Thứ tư 11/02/2026 09:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về cơ sở thẩm mỹ phi y tế để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện và phạm vi hoạt động của cơ sở dịch vụ thẩm mỹ; nhận diện một số hạn chế, bất cập từ quy định pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng; từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi họ sử dụng dịch vụ được cung cấp bởi các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ.

Abstract: The article studies and analyzes current regulations on the conditions and scope of operation of cosmetic service establishments; identifies some limitations and shortcomings from legal regulations as well as practical application; thereby, it proposes some solutions to improve legal regulations on the management of cosmetic service establishments, contributing to protect the rights of consumers when they use services provided by cosmetic service establishments.

Đặt vấn đề

Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là nơi cung cấp các dịch vụ làm đẹp, chăm sóc sắc đẹp cho con người. Do nhu cầu của các đối tượng khách hàng nên phạm vi hoạt động của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ ngày càng được mở rộng, từ dịch vụ đơn giản đến các kỹ thuật chuyên sâu cần có sự can thiệp của các dụng cụ y tế. Chính vì sự phát triển đa dạng này mà không ít người nhầm lẫn giữa cơ sở thẩm mỹ thông thường (hay còn gọi là cơ sở thẩm mỹ phi y tế) và cơ sở thẩm mỹ y tế, đặc biệt, khi các dịch vụ thẩm mỹ có sự can thiệp vào cơ thể người.

Tuy nhiên, việc xác định cơ sở thẩm mỹ có hợp pháp hay không, có đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật quy định, cũng như xác định trách nhiệm của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ khi phát sinh rủi ro… chưa được người tiêu dùng nhận diện rõ, đặc biệt là các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ tại các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là thực sự cần thiết.

1. Quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế

Khoản 12 Điều 40 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30/12/2023 của Chính phủ hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Nghị định số 96/2023/NĐ-CP) quy định, nếu cơ sở cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người như phẫu thuật, thủ thuật, các can thiệp có tiêm, chích, bơm, chiếu tia, sóng, đốt hoặc các can thiệp xâm lấn khác thì phải được thành lập theo một trong các hình thức tổ chức là bệnh viện, phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa. Đây là những mô hình được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực y tế, có đội ngũ bác sĩ được đào tạo chuyên môn và trang thiết bị bảo đảm an toàn. Quy định này phần nào giúp phân định ranh giới giữa các cơ sở thẩm mỹ được coi là cơ sở y tế với các cơ sở thẩm mỹ thông thường. Điều này cho thấy, chỉ cần có yếu tố xâm lấn và sử dụng thuốc thì dịch vụ đó đã vượt qua phạm vi của hoạt động thẩm mỹ thông thường.

Vì vậy, người tiêu dùng cần đặc biệt thận trọng trước khi lựa chọn bất kỳ dịch vụ thẩm mỹ nào, cần tìm hiểu rõ về tính pháp lý của cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và điều kiện hành nghề của người thực hiện dịch vụ thẩm mỹ y tế. Việc bỏ qua những yếu tố này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, từ biến chứng thẩm mỹ đến các tranh chấp pháp lý không mong muốn. Nếu có yếu tố can thiệp y học, sử dụng thuốc, thiết bị hoặc kỹ thuật xâm lấn, thì cơ sở đó nhất định phải được thành lập, tổ chức và vận hành với hình thức cơ sở y tế hợp pháp theo quy định của pháp luật. Hiểu rõ điều này sẽ giúp người tiêu dùng chủ động hơn trong việc bảo vệ bản thân, đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng và an toàn trong lĩnh vực thẩm mỹ hiện nay.

Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định về các cơ sở thẩm mỹ được xem là cơ sở y tế. Tuy nhiên, đối với các cơ sở thẩm mỹ phi y tế như các spa, cơ sở làm đẹp đơn thuần thì chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh.

Trước đây, Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Nghị định số 109/2016/NĐ-CP), có sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại hình cơ sở thẩm mỹ là: cơ sở dịch vụ thẩm mỹ phi y tế và cơ sở thẩm mỹ có yếu tố can thiệp y học, giúp công tác quản lý minh bạch và dễ dàng hơn.

Xét về khía cạnh pháp luật, việc đưa quy định về cơ sở thẩm mỹ phi y tế vào cùng nghị định hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh (như quy định tại Nghị định số 109/2016/NĐ-CP) là chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, những cơ sở không thực hiện khám, chữa bệnh thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Vì vậy, việc bỏ quy định về các cơ sở thẩm mỹ phi y tế ra khỏi Nghị định số 96/2023/NĐ-CP - nghị định hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 là phù hợp. Tuy nhiên, điều này tạo “khoảng trống” pháp lý khi các cơ sở thẩm mỹ phi y tế không còn nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật y tế, dẫn đến việc quản lý điều kiện hoạt động, nhân sự, thiết bị và tiêu chuẩn an toàn của các cơ sở này bị “bỏ ngỏ”. Điều này có thể dẫn đến tình trạng một số cơ sở hoạt động tràn lan, gây rủi ro cho người tiêu dùng mà không có chế tài cụ thể để kiểm soát.

Điều 37 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP quy định rõ điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ thẩm mỹ không thuộc loại hình cơ sở y tế. Theo đó, các cơ sở này chỉ được thực hiện các dịch vụ như xăm, phun, thêu trên da không sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, nhân sự và quản lý. Cụ thể, về cơ sở vật chất, cơ sở phải có địa điểm cố định và bảo đảm điều kiện vệ sinh; về thiết bị, cần có đủ thiết bị, dụng cụ, vật tư phù hợp với phạm vi hoạt động và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; về nhân sự, người thực hiện dịch vụ phải có giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ đào tạo, dạy nghề hợp pháp do cơ sở có thẩm quyền cấp. Về quản lý, mặc dù không phải xin giấy phép hoạt động như các cơ sở y tế nhưng các cơ sở này vẫn phải gửi văn bản thông báo đủ điều kiện hoạt động đến Sở Y tế địa phương nơi đặt trụ sở ít nhất 10 ngày trước khi hoạt động, theo mẫu quy định. Điều 37 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP cũng quy định đối với các dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người như phẫu thuật thẩm mỹ, tiêm filler, botox, chiếu tia, đốt, hút mỡ,… hoặc kể cả xăm, phun, thêu có dùng thuốc gây tê dạng tiêm, chỉ được thực hiện tại các bệnh viện có chuyên khoa thẩm mỹ, phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ hoặc cơ sở khám, chữa bệnh được phê duyệt chuyên môn về thẩm mỹ.

Như vậy, việc hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế không được điều chỉnh bởi pháp luật về y tế cho thấy có sự thay đổi cơ bản về điều kiện kinh doanh. Theo đó, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế từ hoạt động kinh doanh có điều kiện trở thành kinh doanh thông thường và chỉ cần đáp ứng điều kiện về đăng ký kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định về bảo đảm chất lượng dịch vụ trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cũng hạn chế hơn so với bảo đảm chất lượng đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường. Do đó, việc “nới lỏng” quản lý hay nói cách khác là thiếu quy định cụ thể đối với nhóm cơ sở thẩm mỹ này có thể tạo ra nhiều rủi ro cho người tiêu dùng khi các dịch vụ mà cơ sở thẩm mỹ phi y tế cung ứng cũng cần phải bảo đảm chất lượng nhất định và do những người được đào tạo, có kỹ năng và kỹ thuật phù hợp thực hiện. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường thẩm mỹ tại Việt Nam được đánh giá có mức tăng trưởng nhanh và mạnh, với giá trị đạt 1,2 tỷ đô la Mỹ vào năm 2022 và dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 10% trong những năm tới[1]. Sự tăng trưởng này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng gia tăng đối với các dịch vụ làm đẹp, gồm tiêm chất làm đầy, nâng ngực và phẫu thuật thẩm mỹ[2]. Tuy nhiên, theo thống kê, mỗi năm Việt Nam ghi nhận từ 25.000 đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ[3]. Điều này cho thấy, chất lượng hoạt động của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là vấn đề đáng lo ngại, do đó, cần được quản lý chặt chẽ, không thể “nới lỏng” như hiện nay.

Việc thiếu quy định về điều kiện, phạm vi hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế dẫn đến khó khăn trong quản lý chất lượng của các cơ sở này. Với sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội như: Facebook, Instagram, TikTok, nhiều cơ sở thẩm mỹ quảng cáo dịch vụ một cách dễ dàng và không chịu sự kiểm soát chặt chẽ[4]. Các quảng cáo này thường thiếu minh bạch, đưa ra những cam kết không có cơ sở hoặc thậm chí vi phạm các quy định về an toàn y tế và thẩm mỹ. Do đó, rất khó để cơ quan chức năng có thể kiểm soát và xử lý kịp thời những quảng cáo sai lệch, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc kiểm soát hoạt động đào tạo nghề thẩm mỹ cũng đang gặp phải những khó khăn nhất định. Mặc dù, nhiều cơ sở đào tạo thẩm mỹ được cấp phép hoạt động, nhưng còn tồn tại tình trạng các cơ sở đào tạo “chui”, không có giấy phép, đào tạo không đạt chuẩn[5]. Điều này dẫn đến những người hành nghề thẩm mỹ không được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức và kỹ năng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cũng như an toàn của người tiêu dùng.

Ngoài ra, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế còn có những sai phạm khi thực hiện các dịch vụ không thuộc phạm vi hoạt động của mình. Có những cơ sở thẩm mỹ phi y tế thậm chí còn sử dụng các dụng cụ, trang thiết bị y tế sử dụng trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh[6]. Những dịch vụ “chui” có thể làm cho người tiêu dùng gặp phải những biến chứng phức tạp, không chỉ về thể chất mà còn về tinh thần[7]. Nghiên cứu cho thấy, kiến thức, thực hành chuyên môn, bằng cấp, trình độ của nhân viên tại các cơ sở thẩm mỹ còn thấp[8]. Kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn của các nhân viên cơ sở thẩm mỹ tư nhân còn khá thấp, thậm chí, có đến 42,5% nhân viên chỉ đạt kiến thức trung bình và kém về kiểm soát nhiễm khuẩn[9]. Do đó, nếu các nhân viên không được đào tạo để có được những kiến thức cơ bản và mức độ tay nghề nhất định thì rủi ro gây ra cho người tiêu dùng là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, nhiều cơ sở thẩm mỹ phi y tế cung cấp dịch vụ không thuộc phạm vi hoạt động, “lấn sân” sang phạm vi hành nghề của cơ sở thẩm mỹ y tế, trong khi không bảo đảm điều kiện hoạt động là vi phạm rất nghiêm trọng. Từ đó, có thể gây ra những tai biến thẩm mỹ không thể kiểm soát, thậm chí không thể được xử lý kịp thời do thiếu trang thiết bị cũng như nguồn nhân lực phù hợp, trong khi nhu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng ngày càng tăng, đặc biệt, tại các thành phố lớn như thành phố Hà Nội[10], Thành phố Hồ Chí Minh[11]. Như vậy, có thể thấy, người tiêu dùng đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro khi sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ tại các cơ sở thẩm mỹ phi y tế.

Do đó, để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng dịch vụ trong ngành thẩm mỹ, quy định về điều kiện hoạt động đối với các cơ sở thẩm mỹ phi y tế đóng vai trò quan trọng, đồng thời, các quy định pháp luật cần phải được thực thi nghiêm ngặt hơn từ quy trình cấp phép đến công tác giám sát sau cấp phép.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ sở thẩm mỹ phi y tế nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Một là, cần quy định cụ thể hơn về hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Vì hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế có liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc và tác động đến sức khỏe, ngoại hình con người, nên việc xây dựng khung pháp lý cụ thể, rõ ràng là rất cần thiết. Trong đó, Bộ Y tế là cơ quan quản lý cần ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về hoạt động của các cơ sở này nhằm bảo đảm tính thống nhất và nhất quán trong quản lý. Một trong những nội dung trọng tâm cần được làm rõ là khái niệm về “cơ sở thẩm mỹ phi y tế”. Hiện, chưa có định nghĩa chính thức, cách xác định thực tế và khả thi nhất là sử dụng phương pháp loại trừ. Theo đó, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế là những cơ sở không thực hiện các dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 12 Điều 40 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP, tức là “cơ sở thẩm mỹ không can thiệp xâm lấn vào cơ thể người, không sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm và không thuộc loại hình cần có giấy phép hoạt động y tế”. Tuy nhiên, chỉ xác định loại hình là chưa đủ. Để bảo đảm quản lý hiệu quả, cần quy định cụ thể danh mục các dịch vụ thẩm mỹ phi y tế được phép cung cấp. Trên cơ sở đó, cần thiết lập các điều kiện tương ứng về cơ sở 12. “Thẩm mỹ “chui” và những mối họa”, tlđd. Dân chủ và Pháp luật vật chất, tiêu chuẩn thiết bị, cũng như yêu cầu tối thiểu về trình độ, chứng chỉ đào tạo nghề của người thực hiện. Điều quan trọng là cần phân loại dịch vụ rõ ràng để áp dụng điều kiện phù hợp, tránh việc đặt ra yêu cầu quá cao cho những dịch vụ đơn giản, buông lỏng quản lý những dịch vụ có tính rủi ro. Chỉ khi có quy định rõ ràng, phù hợp với thực tiễn, việc quản lý mới thực sự hiệu quả, đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.

Hai là, cần quy định rõ tên gọi của cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn của người tiêu dùng hiện nay là do tên gọi của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế chưa được quy định và quản lý chặt chẽ. Các tên gọi phổ biến như “thẩm mỹ viện”, “viện thẩm mỹ” hay “trung tâm thẩm mỹ” làm cho khách hàng lầm tưởng đây là những cơ sở y tế có chuyên môn sâu, được phép thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật thẩm mỹ hoặc can thiệp chuyên môn vào cơ thể người[12]. Thực tế, nhiều cơ sở trong số đó không có giấy phép hành nghề y tế, thậm chí không có đội ngũ nhân sự đủ chuyên môn, dẫn đến việc người tiêu dùng đặt niềm tin sai chỗ, gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe. Không chỉ vậy, cách đặt tên như trên làm cho nhiều người hiểu nhầm các cơ sở này có chức năng đào tạo nghề thẩm mỹ, tạo điều kiện cho các khóa học “chui”, thiếu kiểm soát, phát triển tràn lan[1]3. Chính vì vậy, để bảo đảm tính minh bạch và giúp người tiêu dùng dễ phân biệt, cần phải có quy định cụ thể và thống nhất về cách đặt tên cho các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Các tên gọi có yếu tố “viện”, “trung tâm” hay từ ngữ dễ gây hiểu nhầm về chức năng chuyên môn hoặc giáo dục, đào tạo cần bị hạn chế sử dụng nếu cơ sở đó không được cấp phép tương ứng. Đây không chỉ là biện pháp quản lý hành chính mà còn là cách để bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của người tiêu dùng trong bối cảnh thị trường thẩm mỹ đang phát triển nhanh chóng và phức tạp như hiện nay.

Ba là, cần phải quy định về việc lập hợp đồng bằng văn bản đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm mỹ có khả năng gây biến chứng cho người tiêu dùng. Trên thực tế, không ít trường hợp người sử dụng dịch vụ gặp phải hậu quả nghiêm trọng như dị ứng, nhiễm trùng, hoại tử… nhưng khó có căn cứ pháp lý để yêu cầu cơ sở thẩm mỹ chịu trách nhiệm, vì toàn bộ thỏa thuận trước đó chỉ được thực hiện bằng lời nói. Không có văn bản ghi nhận rõ ràng, cơ sở thẩm mỹ dễ dàng chối bỏ trách nhiệm, trong khi thiệt hại thực tế do khách hàng gánh chịu. Chính vì vậy, văn bản hợp đồng không chỉ là hình thức pháp lý cần thiết mà còn là công cụ để minh bạch hóa thông tin, giúp người tiêu dùng hiểu rõ dịch vụ mình sử dụng, gồm quy trình thực hiện, rủi ro có thể xảy ra, nghĩa vụ của người thực hiện, cũng như chính sách xử lý khi xảy ra sự cố. Đối với những dịch vụ có rủi ro cao, việc ký hợp đồng bằng văn bản lại càng mang tính cấp thiết. Đồng thời, có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế đăng ký hợp đồng theo mẫu đối với một số loại dịch vụ thẩm mỹ nhất định, không chỉ giúp phòng ngừa rủi ro và tranh chấp pháp lý, mà còn góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch của thị trường thẩm mỹ phi y tế hiện nay.

Bốn là, các cơ sở thẩm mỹ cần tuân thủ quy định về quảng cáo, cung cấp thông tin minh bạch và chính xác, không phóng đại hoặc gây hiểu lầm về hiệu quả của dịch vụ. Thông tin về dịch vụ phải đầy đủ, gồm lợi ích và các rủi ro tiềm ẩn, để người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định sáng suốt. Đồng thời, quảng cáo trên mạng xã hội cần được giám sát chặt chẽ để tránh tình trạng đưa thông tin sai lệch hoặc thiếu chính xác. Bên cạnh đó, cơ sở thẩm mỹ cần phải cung cấp thông tin rõ ràng về đội ngũ nhân viên, gồm trình độ chuyên môn và chứng chỉ hành nghề hợp pháp để khách hàng yên tâm hơn khi sử dụng dịch vụ. Để các hoạt động quảng cáo trên được thực hiện đúng quy định, việc quản lý của các cơ quan nhà nước là đặc biệt quan trọng. Việc theo dõi, kiểm tra và phát hiện các vi phạm cần được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả để phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ rủi ro từ các cơ sở thẩm mỹ chưa đủ điều kiện cấp phép.

Kết luận

Thẩm mỹ là nhu cầu chính đáng và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, quy định pháp luật về hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ, đặc biệt là cơ sở thẩm mỹ phi y tế, còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ, đầy đủ để theo kịp thực tế. Điều này tiềm ẩn không ít rủi ro cho người tiêu dùng, từ chất lượng dịch vụ, đến an toàn sức khỏe. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là Bộ Y tế cần ban hành các quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp hơn nhằm quản lý hiệu quả hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế, qua đó, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng trong lĩnh vực này./.

TS. Nguyễn Trường Ngọc

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

ThS. Phan Thị Hương Giang

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, https://caodangyduocvietnam.com/xu-huong-va-tiem-nang-cua-nganh-tham-my-trong-nam-2025/, truy cập ngày 15/6/2025.

[2]. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, tlđd.

[3]. Hoàng Lê, “Mỗi năm, Việt Nam xảy ra đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ”, https://dantri.com.vn/ suc-khoe/moi-nam-viet-nam-xay-ra-35000-ca-bien-chung-tham-my-20220526123426025.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[4]. Đinh Hằng, “TP. Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong quản lý các cơ sở thẩm mỹ”, https://www.vietnamplus.vn/tp-ho-chi-minh-gap-nhieu-kho-khan-trong-quan-ly-cac-co-so-tham-my-post971993.vnp, truy cập ngày 15/6/2025.

[5]. Thu Hiến, “Phát hiện cơ sở thẩm mỹ ‘chui’ đang đào tạo trái phép”, https://tuoitre.vn/phat-hien-co-so-tham-my-chui-dang-dao-tao-trai-phep-20240304135122128.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[6]. Thu Hiến, tlđd.

[7]. “Thẩm mỹ ‘chui’ và những mối họa”, https://cand.com.vn/Ban-doc-cand/tham-my-chui-va nhung-moi-hoa-i724226/, truy cập ngày 15/6/2025.

[8]. Nhơn Nguyễn Ngọc và Đà Phạm Xuân, “Thực trạng hoạt động của các cơ sở spa thẩm mỹ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/892, truy cập ngày 15/6/2025.

[9]. Ngọc Cao Xuân, “Kiến thức và nhu cầu đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên y tế tại một số cơ sở thẩm mỹ tư nhân tại Hà Nội”, (Thesis, TLU, 2020), http://thuvienso.thanglong.edu. vn//handle/TLU/2760, truy cập ngày 15/6/2025.

[10]. Mai Anh, “Liên tiếp các vụ tai biến tại các cơ sở thẩm mỹ: Vì đâu nên nỗi?”, https://suckhoedoisong.vn/ lien-tiep-cac-vu-tai-bien-tai-cac-co-so-tham-my-vi-dau-nen-noi-169167414.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[11]. Thanh Tuyền, Lê Thoa & Bảo Phương, “Thành phố Hồ Chí Minh: Hơn 85% cơ sở thẩm mỹ không cần qua thẩm định, cấp phép”, https://plo.vn/tphcm-hon-85-co-so-tham-my-khong-can-qua-tham-dinh-cap-phep-post741805.html, truy cập ngày 15/6/2025.

[12]. “Thẩm mỹ “chui” và những mối họa”, tlđd.

[13]. Thu Hiến, tlđd.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, https:// caodangyduocvietnam.com/xu-huong-va-tiem nang-cua-nganh-tham-my-trong-nam-2025/, truy cập ngày 15/6/2025.

2. Hoàng Lê, “Mỗi năm, Việt Nam xảy ra đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ”, https://dantri.com. vn/suc-khoe/moi-nam-viet-nam-xay-ra-35000 ca-bien-chung-tham-my-20220526123426025. htm, truy cập ngày 15/6/2025.

3. Đinh Hằng, “TP. Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong quản lý các cơ sở thẩm mỹ”, https://www.vietnamplus.vn/tp-ho-chi-minh-gap-nhieu-kho-khan-trong-quan-ly-cac-co-so-tham-my-post971993. vnp, truy cập ngày 15/6/2025.

4. Thu Hiến, “Phát hiện cơ sở thẩm mỹ ‘chui’ đang đào tạo trái phép”, https://tuoitre. vn/phat-hien-co-so-tham-my-chui-dang dao-tao-trai-phep-20240304135122128. htm, truy cập ngày 15/6/2025.

5. “Thẩm mỹ ‘chui’ và những mối họa”, https://cand.com.vn/Ban-doc-cand/tham my-chui-va-nhung-moi-hoa-i724226/, truy cập ngày 10/6/2025.

6. Nhơn Nguyễn Ngọc & Đà Phạm Xuân, “Thực trạng hoạt động của các cơ sở spa thẩm mỹ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, https://tapchiyhcd.vn/ index.php/yhcd/article/view/892, truy cập ngày 15/6/2025.

7. Ngọc Cao Xuân, “Kiến thức và nhu cầu đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên y tế tại một số cơ sở thẩm mỹ tư nhân tại Hà nội”, (Thesis, TLU, 2020), http://thuvienso. thanglong.edu.vn//handle/TLU/2760,truy cập ngày 15/6/2025.

8. Thanh Tuyền, Lê Thoa & Bảo Phương, “TP.HCM: Hơn 85% cơ sở thẩm mỹ không cần qua thẩm định, cấp phép”, https:// plo.vn/tphcm-hon-85-co-so-tham my-khong-can-qua-tham-dinh-cap phep-post741805.html, truy cập ngày 15/6/2025.

9. Mai Anh, “Liên tiếp các vụ tai biến tại các cơ sở thẩm mỹ: Vì đâu nên nỗi?”, https://suckhoedoisong.vn/lien-tiep-cac vu-tai-bien-tai-cac-co-so-tham-my-vi dau-nen-noi-169167414.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (433) - tháng 7/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước ban hành các chế tài ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi lái xe, làm nhu cầu sử dụng dịch vụ lái xe hộ tăng mạnh. Tuy nhiên, loại hình này chưa được pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến khoảng trống về xác định quan hệ hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế chịu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý của hợp đồng lái xe hộ, đánh giá thực trạng điều chỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện để vừa bảo đảm an toàn pháp lý, vừa phù hợp định hướng phát triển kinh tế số.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.
Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ, hồ sơ sức khỏe điện tử không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đặt ra thách thức lớn về bảo mật dữ liệu cá nhân. Mặc dù, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những tiến bộ quan trọng, đặc biệt với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành của Bộ Y tế, song còn tồn tại những hạn chế về chuẩn mực kỹ thuật, quyền tiếp cận dữ liệu, nghĩa vụ bảo mật của nhân viên y tế và chế tài xử lý. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử ở Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và đặt trong tổng thể chính sách chuyển đổi số y tế. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi theo hướng đồng bộ, hiện đại và nhân văn, nhằm bảo đảm quyền riêng tư, tăng cường niềm tin xã hội và xây dựng hệ sinh thái y tế số an toàn, bền vững.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật - Cơ hội, thách thức và một số giải pháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ hội và thách thức đặt ra cho hoạt động đào tạo luật trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang phát triển nhanh và tác động mạnh mẽ đến giáo dục pháp luật. Từ việc nhận diện các yêu cầu đổi mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu đánh giá tiềm năng ứng dụng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật; đồng thời, chỉ ra những rủi ro liên quan như gian lận học thuật, sai lệch thông tin, định kiến thuật toán và các vấn đề đạo đức, pháp lý. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện khi tích hợp trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo luật tại Việt Nam.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp quyết liệt về phòng, chống hàng giả, tuy nhiên, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và hình thức. Bài viết nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng vi phạm hàng giả và những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống hàng giả tại Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự cần thiết phải thu hút và trọng dụng chuyên gia, trí thức, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài, nhằm tạo đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện cho thấy chính sách thu hút chuyên gia pháp luật ở nước ngoài của Việt Nam chưa hiệu quả, chưa khai thác được tiềm năng khoa học, trí thức của kiều bào. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá, gồm hoàn thiện cơ chế pháp lý, thiết lập tiêu chí, tiêu chuẩn lựa chọn, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút và phát huy tối đa vai trò của lực lượng này phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.
Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật là yêu cầu quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt biệt quan tâm. Ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hiện, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng. Bài viết nghiên cứu một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.

Theo dõi chúng tôi trên: