Thứ tư 04/03/2026 21:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ - Cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tương trợ tư pháp của Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam, các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại có yếu tố nước ngoài cũng phát triển đa dạng cả về bề rộng lẫn chiều sâu dẫn đến nhiều vụ việc tranh chấp về dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh và để giải quyết được thì cần sự hỗ trợ, hợp tác về tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các nước có liên quan trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng xuyên quốc gia, như thu thập chứng cứ ở nước ngoài hay tống đạt giấy tờ ra nước ngoài…

Thực tế thực hiện các công ước trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế (Hội nghị La Hay) của các quốc gia thành viên cho thấy, các công ước liên quan của Hội nghị La Hay đã có tác động tích cực và hữu hiệu trong lĩnh vực TTTP về dân sự, thương mại[1]. Điều này được minh chứng qua số lượng lớn các nước thành viên gia nhập các công ước trong lĩnh vực hợp tác về tư pháp cho đến nay, trong đó, đặc biệt phải kể đến Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại và Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại[2].

Việt Nam đã gia nhập Hội nghị La Hay vào ngày 10/4/2013. Ngay sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 ban hành Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam, xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất gia nhập các công ước trong khuôn khổ Hội nghị này, đặc biệt là các công ước về hợp tác tư pháp.

Thực hiện chủ trương về đẩy mạnh gia nhập các điều ước quốc tế (ĐƯQT) đa phương về TTTP[3], năm 2016, Việt Nam đã gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước tống đạt). Công ước tống đạt đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện TTTP về tống đạt giấy tờ trong lĩnh vực dân sự. Tuy nhiên, việc gia nhập Công ước tống đạt mới chỉ đáp ứng được nhu cầu TTTP về tống đạt giấy tờ, còn nội dung thu thập chứng cứ (TTCC) chưa có căn cứ để yêu cầu nước ngoài thực hiện. Thực tế này tạo ra một khoảng trống về cơ sở pháp lý quốc tế trong thực hiện các yêu cầu TTTP về dân sự của Việt Nam và chưa thể hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự một cách triệt để. Vì vậy, năm 2020, Việt Nam tiếp tục gia nhập Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước thu thập chứng cứ).

Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ được đánh giá là một cặp công cụ pháp lý đồng hành, hỗ trợ cho hoạt động TTTP, giúp giải quyết các vụ việc dân sự, thương mại một cách nhanh chóng, triệt để. Sau hơn 05 năm thực thi, các Công ước đã tạo bước nhảy vọt cho công tác TTTP, hỗ trợ tích cực cho Tòa án các cấp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cần yêu cầu ủy thác tư pháp (UTTP) tống đạt giấy tờ, TTCC cho quốc gia thành viên các Công ước.

1. Công ước tống đạt, quá trình gia nhập của Việt Nam

1.1. Công ước tống đạt

Công ước tống đạt là công ước đa phương do Hội nghị La Hay soạn thảo và được thông qua vào ngày 15/11/1965 tại phiên họp lần thứ 10 của Hội nghị La Hay, có hiệu lực kể từ ngày 10/02/1969. Công ước tống đạt gồm có 31 điều và 01 Phụ lục các mẫu yêu cầu tống đạt, giấy xác nhận kết quả tống đạt, bản tóm tắt giấy tờ được tống đạt.

Công ước tống đạt áp dụng cho các vụ việc về dân sự hoặc thương mại có yêu cầu phải tống đạt giấy tờ tư pháp hoặc ngoài tư pháp ra nước ngoài và không áp dụng trong trường hợp không biết được địa chỉ của người nhận được tống đạt (Điều 1). Công ước áp dụng với việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp nhưng không có định nghĩa cụ thể về các loại giấy tờ này mà việc phân loại phụ thuộc vào pháp luật của nước gửi (nước yêu cầu).

Công ước tống đạt tập trung vào hai vấn đề chính là: (i) Thủ tục tống đạt giấy tờ và (ii) Xét xử vắng mặt liên quan đến việc tống đạt giấy triệu tập bị đơn.

Công ước tống đạt cung cấp 01 kênh tống đạt chính thông qua Cơ quan Trung ương của nước được yêu cầu (Điều 2 đến Điều 7). Bên cạnh kênh tống đạt chính, Công ước tống đạt cũng quy định các kênh tống đạt thay thế: Thông qua cơ quan ngoại giao, lãnh sự (Điều 8, Điều 9); đường bưu điện (đoạn a Điều 10); cá nhân có thẩm quyền (đoạn b, đoạn c Điều 10) và các kênh tống đạt khác mà các nước thành viên chấp nhận (Điều 11).

Chi phí thực hiện tống đạt sẽ được miễn, có nghĩa là các quốc gia sẽ không yêu cầu thanh toán cho việc thực hiện tống đạt. Tuy vậy, đối với chi phí tống đạt theo phương thức đặc biệt hoặc thực hiện qua tổ chức tư nhân (thừa phát lại, doanh nghiệp) thì nước yêu cầu phải trả chi phí cho việc thực hiện. Thời gian thực hiện tống đạt có thể trong vòng 02 tháng và nhiều nhất là 06 tháng. Kết quả tống đạt sẽ được xác nhận bởi Cơ quan Trung ương, theo đó, giấy xác nhận kết quả phải nêu rõ tống đạt giấy tờ có thành công hay không.

Về xét xử vắng mặt, Công ước tống đạt quy định về hai nội dung liên quan đến thẩm quyền tố tụng của cơ quan xét xử của quốc gia thành viên, đó là: (i) Quy định yêu cầu thẩm phán không đưa ra bản án, quyết định khi bị đơn vắng mặt cho đến khi việc tống đạt được thực hiện trong điều kiện nhất định và trong khoảng thời gian nhất định, tuy nhiên, bản án, quyết định có thể được tuyên khi vắng mặt bị đơn nếu đáp ứng một số điều kiện cụ thể (Điều 15); (ii) Cho phép bị đơn không bị ràng buộc bởi thời hiệu kháng cáo khi đáp ứng một số điều kiện nhất định (Điều 16).

1.2. Quá trình gia nhập của Việt Nam

Từ năm 2013, khi trở thành thành viên của Hội nghị La Hay, Việt Nam đã có nghiên cứu và đánh giá khả năng gia nhập Công ước tống đạt. Nhận thấy, phạm vi địa lý tống đạt rộng hơn so với các điều ước TTTP song phương, trong bối cảnh nhiều nước hạn chế ký kết các hiệp định song phương về TTTP và trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự và thương mại, Việt Nam đã chính thức nộp đơn gia nhập Công ước tống đạt vào ngày 16/3/2016 tại Phiên họp Hội đồng Các vấn đề chung và chính sách của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Công ước tống đạt có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 01/10/2016.

Theo quy định của Công ước tống đạt các điều 16, 29 và 31, khi gia nhập, Việt Nam đã đưa ra Tuyên bố[4] như sau: (i) Tuyên bố chỉ định Bộ Tư pháp Việt Nam là cơ quan gửi giấy tờ và là Cơ quan Trung ương theo Điều 2 của Công ước; (ii) Không áp dụng phương thức tống đạt tại Điều 8 Công ước, trừ khi giấy tờ được tống đạt cho công dân của quốc gia gửi; (iii) Không áp dụng phương thức tống đạt tại đoạn b và đoạn c Điều 10 của Công ước (phương thức tống đạt thông qua cán bộ tư pháp và người tham gia tố tụng); (iv) Áp dụng phương thức tống đạt tại đoạn a Điều 10 Công ước với điều kiện giấy tờ được gửi qua thư bảo đảm; (v) Áp dụng đoạn 2 Điều 15 của Công ước, theo đó, thẩm phán có quyền đưa ra bản án/quyết định khi có căn cứ chứng minh rằng giấy triệu tập đã được đưa trực tiếp cho bị đơn trong thời gian đủ để bị đơn biết; (vi) Yêu cầu tống đạt theo mẫu gửi đến Việt Nam phải được lập bằng hoặc kèm theo một bản dịch bằng tiếng Việt. Các giấy tờ của nước ngoài được tống đạt tại Việt Nam phải được lập bằng hoặc kèm theo một bản dịch bằng tiếng Việt có công chứng hoặc chứng thực chữ ký người dịch, trừ trường hợp tống đạt qua kênh ngoại giao, lãnh sự trực tiếp cho đương sự là công dân nước gửi hoặc tống đạt qua kênh bưu điện cho đương sự là công dân nước gửi quy định tại Điều 8 và đoạn a Điều 10 Công ước.

2. Công ước thu thập chứng cứ, quá trình gia nhập của Việt Nam

2.1. Công ước thu thập chứng cứ

Công ước thu thập chứng cứ là Công ước đa phương của Hội nghị La Hay được ký ngày 18/3/1970 và có hiệu lực từ ngày 07/10/1972. Công ước thu thập chứng cứ gồm 03 Chương và 42 Điều.

Mục tiêu của Công ước thu thập chứng cứ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc TTCC và hài hòa hóa phương thức TTCC giữa các quốc gia thông qua văn bản yêu cầu và các kênh bổ sung như thông qua viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự và người được ủy quyền. Công ước chỉ được áp dụng cho việc TTCC trong các thủ tục tố tụng trong lĩnh vực dân sự, thương mại và thực hiện các “hoạt động tư pháp khác” giữa các quốc gia thành viên.

Thu thập chứng cứ thông qua văn bản yêu cầu thực hiện tương tự kênh chính của Công ước tống đạt. Mỗi quốc gia thành viên phải chỉ định một Cơ quan Trung ương (Điều 2) để nhận văn bản yêu cầu, chuyển văn bản xác nhận thực hiện văn bản yêu cầu và thông báo lý do của việc không thực hiện văn bản yêu cầu. Công ước quy định cụ thể về nội dung, yêu cầu cần có trong văn bản yêu cầu TTCC (Điều 3, Điều 4) và việc thực hiện văn bản yêu cầu hoàn toàn theo quy định pháp luật của quốc gia được yêu cầu hoặc có thể theo cách thức, thủ tục đặc biệt mà quốc gia yêu cầu đề nghị nếu phù hợp với pháp luật quốc gia được yêu cầu (Điều 9), không làm phát sinh chi phí trừ khoản chi phí cho chuyên gia, phiên dịch hoặc thực hiện TTCC theo thủ tục đặc biệt (Điều 14).

Bên cạnh kênh TTCC truyền thống thông qua văn bản yêu cầu, Công ước cũng quy định các kênh TTCC thông qua viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự hoặc người được ủy quyền. Viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự có thể TTCC đối với công dân của quốc gia mình, công dân của quốc gia nơi chứng cứ được thu thập hoặc của quốc gia thứ ba (Điều 15, Điều 16). Người được ủy quyền có thể TTCC nếu có sự cho phép trước từ quốc gia nơi chứng cứ được thu thập (Điều 17). Thẩm quyền TTCC của viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự và người được ủy quyền phụ thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia. Trong trường hợp pháp luật nước họ có quy định và được sự cho phép của quốc gia nơi chứng cứ được thu thập thì họ có thể tiến hành TTCC theo quy định tương ứng tại Chương II của Công ước, việc TTCC không trái với pháp luật quốc gia nơi chứng cứ được thu thập cũng như các điều kiện do cơ quan có thẩm quyền được chỉ định của quốc gia nơi chứng cứ được thu thập đã cho phép (Điều 21).

2.2. Quá trình gia nhập của Việt Nam

Công ước tống đạt giấy tờ và Công ước thu thập chứng cứ là cặp công cụ pháp lý ưu việt hỗ trợ cho hoạt động TTTP. Nhận thức được điều đó, để hoàn thiện thêm một bước cơ sở pháp lý quốc tế về hợp tác TTTP, sau 04 năm gia nhập Công ước tống đạt ngày 04/3/2020, tại Phiên họp Hội đồng các vấn đề chung và chính sách của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế diễn ra tại La Hay, Hà Lan, Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập Công ước thu thập chứng cứ.

Công ước thu thập chứng cứ có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 03/5/2020. Tuy nhiên, Công ước chỉ có hiệu lực giữa quốc gia xin gia nhập và quốc gia thành viên khác của Công ước vào ngày thứ 60 khi quốc gia thành viên đó nộp văn kiện tuyên bố chấp nhận việc gia nhập của quốc gia xin gia nhập (Điều 39). Hiện nay, đã có 27 quốc gia chấp nhận việc gia nhập Công ước thu thập chứng cứ của Việt Nam[5].

Theo quy định của Công ước thu thập chứng cứ tại Điều 2, khoản 1 Điều 4, Điều 23, Điều 33, khi gia nhập, Việt Nam tuyên bố và bảo lưu một số nội dung như sau: (i) Chỉ định Bộ Tư pháp là Cơ quan Trung ương; (ii) Bảo lưu toàn bộ các quy định tại khoản 2 Điều 4 và Chương II Công ước; (iii) Tuyên bố văn bản yêu cầu phải lập bằng tiếng Việt hoặc kèm theo bản dịch tiếng Việt; (iv) Tuyên bố không thực hiện văn bản yêu cầu để TTCC là các tài liệu liên quan trước khi diễn ra phiên tòa như được biết đến ở các nước theo hệ thống thông luật, trừ khi đáp ứng toàn bộ các điều kiện sau: Vụ việc đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý; tài liệu cần thu thập phải được xác định cụ thể trong yêu cầu về ngày tháng, chủ đề và nội dung thông tin liên quan và tình tiết chứng minh thông tin được tìm kiếm liên quan trực tiếp đến vụ việc được nêu; tài liệu liên quan đến người được yêu cầu hoặc do người đó nắm giữ, sở hữu.

3. Tác động của hai Công ước đối với hoạt động tương trợ tư pháp của Việt Nam

3.1. Tác động tích cực

Ngay sau khi Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ có hiệu lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Kế hoạch thực hiện các Công ước[6], trong đó xác định rõ các nhiệm vụ cần triển khai, thời gian và cơ quan chủ trì làm cơ sở cho các bộ, ngành thực thi Công ước một cách đồng bộ, tổng thể và nghiêm túc.

Sau hơn 05 năm thực thi Công ước tống đạt, hơn 02 năm thực thi Công ước thu thập chứng cứ cho thấy việc gia nhập, thực hiện các Công ước đã hỗ trợ tích cực cho Tòa án các cấp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cần yêu cầu ủy thác tống đạt giấy tờ, TTCC cho các quốc gia thành viên các Công ước. Cụ thể:

Thứ nhất, việc gia nhập, thực hiện các Công ước góp phần thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật về TTTP, tố tụng dân sự của nước ta trong những năm vừa qua.

Công tác nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế pháp luật về TTTP ngày càng được chú trọng, hoàn thiện. Từ khi gia nhập các Công ước đến nay, các bộ, ngành đã liên tịch ban hành các văn bản pháp luật quy định về TTTP về dân sự trong đó có các quy định nhằm nội luật hóa, xã hội hóa hoạt động tống đạt, thực thi hiệu quả các Công ước. Cụ thể:

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp năm 2007: Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2008. Sau hơn 14 năm thực hiện, Luật Tương trợ tư pháp đã bộc lộ những bất cập khi chưa dự đoán hết được bước phát triển trong hoạt động hợp tác về tư pháp, khuôn khổ pháp lý chưa đủ mở để tạo thuận lợi cho việc ký kết và thực hiện các ĐƯQT song phương và đa phương. Do đó, thực hiện ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc giao Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xây dựng dự án Luật Tương trợ tư pháp về dân sự[7] để đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2025, hiện nay, Bộ Tư pháp đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự trình Chính phủ.

- Nội luật hóa các quy định của Công ước tống đạt: Các công ước không quy định các quốc gia thành viên phải sửa đổi pháp luật quốc gia hay nội luật hóa các quy định của công ước. Các quy định của Công ước tống đạt tương thích với pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo đảm thực thi Công ước tống đạt một cách hiệu quả và tạo thuận lợi cho các cơ quan trực tiếp thực hiện tống đạt giấy tờ tại các địa phương, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục TTTP trong lĩnh vực dân sự (Thông tư liên tịch số 12)[8], trong đó, có nội luật hóa một số nội dung của Công ước tống đạt như các kênh tống đạt, chi phí thực tế và mẫu yêu cầu tống đạt giấy tờ.

- Ban hành thông tư hướng dẫn các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tống đạt giấy tờ: Ngày 05/12/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã ký liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 01/2019/TTLT-TANDTC-BNG quy định về trình tự, thủ tục phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện một số hoạt động tố dụng dân sự và tố tụng hành chính ở nước ngoài (Thông tư liên tịch số 01). Thông tư liên tịch số 01 quy định trình tự, thủ tục tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

- Xã hội hóa hoạt động thực hiện UTTP về tống đạt giấy tờ: Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại (Nghị định số 08). Nghị định số 08 có quy định giao thừa phát lại thực hiện tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến TTTP trong lĩnh vực dân sự của nước ngoài[9], tạo cơ sở cho thừa phát lại có thể thực hiện tống đạt giấy tờ của nước ngoài.

Như vậy, trên cơ sở rà soát pháp luật khi nghiên cứu, gia nhập các Công ước, một số quy định của Công ước tống đạt đã được nội luật hóa tại Thông tư liên tịch số 12, đã kịp thời có những hướng dẫn để bảo đảm thực thi Công ước tống đạt. Đồng thời, việc gia nhập các Công ước cũng góp phần định hướng trong quá trình đề xuất sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp trong tương lai.

Thứ hai, hiệu quả hoạt động TTTP ngày càng được nâng cao.

Ở giai đoạn từ năm 2013 - 2016 (khi Việt Nam chưa gia nhập Công ước tống đạt), trong số 13.624 yêu cầu TTTP của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam gửi ra nước ngoài thì có tới 11.515 yêu cầu gửi đến những nước chưa có ĐƯQT với Việt Nam (chiếm gần 84,5% yêu cầu TTTP gửi ra nước ngoài). Tỷ lệ yêu cầu không có trả lời lên đến trên 58% và nếu có trả lời thì thời gian thực hiện thường rất dài, có khi đến hàng năm[10].

Sau khi gia nhập Công ước tống đạt, thời gian đầu thực hiện, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam vẫn còn “lúng túng” trong việc áp dụng Công ước nhưng đến nay, qua 05 năm thực thi, tình hình tống đạt giấy tờ đã rất khả quan, có một bước tiến lớn về tỷ lệ hồ sơ gửi đi có trả lời.

Số yêu cầu tống đạt của Việt Nam gửi ra nước ngoài có kết quả đạt 84,5%, đây là một bước đột phá so với giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập Công ước khi các yêu cầu gửi đi các nước không có ĐƯQT hầu như không có kết quả, đặc biệt đối với những nước Việt Nam có nhu cầu cao về tống đạt giấy tờ như Hoa Kỳ, Ô-xtrây-li-a, Hàn Quốc, Ca-na-đa. Các kết quả nhận được đều là các kết quả do Cơ quan Trung ương của các nước trả trực tiếp cho Bộ Tư pháp - Cơ quan Trung ương của Việt Nam. Số yêu cầu của nước ngoài gửi đến Việt Nam được các Tòa án trong nước thực hiện có kết quả đạt trung bình trên 73%, các nước có nhiều yêu cầu tống đạt gửi đến Việt Nam là Hàn Quốc, Trung Quốc, Cộng hòa liên bang Đức.

So với trước đây, tỷ lệ các yêu cầu tống đạt giấy tờ có phản hồi đã chuyển biến tích cực từ khi Việt Nam gia nhập Công ước. Từ đó, Tòa án hạn chế được tình trạng phải tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự với lý do chờ kết quả ủy thác tống đạt ra nước ngoài. Đồng thời, thông báo kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tống đạt cũng là căn cứ quan trọng để Tòa án Việt Nam tiếp tục xử lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Công ước thu thập chứng cứ đã có hiệu lực với Việt Nam hơn 02 năm, tuy nhiên, trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, thời điểm Công ước có hiệu lực giữa Việt Nam và các nước khác nhau nên số lượng yêu cầu UTTP TTCC chưa nhiều. Trong giai đoạn 03/5/2020 - 31/12/2022, Việt Nam nhận được 02 yêu cầu TTCC từ phía nước ngoài nhưng sau đó, Bộ Tư pháp đã trả lại yêu cầu đề nghị làm rõ yêu cầu, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Việt Nam đã gửi đi 26 yêu cầu TTCC (chủ yếu các nước Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Ô-xtrây-li-a) và đã nhận được kết quả của 14 yêu cầu (chiếm tỷ lệ 56%). Do tính chất đặc thù nên hoạt động UTTP TTCC mất nhiều thời gian hơn so với yêu cầu tống đạt giấy tờ, thời gian thực hiện dài hơn nên kết quả còn hạn chế.

Thứ ba, rút ngắn thời gian thực hiện UTTP.

Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã rút ngắn thời gian khi lập, gửi hồ sơ UTTP tống đạt giấy tờ cho 80 quốc gia thành viên Công ước tống đạt, 27 quốc gia thành viên Công ước thu thập chứng cứ khi gửi hồ sơ thông qua đầu mối Bộ Tư pháp - Cơ quan Trung ương.

Trước khi gia nhập các Công ước, việc UTTP chủ yếu thực hiện qua kênh ngoại giao, đi qua nhiều cơ quan trung gian gây mất thời gian trong việc lập, gửi và nhận kết quả thực hiện tống đạt, có thể kéo dài hàng năm mới có kết quả. Sau khi gia nhập các Công ước, UTTP được chủ yếu gửi thông qua kênh chính/trực tiếp thông qua Cơ quan Trung ương hai bên.

Thời gian thực hiện các yêu cầu tống đạt của cả hai chiều Việt Nam gửi ra nước ngoài và của nước ngoài gửi đến Việt Nam được rút ngắn hơn nhiều, trung bình chỉ từ 04 - 06 tháng. Theo thống kê của Ban Thư ký Hội nghị La Hay, 66% các yêu cầu tống đạt trong khuôn khổ Công ước tống đạt được thực hiện trong vòng 02 tháng[11]. Trong thời gian tới, khi số lượng thành viên các Công ước tăng lên, các nước thành viên Công ước thu thập chứng cứ đồng ý sự gia nhập của Việt Nam thì mối quan hệ hợp tác quốc tế về tố tụng dân sự giữa Việt Nam với các nước thành viên mới được tiếp tục thiết lập, phục vụ nhu cầu của cả hai bên trong lĩnh vực này.

Thứ tư, giảm thiểu chi phí UTTP.

Khi gia nhập các Công ước, các yêu cầu tống đạt giấy tờ, TTCC sẽ được chuyển trực tiếp từ Bộ Tư pháp - Cơ quan Trung ương của Việt Nam đến các Cơ quan Trung ương các quốc gia thành viên, giúp giảm thiểu chi phí bưu chính gửi hồ sơ, kết quả giữa các cơ quan trung gian như trước đây.

Đối với chi phí trả cho việc thực hiện các yêu cầu TTTP cũng sẽ giảm thiểu do các Công ước quy định việc thực hiện tống đạt, TTCC là miễn phí/không thu chi phí trừ các chi phí phát sinh trong các trường hợp đã được Công ước quy định (như thực hiện các thủ tục đặc biệt theo yêu cầu của quốc gia yêu cầu; thuê người có thẩm quyền thực hiện tống đạt; thuê chuyên gia, phiên dịch,… thực hiện yêu cầu TTCC). Một số nước thông báo có thu phí tống đạt thì mức phí cũng được quy định cụ thể và rõ ràng, minh bạch để bảo đảm thực hiện tống đạt. Ví dụ như Hoa Kỳ quy định rõ chi phí tống đạt giấy tờ là 95 đô la Mỹ hay Ca-na-đa là 100 đô la Ca-na-đa.

Thứ năm, thiết lập kênh liên hệ thường xuyên, trao đổi với các Cơ quan Trung ương, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực thi các Công ước.

Với số lượng lớn hồ sơ UTTP gửi đi nước ngoài và tiếp nhận từ nước ngoài đòi hỏi Bộ Tư pháp - Cơ quan Trung ương của Việt Nam phải liên hệ với Cơ quan Trung ương của các quốc gia thành viên để đôn đốc việc thực hiện các yêu cầu TTTP; kiểm tra thông tin; trao đổi vướng mắc về các yêu cầu cụ thể. Hoạt động này giúp đẩy nhanh tiến độ giải quyết các yêu cầu. Trên cơ sở kinh nghiệm thực thi Công ước tống đạt trước đó, hiện nay, Bộ Tư pháp cũng đã thiết lập được đầu mối liên hệ với một số quốc gia Việt Nam thường xuyên gửi nhiều yêu cầu TTTP như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Cộng hòa liên bang Đức.

Bộ Tư pháp cũng chủ động phối hợp với các bộ, ngành giải đáp những khuyến nghị, thắc mắc của cơ quan có thẩm quyền các nước thành viên Công ước về thể chế, chính sách của Việt Nam liên quan đến tống đạt giấy tờ. Trong quá trình thực thi Công ước thu thập chứng cứ, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và có văn bản cung cấp thông tin về quy định pháp luật và trình tự, thủ tục thực hiện TTCC qua cầu truyền hình theo đề nghị của một số quốc gia[12].

Thứ sáu, thêm một kênh tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam đang cư trú tại các quốc gia thành viên Công ước tống đạt.

Bên cạnh kênh tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài qua các cơ quan đại diện theo quy định Thông tư liên tịch số 01, Công ước tống đạt cho phép các quốc gia thành viên gửi yêu cầu tống đạt đến quốc gia thành viên khác cho đương sự cư trú trên lãnh thổ nước đó mà không có sự phân biệt quốc tịch của đương sự. Quy định mở trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thẩm quyền có thể áp dụng Công ước để tống đạt cho công dân Việt Nam đang có mặt trên lãnh thổ của nước thành viên Công ước khi việc tống đạt cho đương sự đó thông qua Cơ quan đại diện Việt Nam gặp khó khăn vì nhiều lý do khách quan, chủ quan khác nhau.

Thứ bảy, việc gia nhập, thực hiện các Công ước bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền được xét xử công bằng của đương sự ở trong và ngoài nước.

Việc gia nhập, thực thi Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ đã giúp các đương sự ở trong nước và nước ngoài có thể: (i) Nhận được văn bản tố tụng trong thời gian hợp lý để chủ động quyết định các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cũng như cơ quan có thẩm quyền nước ngoài như chủ động tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác tại Việt Nam/nước ngoài tham gia tố tụng hoặc đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam/nước ngoài. Kể cả trong trường hợp đương sự không chủ động tham gia quy trình tố tụng nhưng việc tống đạt thành công văn bản tố tụng cho đương sự theo quy định pháp luật nước sở tại/Việt Nam cũng sẽ là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc. (ii) Thể hiện quan điểm, cung cấp tài liệu, chứng cứ về vụ việc trong thời gian hợp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại cơ quan có thẩm quyền Việt Nam/nước ngoài.

3.2. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên thì quá trình gia nhập, thực thi Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: (i) Việc thực thi các Công ước đặt ra yêu cầu chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa trong lĩnh vực TTTP về dân sự; (ii) Tỷ lệ yêu cầu TTTP có kết quả phản hồi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, tính ưu việt của các Công ước; (iii) Vấn đề tin học hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý các yêu cầu TTTP ngày càng bức thiết.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân như sau:

(i) Thông tin của đương sự, đặc biệt là địa chỉ ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam không đầy đủ, chính xác gây khó khăn, kéo dài việc thực hiện để tìm kiếm, xác minh, giảm tỷ lệ thành công của hoạt động tống đạt giấy tờ, TTCC.

(ii) Nhận thức về tính chất, vai trò và tác động của hoạt động TTTP trong hoạt động tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án trong và ngoài nước để bảo đảm quyền lợi ích của đương sự là cá nhân, tổ chức vẫn còn hạn chế.

(iii) Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước về TTTP trong lĩnh vực dân sự và là Cơ quan Trung ương về UTTP trong lĩnh vực dân sự đối với các nước có điều ước quốc tế với Việt Nam nhưng chưa có đơn vị chuyên trách quản lý nhà nước về công tác TTTP, ở địa phương, cán bộ làm công tác UTTP thường là cán bộ kiêm nhiệm hoặc mới ra trường. Việc xây dựng và hoàn thiện về bộ máy, nhân lực thực hiện các UTTP của Việt Nam ra nước ngoài và UTTP của nước ngoài vào Việt Nam đang là thách thức đặt ra trong bối cảnh thực hiện chủ trương về tinh giản biên chế.

(iv) Việc đẩy mạnh tin học hóa hoạt động UTTP đòi hỏi hệ thống cơ sở kỹ thuật của Cơ quan Trung ương và các cơ quan có thẩm quyền địa phương (các Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) phải đồng bộ. Tuy nhiên, hiện cơ sở kỹ thuật của các cơ quan địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu để thực hiện hoạt động nêu trên.

(v) Đại dịch Covid-19 đã bùng phát hầu hết tại các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới trong khoảng thời gian từ cuối năm 2019 - 2022. Để đối phó với tình hình đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam phải áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, hạn chế các chuyến bay quốc tế… Do đó, việc thực hiện các yêu cầu TTCC cũng bị ảnh hưởng, thời gian thực hiện và gửi kết quả kéo dài.

4. Đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở những tác động tích cực và tồn tại hạn chế trong quá trình thực hiện các Công ước nêu trên, để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các Công ước yêu cầu trong giai đoạn tiếp theo, Bộ Tư pháp - Cơ quan Trung ương trong thực thi các Công ước cùng các bộ, ngành tiếp tục thực hiện đồng bộ một số hoạt động như sau:

- Hoàn thiện pháp luật về TTTP để phù hợp với bước phát triển và tốc độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động TTTP, tạo khuôn khổ pháp lý mở sẵn sàng cho việc thực hiện tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam, cũng như bảo đảm tính tương thích với các chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi cho việc đàm phán, tham gia các ĐƯQT song phương và đa phương.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động UTTP; nghiên cứu việc lập, gửi hồ sơ tống đạt giấy tờ và nhận kết quả theo hình thức dữ liệu điện tử; trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ thực hiện UTTP tại các cơ quan có thẩm quyền, từng bước thực hiện nhiệm vụ tin học hóa hoạt động UTTP tại các cơ quan địa phương.

- Nâng cao hiệu quả thực thi Công ước, thực hiện tốt các yêu cầu tống đạt giấy tờ, TTCC cả hai chiều với tỷ lệ có kết quả cao, rút ngắn thời gian thực hiện; thường xuyên rà soát, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các yêu cầu TTTP trong khuôn khổ các Công ước ở cả hai chiều, kịp thời xử lý nhanh các vướng mắc phát sinh và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các nước thể hiện sự chủ động, tích cực của Việt Nam.

- Phát huy vai trò của Cơ quan Trung ương trong việc kết nối, liên hệ, thiết lập đầu mối với Cơ quan Trung ương của các quốc gia thành viên các Công ước, cũng như với các cơ quan có thẩm quyền trong nước như Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao nhằm thực thi hiệu quả Công ước.

Có thể thấy, việc Việt Nam gia nhập các Công ước đa phương quan trọng về TTTP với số lượng lớn các quốc gia thành viên đã trực tiếp thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực, thể hiện sự sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với các nước trên thế giới nói chung, trong việc cùng hỗ trợ nhau giải quyết những vấn đề tư pháp quốc tế nói riêng. Việc gia nhập các Công ước - cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng đã giúp Việt Nam mở rộng đối tác hợp tác TTTP, đáp ứng nhu cầu lớn của Việt Nam về TTTP tống đạt giấy tờ, TTCC ngày càng gia tăng. Thực tế thực thi thời gian qua đã bước đầu chứng minh tính ưu việt của cơ chế hợp tác đa phương về TTTP hiện nay, thay đổi hoàn toàn cơ chế thực hiện TTTP của Việt Nam so với trước đây và sẽ ngày càng phát triển trong tương lai.

Nguyễn Thị Hoa

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

[1]. Nhận định của các chuyên gia pháp luật tại Hội thảo về thực hiện các công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế tại Vùng Ca-ri-bê và Bermada tổ chức tại Hamilton, Bermuda từ ngày 21 - 25/5/2012 hay Hội thảo về Công ước tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp liên quan đến dân sự, thương mại tổ chức vào ngày 28/11/2011 tại thành phố Mê-xi-cô, Liên bang Mê-xi-cô.

[2]. Tính đến ngày 31/3/2023, Công ước Tống đạt: 80 thành viên; Công ước thu thập chứng cứ: 65 thành viên (https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/status-table/?cid=17;https://www.hcch.net/en/ instruments/conventions/status-table/?cid=82).

[3]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế của Việt Nam là “chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng trật tự chính trị và kinh tế công bằng, dân chủ, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, củng cố hòa bình, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi”; Mục I.6 Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 yêu cầu trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế phải “đẩy mạnh tham gia các điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp”; Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định chủ trương: “Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế”.

[4]. Quyết định số 2731/2015/QĐ-CTN ngày 08/12/2015 của Chủ tịch nước về gia nhập Công ước tống đạt.

[5]. https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/status-table/acceptances/?mid=1436, truy cập ngày 31/3/2023.

[6]. Quyết định số 2312/QĐ-TTg ngày 29/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước tống đạt và Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 30/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước thu thập chứng cứ.

[7]. Thông báo tại Công văn số 2604/VPCP-PL ngày 24/9/2020 của Văn phòng Chính phủ.

[8]. Thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp.

[9]. Điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 08.

[10]. Báo cáo của Chính phủ về hoạt động tương trợ tư pháp các năm 2013 - 2016.

[11]. Thống kê từ kết quả khảo sát năm 2008, công bố tháng 11/2009 trên trang thông tin điện tử của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế: http://www.hcch.net/upload/outline14e.pdf.

[12]. Hàn Quốc, Xinh-ga-po.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 381), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.
Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ người làm chứng (nhân chứng) là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm công lý và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tại Trung Quốc, cơ chế bảo vệ nhân chứng đã từng bước được hoàn thiện trong những năm gần đây, đặc biệt, thông qua việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật. Bài viết phân tích khuôn khổ pháp lý hiện hành về bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc, đánh giá những điểm tiến bộ, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhân chứng.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á tiêu biểu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả và ổn định trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích cấu trúc tổ chức, quyền hạn, phân bổ ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp chính quyền tại Nhật Bản, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.
Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Việc nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các hệ thống pháp luật tiên tiến của Hoa Kỳ, Pháp, Anh và việc tham gia tích cực vào các công ước quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng hệ thống tư pháp toàn diện, đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các vụ việc dân sự mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Bài viết phân tích một số quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan, kinh nghiệm của một số quốc gia về các nội dung chính sách trên trong Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, từ đó, củng cố cơ sở khoa học cho việc xây dựng các quy định cụ thể trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bài viết nghiên cứu các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là thành viên, thực tiễn triển khai giữa hai nước và đề xuất định hướng hợp tác giữa hai nước về lĩnh vực này trong thời gian tới.
Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp vừa tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, vừa đóng vai trò “cầu nối” giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế. Vì vậy, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp có tác động tích cực đến hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước.
Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm qua, đặc biệt, trong một thập kỷ gần đây, quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp đã có bước phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.
Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Hiện nay, các tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội diễn ra ngày càng phổ biến. Một trong những công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội, nguy hiểm, gây ra thiệt hại lớn cho xã hội được các tội phạm sử dụng nhiều nhất, chính là sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware). Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để kịp thời phòng, chống những tác hại của Ransomware là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó, kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Pháp luật về hòa giải thương mại của Việt Nam và Ấn Độ - Góc nhìn so sánh và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Việt Nam và Ấn Độ đều có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hòa giải thương mại, nhưng có sự khác biệt đáng kể về cơ chế vận hành và thực thi. Bài viết sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích và đối chiếu quy định pháp luật giữa hai quốc gia, đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật về hòa giải thương mại tại Việt Nam.

Vai trò của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

Nội các Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình lập pháp với quyền đề xuất hầu hết các dự thảo luật trình lên Quốc hội. Bài viết nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp, từ sáng kiến đến soạn thảo, đánh giá và thông qua luật. Đồng thời, so sánh với quy trình lập pháp tại Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng. Từ đó, đề xuất các giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo nhằm nâng cao vị trí và vai trò của Chính phủ trong quá trình xây dựng pháp luật.

Hình phạt tiền - Dưới góc nhìn so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với Liên bang Úc và kinh nghiệm cho Việt Nam

Hình phạt tiền ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Liên bang Úc, như một biện pháp hiệu quả để xử lý các hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm do pháp nhân thực hiện. Bài viết phân tích quy định pháp luật hình sự về hình phạt tiền của Việt Nam và Liên bang Úc, làm rõ sự khác biệt về đối tượng pháp nhân chịu trách nhiệm, phương pháp xác định mức phạt, các yếu tố Tòa án cân nhắc và cơ chế thi hành; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Kết đôi dân sự theo pháp luật của Pháp và gợi mở quy chế pháp lý cho cặp đôi không muốn kết hôn tại Việt Nam

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã ghi nhận và thiết lập quy định liên quan đến vấn đề chung sống như vợ chồng, bởi đây là hiện tượng khách quan và phổ biến trong xã hội. Bộ luật Dân sự Pháp đã thiết kế chế định kết đôi dân sự để điều chỉnh mối quan hệ giữa các cặp đôi chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn. Bài viết phân tích chế định kết đôi dân sự ở Pháp, thực trạng chung sống như vợ chồng ở Việt Nam và gợi mở về một số thay đổi của chính sách, pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: