Thứ bảy 10/10/2026 06:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế tài trong hương ước nhìn từ thực tiễn địa phương

Hương ước, quy ước là văn bản quy phạm xã hội, trong đó quy định các nguyên tắc xử sự do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận và đặt ra để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính chất tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Hương ước, quy ước phản ánh tâm lý của người dân, phản ánh một phương diện quan trọng của văn hóa cộng đồng dân cư, đồng thời có ý nghĩa giáo dục và động viên nhân dân hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, điều tiết trách nhiệm và quyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng dân cư.

Thực hiện Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 22/03/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về tăng cường chỉ đạo sát nhập thôn, tổ dân phố, huyện Nghi Xuân đã tiến hành các bước để sát nhập thôn, tổ dân phố nhằm đảm bảo quy mô phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng. Từ 194 thôn, tổ dân phố, đến nay còn 167 thôn, tổ dân phố và đã tiến hành điều chỉnh, xây dựng lại và làm các bước trình Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân phê duyệt hương ước. Thông qua việc xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, làm cho nhân dân phấn khởi tích cực thi đua lao động sản xuất, đoàn kết giúp đỡ nhau xóa đói giảm nghèo, từng bước thực hiện nếp sống văn hóa mới trong việc cưới, việc tang, khuyến khích phát triển các hoạt động văn hóa lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn kém, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan... góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn.

Từ những kết quả do thực hiện hương ước mang lại, ngoài việc tự giác chấp hành của nhân dân thì các quy định và đặc biệt là chế tài trong hương ước góp phần quan trọng và có ý nghĩa trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện hương ước. Các quy định thuộc nhiều lĩnh vực như: Hiếu, hỷ, vệ sinh môi trường, khuyến học, lễ hội, các khoản đóng góp quỹ… đều phải được xây dựng chi tiết, cụ thể trong hương ước, người dân xem đó như một cuốn “cẩm nang” để thực hiện và kèm theo đó là các chế tài áp dụng đối với những người không thực hiện, đồng thời cũng là vấn đề được thảo luận, bàn cãi sôi nổi nhất khi lấy ý kiến nhân dân để xây dựng và xem xét, trình cấp có thẩm quyền thẩm định hương ước, quy ước. Bên cạnh việc hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với công dân có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: Nêu gương người tốt, việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hóa và các hình thức khen thưởng khác do cộng đồng tự thỏa thuận hoặc đề nghị chính quyền khen thưởng, thì chế tài áp dụng đối với những người vi phạm quy định đã thống nhất trong hương ước, quy ước như: Lao động công ích, nhắc nhở, phê bình trước tập thể nhân dân… và hạn chế đến mức thấp nhất hình thức “phạt” bằng tiền hoặc bằng vật chất (thường là sản phẩm nông nghiệp). Trước đây, có nhiều bản hương ước quy định các hình thức xử phạt một cách tùy tiện, trái luật như: “Các chủ phương tiện có xe bò, xe công nông thuộc người trong thôn thì hàng năm phải nộp một khoản tiền cho thôn; chủ trâu, bò ăn khoai, lúa của người trong thôn, ngoài việc bồi thường phần diện tích bị phá hoại cho chủ còn phải nộp một khoản tiền phạt cho thôn; cặp vợ chồng nào sinh con thứ 3 trở lên thì bị phạt tiền hoặc trai, gái lấy vợ, lấy chồng ngoài xã phải nộp cho thôn một số tiền nhất định…”. Mặc dù được nhân dân bàn bạc và thống nhất xây dựng với sự đồng thuận cao trong nội bộ nhân dân nhưng thực chất thì đó là những quy định không đúng với tinh thần của pháp luật, quy định những “hình phạt” vốn không thuộc thẩm quyền của cấp thôn và ít mang ý nghĩa vận động, thuyết phục.

Xét về bản chất thì hương ước, quy ước là văn bản quy phạm xã hội, trong đó quy định các nguyên tắc xử sự do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận và đặt ra để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính chất tự quản của nhân dân, mang tính chất giáo dục, thuyết phục, vận động thực hiện. Mục đích cuối cùng của hương ước, quy ước là cùng với pháp luật để giúp duy trì an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong nhân dân, xóa đói, giảm nghèo, góp phần duy trì và phát huy thuần phong mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống dân tộc. Thực tiễn cho thấy, chỉ nên áp dụng hình phạt bằng tiền hoặc vật chất - chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp trong hương ước khi có các điều kiện khả thi để biện pháp này mang lại hiệu quả khi áp dụng và phải tuân thủ pháp luật. Việc đưa ra chế tài mang tính chất “phạt” không phù hợp với việc giáo dục, thuyết phục, vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện. Ví dụ như vấn đề rác thải, vệ sinh môi trường là rất đáng lo ngại, trong quá trình xây dựng và thực hiện hương ước đều quy định rõ việc bảo vệ môi trường và đổ rác đúng nơi quy định, ở các cuộc họp, cán bộ thôn đều đưa nội dung này tuyên truyền, vận động. Kết quả là, đến nay được rất nhiều thôn chấp hành nghiêm, trả lại môi trường xanh, sạch, đẹp cho khu dân cư. Nếu không có biện pháp tuyên truyền, vận động mà chỉ có hình thức “phạt tiền” đối với hộ vi phạm thì mỗi khi vi phạm, các hộ đó chỉ chấp nhận “nộp tiền phạt” và lại tiếp tục vi phạm. Để thay đổi hành vi và nhận thức của nhân dân về công tác bảo vệ môi trường là rất khó nếu không dùng biện pháp tuyên truyền, vận động.

Thực tế, khi mọi người hướng đến xây dựng xã hội sống, làm việc theo pháp luật thì hương ước, quy ước thể hiện vai trò quan trọng như một công cụ để định hướng người dân theo khuôn khổ nhất định. Mỗi khi làm việc gì, người dân đều cân nhắc xem có trái hương ước, quy ước thôn hay không. Từ thực tiễn cho thấy: Các hình thức chế tài trong hương ước, quy ước chủ yếu là dựa trên sức mạnh của dư luận xã hội, cộng đồng như các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, thông báo trên hệ thống truyền thanh ở cơ sở... với mục đích giáo dục, thuyết phục, vận động thực hiện. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định của hương ước, quy ước thì có thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt để răn đe, phòng ngừa vi phạm nhưng không đặt ra hình phạt xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân và các hình phạt có nội dung trái pháp luật. Không thể có chế tài trong hương ước theo kiểu “phép vua thua lệ làng”.

Để có bản hương ước với chế tài đúng pháp luật và đủ mạnh để vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện thì cần phải có các biện pháp để nâng cao trình độ nhận thức của cán bộ cấp thôn, xã. Người chủ trì soạn thảo hương ước phải nhận thức được hương ước không phải là pháp luật mà là một hình thức “lệ làng” bổ sung cho pháp luật, điều chỉnh những quan hệ, những tình huống phát sinh trong thôn mà pháp luật không điều chỉnh hoặc chưa điều chỉnh được. Hương ước, quy ước có ý nghĩa giáo dục và động viên nhân dân thực hiện, gắn bó thành một cộng đồng chặt chẽ, đồng thời điều tiết trách nhiệm và quyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng dân cư. Do đó, chế tài trong hương ước, quy ước có ý nghĩa trong việc bổ sung cho pháp luật khi cần xử lý những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của cộng đồng dân cư. Mặt khác, nội dung của hương ước, quy ước là những nguyện vọng do nhân dân tự đặt ra, được thảo luận, bàn bạc và nhất trí thông qua, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân nên được toàn thể nhân dân tự giác chấp hành. Sức mạnh cưỡng chế của hương ước, quy ước dựa vào thói quen, nếp sống của cộng đồng dân cư, là sức mạnh có tính chất tâm lý nằm sâu trong tiềm thức của mọi người dân. Chính vì vậy, chế tài trong hương ước mang tính giáo dục, thuyết phục, vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện sẽ có tác động tích cực tới các hoạt động của cộng đồng dân cư, để người dân hiểu được những việc gì mình được làm và không được làm, thay cho các “hình phạt” trong hương ước.

Với vị trí, vai trò của mình, chế tài trong hương ước là bộ phận hỗ trợ đắc lực của pháp luật, có ý nghĩa trong việc bổ sung cho pháp luật khi cần xử lý những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của cộng đồng dân cư, vì vậy rất cần được quan tâm trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện. Tinh thần nghiêm khắc trong chế tài của hương ước phải được thể hiện, đó là “lệ làng” - cần thiết để giúp vào sự hoà hợp, ổn định của cộng đồng chứ không thể là những gì trói buộc, chỉ là thôn dân của một làng mà quên đi công dân trong một nước. Lệ làng là để đảm bảo cho phép nước chứ không thể vượt qua quyền hạn của phép nước.

Trần Hoàng Thạch

Phòng Tư pháp huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).

Theo dõi chúng tôi trên: