/vi-vn/Resources-vi-VN/Publications-vi-VN.aspx, truy cập ngày 15/6/2025.

9. WCS Việt Nam (2022), Báo cáo nghiên cứu pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và thực trạng hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với một số quốc gia châu Phi.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (436) tháng 9/2025)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.

Theo dõi chúng tôi trên: