Thứ bảy 29/11/2025 18:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự cần thiết ban hành luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh

Bài viết bàn về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nói riêng, từ đó, kiến nghị ban hành đạo luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nói riêng, từ đó, kiến nghị ban hành đạo luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.
Abstract: The article discusses a number of legal aspects related to the state of emergency in general and the state of epidemic emergency in particular, thereby proposing the promulgation of a law on the state of emergency due to the epidemic.

1. Về tình trạng khẩn cấp
Tình trạng khẩn cấp đề cập đến một số tình huống ngoại lệ đặc biệt mà khi tình huống ấy xảy ra, chính quyền phải áp dụng ngay một số biện pháp đặc biệt để bảo vệ quốc gia, bảo vệ người dân, giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội. Trong pháp luật của nhiều quốc gia, các tình huống sau đây có thể dẫn đến việc ban bố tình trạng khẩn cấp: (i) Thiên tai, thảm họa thiên nhiên như sóng thần, động đất, núi lửa; (ii) Chiến tranh hoặc tình trạng bất ổn vi phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng như bạo loạn, khủng bố; (iii) Dịch bệnh trên diện rộng; (iv) Rủi ro công nghệ như rò rỉ hoặc nổ các nhà máy điện nguyên tử.
Ở nước ta, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp được ban hành năm 2000 (Pháp lệnh năm 2000) quy định về các trường hợp khi có thảm họa lớn do thiên nhiên hoặc con người gây ra, có dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban hành tình trạng khẩn cấp. Khái niệm về tình trạng khẩn cấp cũng được hiểu khá thống nhất trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm các yếu tố sau: (i) Đây là một trạng thái đặc biệt, ngoại lệ, bất thường và nguy hiểm; (ii) Đây là tình huống gây ra những hệ quả nghiêm trọng đối với vận mệnh quốc gia, tác động vào hoạt động của xã hội khiến nó không thể vận hành được một cách bình thường; (iii) Trong tình trạng khẩn cấp, Chính phủ được áp dụng những biện pháp đặc biệt mà trong tình huống bình thường những biện pháp này khó có thể hoặc không thể được áp dụng.
2. Tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh
Tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh là một quy định pháp lý đặc biệt cho phép một quốc gia áp dụng những biện pháp ngoại lệ để đối phó với tình huống đặc biệt nguy hiểm liên quan đến dịch bệnh gây ra những khủng hoảng nghiêm trọng về sức khỏe nhân dân.
Cũng giống như các hiện tượng thuộc phạm vi tình trạng khẩn cấp nói chung (như thiên tai, bạo loạn, khủng bố), tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh hội đủ tất cả các đặc điểm chung của tình trạng khẩn cấp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng là những hiện tượng ngoại lệ, bất bình thường, xảy ra đột ngột và gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho sự an toàn của con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Thứ hai, bản chất của tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng luôn gắn liền với sự mở rộng thẩm quyền cho các cơ quan thuộc nhánh hành pháp, bởi chỉ có hệ thống các cơ quan này với chức năng và những nguồn lực sẵn có của mình mới có thể hành động nhanh, gọn, kịp thời, chủ động để ứng phó với tình trạng khẩn cấp nhằm bảo vệ sự an toàn của quốc gia, của người dân, giảm thiểu tối đa thiệt hại.
Thứ ba, để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, trong tình trạng khẩn cấp nói chung hay tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, chính quyền đều phải sử dụng những biện pháp đặc biệt nhằm nhanh chóng ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả. Những chính sách, biện pháp đó có thể dẫn đến việc hạn chế quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân hoặc hạn chế quyền của công dân về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội.
Thứ tư, giống như các hiện tượng khác của tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh cũng là một tình huống có tính chất tạm thời và được giới hạn về mặt không gian, thời gian.
Tuy nhiên, so với các hiện tượng khác của tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh có những điểm khác biệt căn bản:
(i) Nếu như đối với những trường hợp khác của tình trạng khẩn cấp như khủng bố vũ trang, bạo loạn hoặc thiên tai, các tình huống xảy ra chỉ giới hạn trong phạm vi một khu vực, một hay một số thành phố, một vài khu dân cư được xác định, vì vậy, số lượng dân cư bị tác động thường trong một giới hạn nhất định thì đối với tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, nhất là những đại dịch có tính chất toàn cầu, tất cả mọi người dù ở đâu, trong bất cứ khu vực nào, thậm chí có thể trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia hay liên quốc gia, cũng đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Sự khác biệt này cần thiết được nhận dạng, bởi những chính sách, biện pháp áp dụng cho các tình huống khẩn cấp như vũ trang, bạo loạn hay thiên tai chưa chắc đã phù hợp khi áp dụng cho tình huống khẩn cấp do dịch bệnh.
(ii) Nếu như trong các tình huống thiên tai, bạo loạn hay khủng bố, người ta có thể nhìn tương đối rõ “hình hài” của “kẻ thù”, dự đoán được những diễn biến, tuy bất thường nhưng phần nào vẫn có thể đoán biết được, để từ đó tìm ra cách ứng phó thì trong tình trạng dịch bệnh, nhiều khi ta không nhận dạng được “kẻ thù” vì sự biến hóa khôn lường và rất nhanh chóng của nó, như đại dịch Covid-19 hiện nay được tạo ra bởi vi-rút SARS-CoV-2 với nhiều biến chủng.
Ngoài ra, cũng có thể thấy rõ, trừ tình trạng chiến tranh có thể kéo dài nhiều năm, thông thường các tình huống khẩn cấp như bạo loạn, khủng bố, thiên tai thường diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, vài ngày, vài tuần, cá biệt có thể trong vài tháng. Nhưng đối với một đại dịch thì vấn đề sẽ phức tạp, khó lường hơn. Lịch sử loài người đã từng biết đến dịch cúm Tây Ban Nha với thời gian xảy ra kéo dài tới gần ba năm (từ tháng 01/1918 - tháng 12/1920). Đại dịch Covid-19 hiện nay cũng đã xảy ra hơn hai năm và chưa biết khi nào kết thúc.
Những khác biệt có tính chất căn bản nói trên giữa tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng đòi hỏi các biện pháp được áp dụng trong quá trình chống dịch cần phải được xem xét trên cơ sở vừa nhận dạng được các đặc điểm giống nhau trong các tình huống của tình trạng khẩn cấp nói chung, vừa nhìn ra được sự khác biệt của tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, để từ đó lựa chọn được những biện pháp ứng phó phù hợp.
3. Vai trò của pháp luật trong tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng
Trong tình trạng khẩn cấp, khi đời sống xã hội bị đảo lộn, trở nên bất thường; khi những tình huống cực kỳ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp trực tiếp đe dọa an ninh quốc gia, đe dọa cuộc sống của người dân, gây bất ổn cho xã hội khiến sự vận hành bình thường của các guồng máy trong xã hội bị đứt gãy, thì Nhà nước phải ngay lập tức có các biện pháp ứng phó kịp thời để giải quyết sự cố, ngăn chặn tối đa thiệt hại, bảo vệ an toàn đời sống, tài sản của người dân. Việc giải quyết sự cố, đưa ra các biện pháp ứng phó thích hợp là những hành động cần phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý, chuẩn mực, dựa trên những tiêu chí được xác định, chứ không phải là những hành động tự phát, được tiến hành một cách tùy tiện. Trong tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, cần một cơ chế pháp lý đồng bộ để “dẫn lối” cho các hành vi, cho các phản ứng của cá nhân, của các định chế xã hội. Pháp luật là công cụ để siết lại kỷ cương, duy trì trật tự khi hoạt động của xã hội đang bị xáo trộn.
4. Sự cần thiết ban hành luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh
Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có những quy định về tình trạng khẩn cấp. Văn bản chứa đựng những quy phạm chung nhất có phạm vi áp dụng trực tiếp trong tình huống khẩn cấp là Pháp lệnh năm 2000 vẫn còn hiệu lực thi hành.
Phạm vi những lĩnh vực có thể ban bố tình trạng khẩn cấp theo Pháp lệnh năm 2000 là: (i) Sự cố, thảm họa thiên nhiên; (ii) Sự cố, thảm họa do con người gây ra; (iii) Dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên diện rộng đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội1.
Pháp lệnh năm 2000 cũng đưa ra các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp trong từng lĩnh vực: Khi có thảm họa, khi có dịch bệnh và khi có tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Ngoài ra, để điều chỉnh quan hệ pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong từng lĩnh vực, pháp luật Việt Nam đã có một số đạo luật chuyên ngành, ví dụ như: Luật Quốc phòng năm 2018 có một số điều quy định về tình trạng khẩn cấp khi đất nước có nguy cơ bị xâm lược, bạo loạn có vũ trang nhưng chưa xảy ra tình trạng chiến tranh; trong lĩnh vực y tế, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định một số tình huống công bố dịch và các biện pháp áp dụng khi có dịch bệnh xảy ra.
Cụ thể hóa Pháp lệnh năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm (Nghị định số 71/2002/NĐ-CP). Điều đó có nghĩa là trong lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, văn bản có giá trị cao nhất hiện nay không phải là một văn bản ở tầm luật mà chỉ là một văn bản ở tầm pháp quy. Trong gần hai năm xảy ra dịch bệnh Covid-19, đây là các văn bản được sử dụng làm cơ sở pháp lý để Thủ tướng Chính phủ ban hành một số quyết định, chỉ thị khi điều hành các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19. Tuy nhiên, vì đã được ban hành cách đây hàng chục năm, Nghị định số 71/2002/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
Theo Hiến pháp năm 2013, thẩm quyền liên quan đến tình trạng khẩn cấp được quy định như sau: (i) Thẩm quyền quy định về tình trạng khẩn cấp thuộc về Quốc hội; (ii) Thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì thẩm quyền công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hay ở từng địa phương được trao cho Chủ tịch nước; (iii) Thẩm quyền thi hành lệnh tổng động viên, động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác được trao cho Chính phủ.
Một trong những đặc điểm của tình trạng khẩn cấp nói chung và tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh nói riêng, đó là tính cấp bách. Đây là đặc điểm đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải phản ứng nhanh, mạnh, kịp thời để ứng phó được và giảm thiểu tối đa thiệt hại. Đặc điểm này cũng dẫn đến sự cần thiết phải mở rộng và trao thẩm quyền ứng phó với tình trạng khẩn cấp cho các cơ quan hành pháp, đứng đầu là Thủ tướng. Theo pháp luật hiện hành ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền trong việc quyết định, ban bố hay bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh năm 2000, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 lại trao các thẩm quyền (ban bố, công bố, chấm dứt) liên quan đến tình trạng khẩn cấp cho Chủ tịch nước hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội - những thiết chế mà với bản chất tự nhiên của nó không thể có được những phản ứng nhanh, kịp thời. Ngay cả thẩm quyền thi hành “lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp khác” cũng được Hiến pháp năm 2013 trao cho tập thể Chính phủ chứ không phải cá nhân Thủ tướng Chính phủ. Trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng” như dịch bệnh Covid-19, việc phải chờ đợi một quyết định của tập thể có hợp lý hay không?
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy, mặc dù Việt Nam đã có một số quy định pháp luật về tình trạng khẩn cấp nói chung cũng như tình trạng khẩn cấp trong lĩnh vực y tế nói riêng, nhưng những quy định của các văn bản này còn khá nhiều khoảng trống, chưa cụ thể; nhiều nội dung mâu thuẫn, chồng chéo; một số nội dung không hợp lý, lạc hậu dẫn đến sự lúng túng, bất cập khi áp dụng. Bên cạnh đó, trong trường hợp có dịch bệnh nguy hiểm, các quy định điều chỉnh tình trạng khẩn cấp trong lĩnh vực này mới chỉ ở tầm một văn bản pháp quy chứ không phải là một đạo luật được ban hành bởi Quốc hội.
Những hạn chế nói trên đòi hỏi Quốc hội, một mặt cần thiết phải “nâng cấp” Pháp lệnh năm 2000 lên thành văn bản luật để điều chỉnh những vấn đề chung nhất về tình trạng khẩn cấp trong các lĩnh vực; mặt khác, cần ban hành một đạo luật điều chỉnh riêng vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh. Việc ban hành một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ đáp ứng được đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận, việc ban hành một đạo luật chuyên ngành về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động điều hành của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ khi xảy ra đại dịch. Với một đạo luật được Quốc hội ban hành trong đó phân định và trao thẩm quyền một cách hợp lý cho các chủ thể ở Trung ương (Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng…) và địa phương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân, lãnh đạo các sở, ban, ngành…) sẽ tạo ra hành lang pháp lý thống nhất và hữu hiệu cho công tác điều hành của các chủ thể đó.
Về mặt thực tiễn, tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh có những điểm đặc thù không giống như tình trạng khẩn cấp trong các lĩnh vực khác, vì vậy, các chính sách và biện pháp áp dụng cho tình trạng khẩn cấp nói chung sẽ không phát huy tác dụng khi tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh xảy ra. Ví dụ, tình trạng khẩn cấp về thiên tai chỉ tác động đến một khu vực nhất định và ảnh hưởng đến cuộc sống của đồng bào ở vùng có thiên tai, chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong tình hình này chỉ khu trú trong phạm vi khu vực và dân cư tại đó. Nhưng trong tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh như vừa xảy ra với Covid-19, cả xã hội không chỉ người nghèo mà các doanh nghiệp cũng bị tác động rất lớn, vì vậy, chính sách hoặc các biện pháp ứng phó với tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh cũng phải có độ bao phủ rộng hơn so với các chính sách, biện pháp ứng phó trong tình trạng khẩn cấp về thiên tai. Những vấn đề này sẽ được giải quyết khi có một đạo luật điều chỉnh riêng vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.
Bên cạnh đó, thực tiễn ứng phó với đại dịch Covid-19 vừa qua cho thấy, vì chưa có sự hướng dẫn thống nhất (liên quan đến thẩm quyền của các chủ thể có liên quan hoặc các biện pháp áp dụng trong đại dịch), nên mỗi địa phương hiểu và áp dụng Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ một cách khác nhau, không có sự thống nhất, liên thông với nhau. Tình trạng như thời gian qua tỉnh thì mở cửa cho dân tỉnh mình trở về, tỉnh thì không chấp nhận là minh chứng cho sự lúng túng, không thống nhất trong điều hành của chính quyền. Một đạo luật được ban hành trong lĩnh vực tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh sẽ giải quyết được các bất cập đó.
Ngoài ra, để bảo vệ lợi ích chung, các biện pháp ứng phó với tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh bao gồm nhiều biện pháp trong đó có những biện pháp hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân (như quyền đi lại, quyền hội họp, quyền về đời sống riêng tư…). Những biện pháp đó là cần thiết trên cơ sở cân nhắc sự tương xứng giữa hậu quả nguy hiểm của dịch bệnh với các biện pháp ứng phó. Tuy nhiên, vì đây là những biện pháp hạn chế quyền con người nên rất cần được tiến hành cẩn trọng, một văn bản ở tầm luật trong lĩnh vực này do Quốc hội ban hành sẽ giúp giải quyết hợp lý vấn đề này.

TS. Nguyễn Thị Thu Vân
Phó Viện trưởng Viện Pháp luật kinh tế,
Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội


1. Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Hà, Thẩm quyền và cách thức áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo pháp luật Việt Nam và những vấn đề đặt ra; Phạm Hồng Thái, Tạ Đức Hòa, Thẩm quyền, thủ tục ban bố tình trạng khẩn cấp theo pháp luật Việt Nam và những vấn đề đặt ra; Báo cáo tại Hội thảo quốc tế trực tuyến Pháp luật về tình trạng khẩn cấp do Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, ngày 15 - 17/6/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.
Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đề cao quyền tự quyết của các bên, vì thủ tục này chỉ được tiến hành khi các bên có thỏa thuận trọng tài. Cơ chế tự do thỏa thuận đặt ra vấn đề, liệu các bên có được thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hay không? Bài viết phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về khả năng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, so sánh với pháp luật của một số quốc gia về vấn đề này; từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản số từ kinh nghiệm pháp luật quốc tế và một số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản số từ kinh nghiệm pháp luật quốc tế và một số quốc gia

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích một số nội dung cơ bản về thế chấp bằng tài sản số trong pháp luật quốc tế và của một số quốc gia; từ đó, kiến nghị một số chính sách để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng hành lang pháp lý phù hợp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giúp kinh tế tư nhân phát triển mạnh và bền vững hơn.

Theo dõi chúng tôi trên: