Chủ nhật 15/03/2026 08:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội

Tóm tắt: Bài viết này đánh giá việc triển khai thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, từ đó, đưa ra các giải pháp để thực hiện quyền này trong thực tiễn được hiệu quả.

Tóm tắt: Bài viết này đánh giá việc triển khai thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, từ đó, đưa ra các giải pháp để thực hiện quyền này trong thực tiễn được hiệu quả.

Abstract: This article evaluates the implementation of the right to access information of disadvantaged groups in society, thereby, proposes solutions to effectively exercise this right in practice.

1. Quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, quyền tiếp cận thông tin cũng ngày càng phát triển và trở thành cơ sở của nền dân chủ, là công cụ hữu hiệu cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nếu như năm 1990 mới chỉ có 13 quốc gia trên thế giới ban hành Luật Tiếp cận thông tin, thì đến năm 2009, có 86 quốc gia ban hành Luật Tiếp cận thông tin và hiện nay đã có khoảng 100 quốc gia ban hành Luật này. Theo Tony Mendel, chuyên gia quốc tế về quyền tiếp cận thông tin thì xu hướng ngày càng có nhiều luật về tự do thông tin được ban hành bởi quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là vì lợi ích công cộng[1].

Hiện nay, thuật ngữ “người yếu thế” được coi là một thuật ngữ pháp lý nhưng vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về nhóm đối tượng này trong xã hội. Hiểu một cách đơn giản, người thuộc đối tượng yếu thế là người bị hạn chế một phần năng lực tự nhiên hoặc do những yếu tố xã hội quy định khiến họ bị đánh giá thấp về địa vị trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện và năng lực có sẵn như nhau. Theo đó, pháp luật quốc tế đã ghi nhận quyền con người của một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội bao gồm: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người đồng tính, lưỡng tĩnh và chuyển giới, người tị nạn… Tương tự như pháp luật quốc tế, pháp luật của Việt Nam cũng ghi nhận những nhóm yếu thế gồm trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số… Bên cạnh đó, do yếu tố đặc thù về kinh tế - xã hội, pháp luật Việt Nam cũng quy định thêm một số nhóm người khác gọi chung là nhóm những người sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do nghèo đói, bệnh tật và tác động của môi trường.

Cũng giống như các chủ thể khác trong xã hội, nhóm đối tượng yếu thế tại Việt Nam được quyền tiếp cận các thông tin của cơ quan nhà nước, chỉ trừ những thông tin không được tiếp cận theo quy định tại Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Riêng đối với người mất năng lực hành vi dân sự, thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ và người dưới 18 tuổi yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp luật về trẻ em và luật khác có quy định khác. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã quy định về phạm vi quyền tiếp cận thông tin theo cách liệt kê những thông tin không được tiếp cận và tiếp cận có điều kiện. Việc quy định này khá phù hợp, tương thích với pháp luật của các quốc gia trên thế giới, đó là những thông tin về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội. Việc quy định này nhằm khẳng định rõ quyền tiếp cận thông tin, đồng thời, cũng giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Như vậy, có thể thấy, về cơ bản thì quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế cũng giống như quyền tiếp cận thông tin của các công dân khác trong xã hội, pháp luật không có sự phân biệt, đối xử giữa các chủ thể này trong xã hội.

2. Đánh giá chung về quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế hiện nay

Nhìn chung, pháp luật của Việt Nam đã có những quy định về bảo đảm quyền được tiếp cận của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như của toàn xã hội đối với người yếu thế. Chủ trương của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo đảm quyền của nhóm đối tượng yếu thế nói riêng nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền con người, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm đối tượng yếu thế, giải quyết tình trạng xâm phạm đến quyền của những đối tượng này trong xã hội đã được quan tâm thực hiện. Bên cạnh đó, các quy định về quyền tiếp cận thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã trở thành khung pháp lý cơ bản trong việc thúc đẩy thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhóm đối tượng yếu thế càng được quan tâm hơn trên nhiều phương diện, được nâng cao hơn về đời sống vật chất cũng như tinh thần nên các văn bản quy phạm pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế đã tương đối bám sát nhu cầu của thực tiễn của nhóm đối tượng này trong thực tiễn. Thông qua các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế, Nhà nước đã rất chú trọng đến quyền được tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng này, đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải thực hiện việc công khai các thông tin trong hoạt động của mình. Thông qua đạo luật này, đã giúp cho người dân nhận thức rõ được sự quan trọng của thông tin và quyền tiếp cận thông tin trong đời sống, để mọi người dân nói chung và nhóm đối tượng yếu thế nói riêng có cơ hội bình đẳng như nhau trong việc tìm kiếm các nguồn thông tin trong xã hội.

Mặc dù, pháp luật Việt Nam đã có những quy định về quyền tiếp cận thông tin, tuy nhiên, nhóm đối tượng yếu thế khi thực hiện quyền này trong thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, nhóm đối tượng yếu thế được quy định tại nhiều đạo luật khác nhau nên không tránh khỏi có những quy định chưa thống nhất, thời điểm hiệu lực pháp lý khác nhau, từ đó, việc triển khai áp dụng đồng bộ các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho nhóm đối tượng yếu thế cũng gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản hướng dẫn Luật này chưa có quy định cụ thể về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, mà chỉ quy định chung đối tượng tiếp cận thông tin là công dân.

Thứ hai, hiện nay, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin, tuy nhiên, trên thực tế, việc tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Theo kết quả khảo sát do Trung tâm Tư vấn hỗ trợ hòa nhập người khuyết tật Thành phố Hà Nội thực hiện cho thấy, 85% người khuyết tật chưa biết đến quyền tiếp cận thông tin và chỉ 23% người khuyết tật được đáp ứng về thông tin, trong khi nhu cầu của nhóm đối tượng này lên đến 92%. Ngoài ra, một khảo sát của Tổ chức Care quốc tế tại Việt Nam được thực hiện tại 05 xã thuộc các tỉnh Cao Bằng, Điện Biên và Bắc Kạn cũng cho thấy, mặc dù người dân tộc thiều số ở 05 xã đều hài lòng với các thông tin liên quan đến lĩnh vực giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội, tuy nhiên, họ lại ít hài lòng với các thông tin về luật pháp, chính sách và các vấn đề xã hội vì các thông tin này không được cung cấp đầy đủ, chính xác và thường xuyên; đặc biệt, các thông tin về tình hình phát triển kinh tế, các chương trình cho vay, khuyến nông cũng không được cập nhật thường xuyên do chính quyền địa phương cung cấp mới chỉ mang tính một chiều và hạn chế về hình thức truyền tải, do đó, chưa đạt hiệu quả cao[2].

Thứ ba, tại nhiều địa phương, đặc biệt là địa phương ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí để phục vụ việc tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế vẫn còn rất hạn chế. Chủ yếu là ở cấp xã chưa được kết nối mạng internet hoặc có kết nối nhưng mạng không ổn định, chưa được bố trí các trang thiết bị cần thiết như máy in, máy photocopy… để phục vụ cho hoạt động cung cấp thông tin. Bên cạnh đó, trình độ dân trí không đồng đều cũng là một trong những khó khăn, trở ngại trong việc cung cấp thông tin qua hệ thống mạng điện tử.

3. Giải pháp tăng cường cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế

Xuất phát từ hạn chế về quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường cơ chế bảo đảm quyền này trong thực tiễn hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế nói riêng.

Như đã phân tích ở trên, đối tượng yếu thế bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người đồng tính, lưỡng tĩnh và chuyển giới, người tị nạn… Tuy nhiên, hiện nay, theo các văn bản quy phạm quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì mới chỉ có những quy định chung về việc cung cấp thông tin cho người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, còn những người yếu thế khác như người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới, người tị nạn… lại chưa được quy định. Ngoài ra, hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định về quyền chuyển đổi giới tính. Do đó, khi một người chuyển giới ở Việt Nam muốn yêu cầu tiếp cận thông tin từ các cơ quan nhà nước thì đều gặp phải rào cản vì hình dáng bên ngoài của họ không tương ứng với giới tính của họ, có nghĩa là, nhận định giới tính pháp lý là nam hay nữ trên các giấy tờ chính thức chưa được công nhận. Chính điều này là nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể trong xã hội với nhóm đối tượng yếu thế. Mặc dù, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”, tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể, chi tiết về quyền chuyển đổi giới tính. Do đó, việc nghiên cứu, ban hành các quy định pháp luật về quyền chuyển đổi giới tính sẽ góp phần giúp cho người chuyển giới được thực hiện các quyền của mình trong thực tiễn, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin.

Thứ hai, nghiên cứu, xây dựng quy trình cung cấp thông tin đơn giản, ngắn gọn và hiệu quả.

Trên thực tế, nhóm đối tượng yếu thế có những hạn chế nhất định trong việc hiểu các quy định của pháp luật, do đó, cần nghiên cứu xây dựng một quy trình cung cấp thông tin nhanh chóng, đơn giản, hợp lý. Việc quy định thông tin được cung cấp nhanh chóng, đúng thời hạn là một yêu cầu quan trọng, bởi sự trì hoãn cung cấp thông tin có khả năng gây ra tổn thất đến lợi ích của nhóm đối tượng yếu thế khi có yêu cầu. Việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội sẽ góp phần tăng lòng tin của họ đối với cơ quan nhà nước nói chung nhưng đồng thời, điều này cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với chủ thể đặc biệt này trong xã hội. Việc nhóm đối tượng yếu thế được tiếp cận đầy đủ các nguồn thông tin sẽ giúp họ chủ động hơn trong quá trình tham gia các hoạt động của xã hội, đây cũng là cơ sở để họ đóng góp, xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế.

Để nâng cao chất lượng của việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, đồng thời hạn chế việc các cơ quan, tổ chức quản lý thông tin từ chối việc cung cấp thông tin hoặc cung cấp không kịp thời, các cơ quan quản lý nhà nước cần có cơ chế đánh giá và giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Theo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới hiện nay, việc thành lập một ủy ban thông tin độc lập chuyên trách thực hiện chức năng giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin là cơ chế rất hữu hiệu được áp dụng để thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra việc cung cấp thông tin của các chủ thể trong xã hội. Đồng thời, cũng cần nâng cao hiệu quả giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện cung cấp thông tin cho nhóm đối tượng yếu thế.

Thứ tư, nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin trong các cơ quan nhà nước.

Nhà nước cần có những chính sách, cơ chế xóa bỏ rào cản về thông tin, khuyến khích sự đầu tư, phát triển hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin dành cho nhóm đối tượng yếu thế nói chung trong xã hội. Trong xu thế phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, các cơ quan nhà nước cần chủ động đề xuất, thực hiện các giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp nhanh gọn, đầy đủ, chính xác thông tin mà công dân yêu cầu trên các Cổng/Trang thông tin điện tử, website, email; các cơ sở dữ liệu điện tử; nghiên cứu, ứng dụng các tiện ích của các mạng xã hội, các cổng cung cấp dịch vụ trực tuyến để đăng tải danh mục các thông tin phải được công khai, cung cấp, trả lời trực tuyến thông tin; đăng tải thông tin lên cơ sở dữ liệu thông tin do cơ quan mình tạo ra dưới dạng số hóa bằng các định dạng phổ biến để người dân có thể sử dụng một cách nhanh gọn và thuận tiện. Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống thông tin điện tử nhằm công khai các thông tin phù hợp với nhóm đối tượng yếu thế, từ đó, nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có thể tiếp cận thông tin bằng nhiều phương thức khác nhau. Điều này sẽ góp phần tăng cường cơ hội tiếp cận thông tin cho nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội và góp phần giúp cho mọi hoạt động của Nhà nước đều trở nên công khai và minh bạch.

Thứ năm, nâng cao nhận thức của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội về quyền tiếp cận thông tin.

Hiện nay, trình độ dân trí cũng như ý thức của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội về quyền tiếp cận thông tin vẫn còn hạn chế, nhiều người có tâm lý e ngại việc tiếp xúc với vói các cơ quan nhà nước, do đó, tự bản thân họ đã hạn chế quyền của bản thân. Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, Nhà nước cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền tiếp cận thông tin. Một trong những giải pháp được khuyến nghị là việc xây dựng các chương trình giảng dạy trong môi trường học đường để giúp cho học sinh, sinh viên tiếp cận được những kiến thức về quyền tiếp cận thông tin, từ đó, sẽ nhân rộng việc triển khai thực hiện trong toàn xã hội. Đặc biệt, cần chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở các địa phương chưa có sự phát triển, các địa phương ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Tại các địa phương này, cần thường xuyên cải cách giáo dục, phổ cập giáo dục, tổ chức các buổi thực hành cho cả học sinh, sinh viên. Các cơ quan nhà nước cần xác định nhiệm vụ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với quá trình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn. Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần bám sát thực tế để người dân nói chung và nhóm đối tượng yếu thế nói riêng biết và hiểu được quyền tiếp cận thông tin của mình.

Thứ sáu, đổi mới về nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.

Để quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng yếu thế được bảo đảm thực hiện hiệu quả trong thực tiễn thì đội ngũ cán bộ, công chức cần có sự đổi mới trong tư duy cũng như nhận thức trong quá trình thực thi công vụ. Bảo đảm cơ chế thực hiện cho các cấp chính quyền, nhân dân tham gia tích cực vào thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin không chỉ là nghĩa vụ mà còn là hành động bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong xã hội. Các cấp chính quyền cần thường xuyên thực hiện chế độ tiếp xúc nhân dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là nhóm đối tượng yếu thế, để từ đó có thể đáp ứng được mong muốn của họ. Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cần chủ động công khai thông tin các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đặc biệt, cần có thiết chế độc lập để xem xét, giải quyết việc từ chối cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước. Công dân chỉ dễ dàng tiếp cận thông tin khi các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy nhân dân làm mục tiêu để phục vụ, khi đó, các thông tin sẽ được minh bạch, công khai, cung cấp nhanh chóng và đầy đủ. Nhà nước cũng cần có các cơ chế tiếp nhận, phản hồi các ý kiến của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội một cách hiệu quả và thực chất, để từ đó, củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền.

Hà Trọng Bắc
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp


[1]. Tài liệu Hội thảo quốc tế xây dựng Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam do Bộ Tư pháp và Đại sứ quán Anh tổ chức tại Hà Nội, ngày 06 - 07/5/2009.

[2]. Khanh Lê, Tăng cường quyền tiếp cận thông tin cho đối tượng yếu thế, https://daklak24h.com.vn/xa-hoi/35346/tang-cuong-quyen-tiep-can-thong-tin-cho-doi-tuong-yeu-the.html, truy cập ngày 10/8/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.
Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước ban hành các chế tài ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi lái xe, làm nhu cầu sử dụng dịch vụ lái xe hộ tăng mạnh. Tuy nhiên, loại hình này chưa được pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến khoảng trống về xác định quan hệ hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế chịu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý của hợp đồng lái xe hộ, đánh giá thực trạng điều chỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện để vừa bảo đảm an toàn pháp lý, vừa phù hợp định hướng phát triển kinh tế số.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.
Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ, hồ sơ sức khỏe điện tử không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đặt ra thách thức lớn về bảo mật dữ liệu cá nhân. Mặc dù, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những tiến bộ quan trọng, đặc biệt với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành của Bộ Y tế, song còn tồn tại những hạn chế về chuẩn mực kỹ thuật, quyền tiếp cận dữ liệu, nghĩa vụ bảo mật của nhân viên y tế và chế tài xử lý. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử ở Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và đặt trong tổng thể chính sách chuyển đổi số y tế. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi theo hướng đồng bộ, hiện đại và nhân văn, nhằm bảo đảm quyền riêng tư, tăng cường niềm tin xã hội và xây dựng hệ sinh thái y tế số an toàn, bền vững.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.

Theo dõi chúng tôi trên: