Thứ hai 01/06/2026 10:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự cần thiết ban hành luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh

Bài viết bàn về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nói riêng, từ đó, kiến nghị ban hành đạo luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nói riêng, từ đó, kiến nghị ban hành đạo luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.
Abstract: The article discusses a number of legal aspects related to the state of emergency in general and the state of epidemic emergency in particular, thereby proposing the promulgation of a law on the state of emergency due to the epidemic.

1. Về tình trạng khẩn cấp
Tình trạng khẩn cấp đề cập đến một số tình huống ngoại lệ đặc biệt mà khi tình huống ấy xảy ra, chính quyền phải áp dụng ngay một số biện pháp đặc biệt để bảo vệ quốc gia, bảo vệ người dân, giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội. Trong pháp luật của nhiều quốc gia, các tình huống sau đây có thể dẫn đến việc ban bố tình trạng khẩn cấp: (i) Thiên tai, thảm họa thiên nhiên như sóng thần, động đất, núi lửa; (ii) Chiến tranh hoặc tình trạng bất ổn vi phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng như bạo loạn, khủng bố; (iii) Dịch bệnh trên diện rộng; (iv) Rủi ro công nghệ như rò rỉ hoặc nổ các nhà máy điện nguyên tử.
Ở nước ta, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp được ban hành năm 2000 (Pháp lệnh năm 2000) quy định về các trường hợp khi có thảm họa lớn do thiên nhiên hoặc con người gây ra, có dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban hành tình trạng khẩn cấp. Khái niệm về tình trạng khẩn cấp cũng được hiểu khá thống nhất trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm các yếu tố sau: (i) Đây là một trạng thái đặc biệt, ngoại lệ, bất thường và nguy hiểm; (ii) Đây là tình huống gây ra những hệ quả nghiêm trọng đối với vận mệnh quốc gia, tác động vào hoạt động của xã hội khiến nó không thể vận hành được một cách bình thường; (iii) Trong tình trạng khẩn cấp, Chính phủ được áp dụng những biện pháp đặc biệt mà trong tình huống bình thường những biện pháp này khó có thể hoặc không thể được áp dụng.
2. Tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh
Tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh là một quy định pháp lý đặc biệt cho phép một quốc gia áp dụng những biện pháp ngoại lệ để đối phó với tình huống đặc biệt nguy hiểm liên quan đến dịch bệnh gây ra những khủng hoảng nghiêm trọng về sức khỏe nhân dân.
Cũng giống như các hiện tượng thuộc phạm vi tình trạng khẩn cấp nói chung (như thiên tai, bạo loạn, khủng bố), tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh hội đủ tất cả các đặc điểm chung của tình trạng khẩn cấp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng là những hiện tượng ngoại lệ, bất bình thường, xảy ra đột ngột và gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho sự an toàn của con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Thứ hai, bản chất của tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng luôn gắn liền với sự mở rộng thẩm quyền cho các cơ quan thuộc nhánh hành pháp, bởi chỉ có hệ thống các cơ quan này với chức năng và những nguồn lực sẵn có của mình mới có thể hành động nhanh, gọn, kịp thời, chủ động để ứng phó với tình trạng khẩn cấp nhằm bảo vệ sự an toàn của quốc gia, của người dân, giảm thiểu tối đa thiệt hại.
Thứ ba, để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, trong tình trạng khẩn cấp nói chung hay tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, chính quyền đều phải sử dụng những biện pháp đặc biệt nhằm nhanh chóng ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả. Những chính sách, biện pháp đó có thể dẫn đến việc hạn chế quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân hoặc hạn chế quyền của công dân về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội.
Thứ tư, giống như các hiện tượng khác của tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng là một tình huống có tính chất tạm thời và được giới hạn về mặt không gian, thời gian.
Tuy nhiên, so với các hiện tượng khác của tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh có những điểm khác biệt căn bản:
(i) Nếu như đối với những trường hợp khác của tình trạng khẩn cấp như khủng bố vũ trang, bạo loạn hoặc thiên tai, các tình huống xảy ra chỉ giới hạn trong phạm vi một khu vực, một hay một số thành phố, một vài khu dân cư được xác định, vì vậy, số lượng dân cư bị tác động thường trong một giới hạn nhất định thì đối với tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, nhất là những đại dịch có tính chất toàn cầu, tất cả mọi người dù ở đâu, trong bất cứ khu vực nào, thậm chí có thể trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia hay liên quốc gia, cũng đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Sự khác biệt này cần thiết được nhận dạng, bởi những chính sách, biện pháp áp dụng cho các tình huống khẩn cấp như vũ trang, bạo loạn hay thiên tai chưa chắc đã phù hợp khi áp dụng cho tình huống khẩn cấp do dịch bệnh.
(ii) Nếu như trong các tình huống thiên tai, bạo loạn hay khủng bố, người ta có thể nhìn tương đối rõ “hình hài” của “kẻ thù”, dự đoán được những diễn biến, tuy bất thường nhưng phần nào vẫn có thể đoán biết được, để từ đó tìm ra cách ứng phó thì trong tình trạng dịch bệnh, nhiều khi ta không nhận dạng được “kẻ thù” vì sự biến hóa khôn lường và rất nhanh chóng của nó, như đại dịch Covid-19 hiện nay được tạo ra bởi vi-rút SARS-CoV-2 với nhiều biến chủng.
Ngoài ra, cũng có thể thấy rõ, trừ tình trạng chiến tranh có thể kéo dài nhiều năm, thông thường các tình huống khẩn cấp như bạo loạn, khủng bố, thiên tai thường diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, vài ngày, vài tuần, cá biệt có thể trong vài tháng. Nhưng đối với một đại dịch thì vấn đề sẽ phức tạp, khó lường hơn. Lịch sử loài người đã từng biết đến dịch cúm Tây Ban Nha với thời gian xảy ra kéo dài tới gần ba năm (từ tháng 01/1918 - tháng 12/1920). Đại dịch Covid-19 hiện nay cũng đã xảy ra hơn hai năm và chưa biết khi nào kết thúc.
Những khác biệt có tính chất căn bản nói trên giữa tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng đòi hỏi các biện pháp được áp dụng trong quá trình chống dịch cần phải được xem xét trên cơ sở vừa nhận dạng được các đặc điểm giống nhau trong các tình huống của tình trạng khẩn cấp nói chung, vừa nhìn ra được sự khác biệt của tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, để từ đó lựa chọn được những biện pháp ứng phó phù hợp.
3. Vai trò của pháp luật trong tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng
Trong tình trạng khẩn cấp, khi đời sống xã hội bị đảo lộn, trở nên bất thường; khi những tình huống cực kỳ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp trực tiếp đe dọa an ninh quốc gia, đe dọa cuộc sống của người dân, gây bất ổn cho xã hội khiến sự vận hành bình thường của các guồng máy trong xã hội bị đứt gãy, thì Nhà nước phải ngay lập tức có các biện pháp ứng phó kịp thời để giải quyết sự cố, ngăn chặn tối đa thiệt hại, bảo vệ an toàn đời sống, tài sản của người dân. Việc giải quyết sự cố, đưa ra các biện pháp ứng phó thích hợp là những hành động cần phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý, chuẩn mực, dựa trên những tiêu chí được xác định, chứ không phải là những hành động tự phát, được tiến hành một cách tùy tiện. Trong tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, cần một cơ chế pháp lý đồng bộ để “dẫn lối” cho các hành vi, cho các phản ứng của cá nhân, của các định chế xã hội. Pháp luật là công cụ để siết lại kỷ cương, duy trì trật tự khi hoạt động của xã hội đang bị xáo trộn.
4. Sự cần thiết ban hành luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có những quy định về tình trạng khẩn cấp. Văn bản chứa đựng những quy phạm chung nhất có phạm vi áp dụng trực tiếp trong tình huống khẩn cấp là Pháp lệnh năm 2000 vẫn còn hiệu lực thi hành.
Phạm vi những lĩnh vực có thể ban bố tình trạng khẩn cấp theo Pháp lệnh năm 2000 là: (i) Sự cố, thảm họa thiên nhiên; (ii) Sự cố, thảm họa do con người gây ra; (iii) Dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên diện rộng đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội1.
Pháp lệnh năm 2000 cũng đưa ra các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp trong từng lĩnh vực: Khi có thảm họa, khi có dịch bệnh và khi có tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Ngoài ra, để điều chỉnh quan hệ pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong từng lĩnh vực, pháp luật Việt Nam đã có một số đạo luật chuyên ngành, ví dụ như: Luật Quốc phòng năm 2018 có một số điều quy định về tình trạng khẩn cấp khi đất nước có nguy cơ bị xâm lược, bạo loạn có vũ trang nhưng chưa xảy ra tình trạng chiến tranh; trong lĩnh vực y tế, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định một số tình huống công bố dịch và các biện pháp áp dụng khi có dịch bệnh xảy ra.
Cụ thể hóa Pháp lệnh năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm (Nghị định số 71/2002/NĐ-CP). Điều đó có nghĩa là trong lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, văn bản có giá trị cao nhất hiện nay không phải là một văn bản ở tầm luật mà chỉ là một văn bản ở tầm pháp quy. Trong gần hai năm xảy ra dịch bệnh Covid-19, đây là các văn bản được sử dụng làm cơ sở pháp lý để Thủ tướng Chính phủ ban hành một số quyết định, chỉ thị khi điều hành các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19. Tuy nhiên, vì đã được ban hành cách đây hàng chục năm, Nghị định số 71/2002/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
Theo Hiến pháp năm 2013, thẩm quyền liên quan đến tình trạng khẩn cấp được quy định như sau: (i) Thẩm quyền quy định về tình trạng khẩn cấp thuộc về Quốc hội; (ii) Thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì thẩm quyền công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hay ở từng địa phương được trao cho Chủ tịch nước; (iii) Thẩm quyền thi hành lệnh tổng động viên, động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác được trao cho Chính phủ.
Một trong những đặc điểm của tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, đó là tính cấp bách. Đây là đặc điểm đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải phản ứng nhanh, mạnh, kịp thời để ứng phó được và giảm thiểu tối đa thiệt hại. Đặc điểm này cũng dẫn đến sự cần thiết phải mở rộng và trao thẩm quyền ứng phó với tình trạng khẩn cấp cho các cơ quan hành pháp, đứng đầu là Thủ tướng. Theo pháp luật hiện hành ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền trong việc quyết định, ban bố hay bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh năm 2000, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 lại trao các thẩm quyền (ban bố, công bố, chấm dứt) liên quan đến tình trạng khẩn cấp cho Chủ tịch nước hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội - những thiết chế mà với bản chất tự nhiên của nó không thể có được những phản ứng nhanh, kịp thời. Ngay cả thẩm quyền thi hành “lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp khác” cũng được Hiến pháp năm 2013 trao cho tập thể Chính phủ chứ không phải cá nhân Thủ tướng Chính phủ. Trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng” như dịch bệnh Covid-19, việc phải chờ đợi một quyết định của tập thể có hợp lý hay không?
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy, mặc dù Việt Nam đã có một số quy định pháp luật về tình trạng khẩn cấp nói chung cũng như tình trạng khẩn cấp trong lĩnh vực y tế nói riêng, nhưng những quy định của các văn bản này còn khá nhiều khoảng trống, chưa cụ thể; nhiều nội dung mâu thuẫn, chồng chéo; một số nội dung không hợp lý, lạc hậu dẫn đến sự lúng túng, bất cập khi áp dụng. Bên cạnh đó, trong trường hợp có dịch bệnh nguy hiểm, các quy định điều chỉnh tình trạng khẩn cấp trong lĩnh vực này mới chỉ ở tầm một văn bản pháp quy chứ không phải là một đạo luật được ban hành bởi Quốc hội.
Những hạn chế nói trên đòi hỏi Quốc hội, một mặt cần thiết phải “nâng cấp” Pháp lệnh năm 2000 lên thành văn bản luật để điều chỉnh những vấn đề chung nhất về tình trạng khẩn cấp trong các lĩnh vực; mặt khác, cần ban hành một đạo luật điều chỉnh riêng vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh. Việc ban hành một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ đáp ứng được đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận, việc ban hành một đạo luật chuyên ngành về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động điều hành của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ khi xảy ra đại dịch. Với một đạo luật được Quốc hội ban hành trong đó phân định và trao thẩm quyền một cách hợp lý cho các chủ thể ở Trung ương (Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng…) và địa phương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân, lãnh đạo các sở, ban, ngành…) sẽ tạo ra hành lang pháp lý thống nhất và hữu hiệu cho công tác điều hành của các chủ thể đó.
Về mặt thực tiễn, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh có những điểm đặc thù không giống như tình trạng khẩn cấp trong các lĩnh vực khác, vì vậy, các chính sách và biện pháp áp dụng cho tình trạng khẩn cấp nói chung sẽ không phát huy tác dụng khi tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh xảy ra. Ví dụ, tình trạng khẩn cấp về thiên tai chỉ tác động đến một khu vực nhất định và ảnh hưởng đến cuộc sống của đồng bào ở vùng có thiên tai, chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong tình hình này chỉ khu trú trong phạm vi khu vực và dân cư tại đó. Nhưng trong tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh như vừa xảy ra với Covid-19, cả xã hội không chỉ người nghèo mà các doanh nghiệp cũng bị tác động rất lớn, vì vậy, chính sách hoặc các biện pháp ứng phó với tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh cũng phải có độ bao phủ rộng hơn so với các chính sách, biện pháp ứng phó trong tình trạng khẩn cấp về thiên tai. Những vấn đề này sẽ được giải quyết khi có một đạo luật điều chỉnh riêng vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.
Bên cạnh đó, thực tiễn ứng phó với đại dịch Covid-19 vừa qua cho thấy, vì chưa có sự hướng dẫn thống nhất (liên quan đến thẩm quyền của các chủ thể có liên quan hoặc các biện pháp áp dụng trong đại dịch), nên mỗi địa phương hiểu và áp dụng Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ một cách khác nhau, không có sự thống nhất, liên thông với nhau. Tình trạng như thời gian qua tỉnh thì mở cửa cho dân tỉnh mình trở về, tỉnh thì không chấp nhận là minh chứng cho sự lúng túng, không thống nhất trong điều hành của chính quyền. Một đạo luật được ban hành trong lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ giải quyết được các bất cập đó.
Ngoài ra, để bảo vệ lợi ích chung, các biện pháp ứng phó với tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh bao gồm nhiều biện pháp trong đó có những biện pháp hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân (như quyền đi lại, quyền hội họp, quyền về đời sống riêng tư…). Những biện pháp đó là cần thiết trên cơ sở cân nhắc sự tương xứng giữa hậu quả nguy hiểm của dịch bệnh với các biện pháp ứng phó. Tuy nhiên, vì đây là những biện pháp hạn chế quyền con người nên rất cần được tiến hành cẩn trọng, một văn bản ở tầm luật trong lĩnh vực này do Quốc hội ban hành sẽ giúp giải quyết hợp lý vấn đề này.

TS. Nguyễn Thị Thu Vân
Phó Viện trưởng Viện Pháp luật kinh tế,
Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội


1. Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Hà, Thẩm quyền và cách thức áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo pháp luật Việt Nam và những vấn đề đặt ra; Phạm Hồng Thái, Tạ Đức Hòa, Thẩm quyền, thủ tục ban bố tình trạng khẩn cấp theo pháp luật Việt Nam và những vấn đề đặt ra; Báo cáo tại Hội thảo quốc tế trực tuyến Pháp luật về tình trạng khẩn cấp do Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, ngày 15 - 17/6/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: