Chủ nhật 24/05/2026 23:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về cơ sở thẩm mỹ phi y tế để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện và phạm vi hoạt động của cơ sở dịch vụ thẩm mỹ; nhận diện một số hạn chế, bất cập từ quy định pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng; từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi họ sử dụng dịch vụ được cung cấp bởi các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ.

Abstract: The article studies and analyzes current regulations on the conditions and scope of operation of cosmetic service establishments; identifies some limitations and shortcomings from legal regulations as well as practical application; thereby, it proposes some solutions to improve legal regulations on the management of cosmetic service establishments, contributing to protect the rights of consumers when they use services provided by cosmetic service establishments.

Đặt vấn đề

Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là nơi cung cấp các dịch vụ làm đẹp, chăm sóc sắc đẹp cho con người. Do nhu cầu của các đối tượng khách hàng nên phạm vi hoạt động của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ ngày càng được mở rộng, từ dịch vụ đơn giản đến các kỹ thuật chuyên sâu cần có sự can thiệp của các dụng cụ y tế. Chính vì sự phát triển đa dạng này mà không ít người nhầm lẫn giữa cơ sở thẩm mỹ thông thường (hay còn gọi là cơ sở thẩm mỹ phi y tế) và cơ sở thẩm mỹ y tế, đặc biệt, khi các dịch vụ thẩm mỹ có sự can thiệp vào cơ thể người.

Tuy nhiên, việc xác định cơ sở thẩm mỹ có hợp pháp hay không, có đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật quy định, cũng như xác định trách nhiệm của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ khi phát sinh rủi ro… chưa được người tiêu dùng nhận diện rõ, đặc biệt là các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ tại các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là thực sự cần thiết.

1. Quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế

Khoản 12 Điều 40 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30/12/2023 của Chính phủ hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Nghị định số 96/2023/NĐ-CP) quy định, nếu cơ sở cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người như phẫu thuật, thủ thuật, các can thiệp có tiêm, chích, bơm, chiếu tia, sóng, đốt hoặc các can thiệp xâm lấn khác thì phải được thành lập theo một trong các hình thức tổ chức là bệnh viện, phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa. Đây là những mô hình được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực y tế, có đội ngũ bác sĩ được đào tạo chuyên môn và trang thiết bị bảo đảm an toàn. Quy định này phần nào giúp phân định ranh giới giữa các cơ sở thẩm mỹ được coi là cơ sở y tế với các cơ sở thẩm mỹ thông thường. Điều này cho thấy, chỉ cần có yếu tố xâm lấn và sử dụng thuốc thì dịch vụ đó đã vượt qua phạm vi của hoạt động thẩm mỹ thông thường.

Vì vậy, người tiêu dùng cần đặc biệt thận trọng trước khi lựa chọn bất kỳ dịch vụ thẩm mỹ nào, cần tìm hiểu rõ về tính pháp lý của cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và điều kiện hành nghề của người thực hiện dịch vụ thẩm mỹ y tế. Việc bỏ qua những yếu tố này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, từ biến chứng thẩm mỹ đến các tranh chấp pháp lý không mong muốn. Nếu có yếu tố can thiệp y học, sử dụng thuốc, thiết bị hoặc kỹ thuật xâm lấn, thì cơ sở đó nhất định phải được thành lập, tổ chức và vận hành với hình thức cơ sở y tế hợp pháp theo quy định của pháp luật. Hiểu rõ điều này sẽ giúp người tiêu dùng chủ động hơn trong việc bảo vệ bản thân, đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng và an toàn trong lĩnh vực thẩm mỹ hiện nay.

Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định về các cơ sở thẩm mỹ được xem là cơ sở y tế. Tuy nhiên, đối với các cơ sở thẩm mỹ phi y tế như các spa, cơ sở làm đẹp đơn thuần thì chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh.

Trước đây, Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Nghị định số 109/2016/NĐ-CP), có sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại hình cơ sở thẩm mỹ là: cơ sở dịch vụ thẩm mỹ phi y tế và cơ sở thẩm mỹ có yếu tố can thiệp y học, giúp công tác quản lý minh bạch và dễ dàng hơn.

Xét về khía cạnh pháp luật, việc đưa quy định về cơ sở thẩm mỹ phi y tế vào cùng nghị định hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh (như quy định tại Nghị định số 109/2016/NĐ-CP) là chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, những cơ sở không thực hiện khám, chữa bệnh thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Vì vậy, việc bỏ quy định về các cơ sở thẩm mỹ phi y tế ra khỏi Nghị định số 96/2023/NĐ-CP - nghị định hướng dẫn Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 là phù hợp. Tuy nhiên, điều này tạo “khoảng trống” pháp lý khi các cơ sở thẩm mỹ phi y tế không còn nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật y tế, dẫn đến việc quản lý điều kiện hoạt động, nhân sự, thiết bị và tiêu chuẩn an toàn của các cơ sở này bị “bỏ ngỏ”. Điều này có thể dẫn đến tình trạng một số cơ sở hoạt động tràn lan, gây rủi ro cho người tiêu dùng mà không có chế tài cụ thể để kiểm soát.

Điều 37 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP quy định rõ điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ thẩm mỹ không thuộc loại hình cơ sở y tế. Theo đó, các cơ sở này chỉ được thực hiện các dịch vụ như xăm, phun, thêu trên da không sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, nhân sự và quản lý. Cụ thể, về cơ sở vật chất, cơ sở phải có địa điểm cố định và bảo đảm điều kiện vệ sinh; về thiết bị, cần có đủ thiết bị, dụng cụ, vật tư phù hợp với phạm vi hoạt động và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; về nhân sự, người thực hiện dịch vụ phải có giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ đào tạo, dạy nghề hợp pháp do cơ sở có thẩm quyền cấp. Về quản lý, mặc dù không phải xin giấy phép hoạt động như các cơ sở y tế nhưng các cơ sở này vẫn phải gửi văn bản thông báo đủ điều kiện hoạt động đến Sở Y tế địa phương nơi đặt trụ sở ít nhất 10 ngày trước khi hoạt động, theo mẫu quy định. Điều 37 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP cũng quy định đối với các dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người như phẫu thuật thẩm mỹ, tiêm filler, botox, chiếu tia, đốt, hút mỡ,… hoặc kể cả xăm, phun, thêu có dùng thuốc gây tê dạng tiêm, chỉ được thực hiện tại các bệnh viện có chuyên khoa thẩm mỹ, phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ hoặc cơ sở khám, chữa bệnh được phê duyệt chuyên môn về thẩm mỹ.

Như vậy, việc hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế không được điều chỉnh bởi pháp luật về y tế cho thấy có sự thay đổi cơ bản về điều kiện kinh doanh. Theo đó, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế từ hoạt động kinh doanh có điều kiện trở thành kinh doanh thông thường và chỉ cần đáp ứng điều kiện về đăng ký kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định về bảo đảm chất lượng dịch vụ trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cũng hạn chế hơn so với bảo đảm chất lượng đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường. Do đó, việc “nới lỏng” quản lý hay nói cách khác là thiếu quy định cụ thể đối với nhóm cơ sở thẩm mỹ này có thể tạo ra nhiều rủi ro cho người tiêu dùng khi các dịch vụ mà cơ sở thẩm mỹ phi y tế cung ứng cũng cần phải bảo đảm chất lượng nhất định và do những người được đào tạo, có kỹ năng và kỹ thuật phù hợp thực hiện. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường thẩm mỹ tại Việt Nam được đánh giá có mức tăng trưởng nhanh và mạnh, với giá trị đạt 1,2 tỷ đô la Mỹ vào năm 2022 và dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 10% trong những năm tới[1]. Sự tăng trưởng này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng gia tăng đối với các dịch vụ làm đẹp, gồm tiêm chất làm đầy, nâng ngực và phẫu thuật thẩm mỹ[2]. Tuy nhiên, theo thống kê, mỗi năm Việt Nam ghi nhận từ 25.000 đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ[3]. Điều này cho thấy, chất lượng hoạt động của các cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là vấn đề đáng lo ngại, do đó, cần được quản lý chặt chẽ, không thể “nới lỏng” như hiện nay.

Việc thiếu quy định về điều kiện, phạm vi hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế dẫn đến khó khăn trong quản lý chất lượng của các cơ sở này. Với sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội như: Facebook, Instagram, TikTok, nhiều cơ sở thẩm mỹ quảng cáo dịch vụ một cách dễ dàng và không chịu sự kiểm soát chặt chẽ[4]. Các quảng cáo này thường thiếu minh bạch, đưa ra những cam kết không có cơ sở hoặc thậm chí vi phạm các quy định về an toàn y tế và thẩm mỹ. Do đó, rất khó để cơ quan chức năng có thể kiểm soát và xử lý kịp thời những quảng cáo sai lệch, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc kiểm soát hoạt động đào tạo nghề thẩm mỹ cũng đang gặp phải những khó khăn nhất định. Mặc dù, nhiều cơ sở đào tạo thẩm mỹ được cấp phép hoạt động, nhưng còn tồn tại tình trạng các cơ sở đào tạo “chui”, không có giấy phép, đào tạo không đạt chuẩn[5]. Điều này dẫn đến những người hành nghề thẩm mỹ không được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức và kỹ năng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cũng như an toàn của người tiêu dùng.

Ngoài ra, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế còn có những sai phạm khi thực hiện các dịch vụ không thuộc phạm vi hoạt động của mình. Có những cơ sở thẩm mỹ phi y tế thậm chí còn sử dụng các dụng cụ, trang thiết bị y tế sử dụng trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh[6]. Những dịch vụ “chui” có thể làm cho người tiêu dùng gặp phải những biến chứng phức tạp, không chỉ về thể chất mà còn về tinh thần[7]. Nghiên cứu cho thấy, kiến thức, thực hành chuyên môn, bằng cấp, trình độ của nhân viên tại các cơ sở thẩm mỹ còn thấp[8]. Kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn của các nhân viên cơ sở thẩm mỹ tư nhân còn khá thấp, thậm chí, có đến 42,5% nhân viên chỉ đạt kiến thức trung bình và kém về kiểm soát nhiễm khuẩn[9]. Do đó, nếu các nhân viên không được đào tạo để có được những kiến thức cơ bản và mức độ tay nghề nhất định thì rủi ro gây ra cho người tiêu dùng là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, nhiều cơ sở thẩm mỹ phi y tế cung cấp dịch vụ không thuộc phạm vi hoạt động, “lấn sân” sang phạm vi hành nghề của cơ sở thẩm mỹ y tế, trong khi không bảo đảm điều kiện hoạt động là vi phạm rất nghiêm trọng. Từ đó, có thể gây ra những tai biến thẩm mỹ không thể kiểm soát, thậm chí không thể được xử lý kịp thời do thiếu trang thiết bị cũng như nguồn nhân lực phù hợp, trong khi nhu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng ngày càng tăng, đặc biệt, tại các thành phố lớn như thành phố Hà Nội[10], Thành phố Hồ Chí Minh[11]. Như vậy, có thể thấy, người tiêu dùng đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro khi sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ tại các cơ sở thẩm mỹ phi y tế.

Do đó, để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng dịch vụ trong ngành thẩm mỹ, quy định về điều kiện hoạt động đối với các cơ sở thẩm mỹ phi y tế đóng vai trò quan trọng, đồng thời, các quy định pháp luật cần phải được thực thi nghiêm ngặt hơn từ quy trình cấp phép đến công tác giám sát sau cấp phép.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ sở thẩm mỹ phi y tế nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Một là, cần quy định cụ thể hơn về hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Vì hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế có liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc và tác động đến sức khỏe, ngoại hình con người, nên việc xây dựng khung pháp lý cụ thể, rõ ràng là rất cần thiết. Trong đó, Bộ Y tế là cơ quan quản lý cần ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về hoạt động của các cơ sở này nhằm bảo đảm tính thống nhất và nhất quán trong quản lý. Một trong những nội dung trọng tâm cần được làm rõ là khái niệm về “cơ sở thẩm mỹ phi y tế”. Hiện, chưa có định nghĩa chính thức, cách xác định thực tế và khả thi nhất là sử dụng phương pháp loại trừ. Theo đó, các cơ sở thẩm mỹ phi y tế là những cơ sở không thực hiện các dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 12 Điều 40 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP, tức là “cơ sở thẩm mỹ không can thiệp xâm lấn vào cơ thể người, không sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm và không thuộc loại hình cần có giấy phép hoạt động y tế”. Tuy nhiên, chỉ xác định loại hình là chưa đủ. Để bảo đảm quản lý hiệu quả, cần quy định cụ thể danh mục các dịch vụ thẩm mỹ phi y tế được phép cung cấp. Trên cơ sở đó, cần thiết lập các điều kiện tương ứng về cơ sở 12. “Thẩm mỹ “chui” và những mối họa”, tlđd. Dân chủ và Pháp luật vật chất, tiêu chuẩn thiết bị, cũng như yêu cầu tối thiểu về trình độ, chứng chỉ đào tạo nghề của người thực hiện. Điều quan trọng là cần phân loại dịch vụ rõ ràng để áp dụng điều kiện phù hợp, tránh việc đặt ra yêu cầu quá cao cho những dịch vụ đơn giản, buông lỏng quản lý những dịch vụ có tính rủi ro. Chỉ khi có quy định rõ ràng, phù hợp với thực tiễn, việc quản lý mới thực sự hiệu quả, đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.

Hai là, cần quy định rõ tên gọi của cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn của người tiêu dùng hiện nay là do tên gọi của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế chưa được quy định và quản lý chặt chẽ. Các tên gọi phổ biến như “thẩm mỹ viện”, “viện thẩm mỹ” hay “trung tâm thẩm mỹ” làm cho khách hàng lầm tưởng đây là những cơ sở y tế có chuyên môn sâu, được phép thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật thẩm mỹ hoặc can thiệp chuyên môn vào cơ thể người[12]. Thực tế, nhiều cơ sở trong số đó không có giấy phép hành nghề y tế, thậm chí không có đội ngũ nhân sự đủ chuyên môn, dẫn đến việc người tiêu dùng đặt niềm tin sai chỗ, gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe. Không chỉ vậy, cách đặt tên như trên làm cho nhiều người hiểu nhầm các cơ sở này có chức năng đào tạo nghề thẩm mỹ, tạo điều kiện cho các khóa học “chui”, thiếu kiểm soát, phát triển tràn lan[1]3. Chính vì vậy, để bảo đảm tính minh bạch và giúp người tiêu dùng dễ phân biệt, cần phải có quy định cụ thể và thống nhất về cách đặt tên cho các cơ sở thẩm mỹ phi y tế. Các tên gọi có yếu tố “viện”, “trung tâm” hay từ ngữ dễ gây hiểu nhầm về chức năng chuyên môn hoặc giáo dục, đào tạo cần bị hạn chế sử dụng nếu cơ sở đó không được cấp phép tương ứng. Đây không chỉ là biện pháp quản lý hành chính mà còn là cách để bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của người tiêu dùng trong bối cảnh thị trường thẩm mỹ đang phát triển nhanh chóng và phức tạp như hiện nay.

Ba là, cần phải quy định về việc lập hợp đồng bằng văn bản đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm mỹ có khả năng gây biến chứng cho người tiêu dùng. Trên thực tế, không ít trường hợp người sử dụng dịch vụ gặp phải hậu quả nghiêm trọng như dị ứng, nhiễm trùng, hoại tử… nhưng khó có căn cứ pháp lý để yêu cầu cơ sở thẩm mỹ chịu trách nhiệm, vì toàn bộ thỏa thuận trước đó chỉ được thực hiện bằng lời nói. Không có văn bản ghi nhận rõ ràng, cơ sở thẩm mỹ dễ dàng chối bỏ trách nhiệm, trong khi thiệt hại thực tế do khách hàng gánh chịu. Chính vì vậy, văn bản hợp đồng không chỉ là hình thức pháp lý cần thiết mà còn là công cụ để minh bạch hóa thông tin, giúp người tiêu dùng hiểu rõ dịch vụ mình sử dụng, gồm quy trình thực hiện, rủi ro có thể xảy ra, nghĩa vụ của người thực hiện, cũng như chính sách xử lý khi xảy ra sự cố. Đối với những dịch vụ có rủi ro cao, việc ký hợp đồng bằng văn bản lại càng mang tính cấp thiết. Đồng thời, có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế đăng ký hợp đồng theo mẫu đối với một số loại dịch vụ thẩm mỹ nhất định, không chỉ giúp phòng ngừa rủi ro và tranh chấp pháp lý, mà còn góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch của thị trường thẩm mỹ phi y tế hiện nay.

Bốn là, các cơ sở thẩm mỹ cần tuân thủ quy định về quảng cáo, cung cấp thông tin minh bạch và chính xác, không phóng đại hoặc gây hiểu lầm về hiệu quả của dịch vụ. Thông tin về dịch vụ phải đầy đủ, gồm lợi ích và các rủi ro tiềm ẩn, để người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định sáng suốt. Đồng thời, quảng cáo trên mạng xã hội cần được giám sát chặt chẽ để tránh tình trạng đưa thông tin sai lệch hoặc thiếu chính xác. Bên cạnh đó, cơ sở thẩm mỹ cần phải cung cấp thông tin rõ ràng về đội ngũ nhân viên, gồm trình độ chuyên môn và chứng chỉ hành nghề hợp pháp để khách hàng yên tâm hơn khi sử dụng dịch vụ. Để các hoạt động quảng cáo trên được thực hiện đúng quy định, việc quản lý của các cơ quan nhà nước là đặc biệt quan trọng. Việc theo dõi, kiểm tra và phát hiện các vi phạm cần được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả để phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ rủi ro từ các cơ sở thẩm mỹ chưa đủ điều kiện cấp phép.

Kết luận

Thẩm mỹ là nhu cầu chính đáng và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, quy định pháp luật về hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ, đặc biệt là cơ sở thẩm mỹ phi y tế, còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ, đầy đủ để theo kịp thực tế. Điều này tiềm ẩn không ít rủi ro cho người tiêu dùng, từ chất lượng dịch vụ, đến an toàn sức khỏe. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là Bộ Y tế cần ban hành các quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp hơn nhằm quản lý hiệu quả hoạt động của các cơ sở thẩm mỹ phi y tế, qua đó, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng trong lĩnh vực này./.

TS. Nguyễn Trường Ngọc

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

ThS. Phan Thị Hương Giang

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, https://caodangyduocvietnam.com/xu-huong-va-tiem-nang-cua-nganh-tham-my-trong-nam-2025/, truy cập ngày 15/6/2025.

[2]. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, tlđd.

[3]. Hoàng Lê, “Mỗi năm, Việt Nam xảy ra đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ”, https://dantri.com.vn/ suc-khoe/moi-nam-viet-nam-xay-ra-35000-ca-bien-chung-tham-my-20220526123426025.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[4]. Đinh Hằng, “TP. Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong quản lý các cơ sở thẩm mỹ”, https://www.vietnamplus.vn/tp-ho-chi-minh-gap-nhieu-kho-khan-trong-quan-ly-cac-co-so-tham-my-post971993.vnp, truy cập ngày 15/6/2025.

[5]. Thu Hiến, “Phát hiện cơ sở thẩm mỹ ‘chui’ đang đào tạo trái phép”, https://tuoitre.vn/phat-hien-co-so-tham-my-chui-dang-dao-tao-trai-phep-20240304135122128.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[6]. Thu Hiến, tlđd.

[7]. “Thẩm mỹ ‘chui’ và những mối họa”, https://cand.com.vn/Ban-doc-cand/tham-my-chui-va nhung-moi-hoa-i724226/, truy cập ngày 15/6/2025.

[8]. Nhơn Nguyễn Ngọc và Đà Phạm Xuân, “Thực trạng hoạt động của các cơ sở spa thẩm mỹ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/892, truy cập ngày 15/6/2025.

[9]. Ngọc Cao Xuân, “Kiến thức và nhu cầu đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên y tế tại một số cơ sở thẩm mỹ tư nhân tại Hà Nội”, (Thesis, TLU, 2020), http://thuvienso.thanglong.edu. vn//handle/TLU/2760, truy cập ngày 15/6/2025.

[10]. Mai Anh, “Liên tiếp các vụ tai biến tại các cơ sở thẩm mỹ: Vì đâu nên nỗi?”, https://suckhoedoisong.vn/ lien-tiep-cac-vu-tai-bien-tai-cac-co-so-tham-my-vi-dau-nen-noi-169167414.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

[11]. Thanh Tuyền, Lê Thoa & Bảo Phương, “Thành phố Hồ Chí Minh: Hơn 85% cơ sở thẩm mỹ không cần qua thẩm định, cấp phép”, https://plo.vn/tphcm-hon-85-co-so-tham-my-khong-can-qua-tham-dinh-cap-phep-post741805.html, truy cập ngày 15/6/2025.

[12]. “Thẩm mỹ “chui” và những mối họa”, tlđd.

[13]. Thu Hiến, tlđd.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Xu hướng và tiềm năng của ngành thẩm mỹ trong năm 2025”, https:// caodangyduocvietnam.com/xu-huong-va-tiem nang-cua-nganh-tham-my-trong-nam-2025/, truy cập ngày 15/6/2025.

2. Hoàng Lê, “Mỗi năm, Việt Nam xảy ra đến 35.000 ca biến chứng thẩm mỹ”, https://dantri.com. vn/suc-khoe/moi-nam-viet-nam-xay-ra-35000 ca-bien-chung-tham-my-20220526123426025. htm, truy cập ngày 15/6/2025.

3. Đinh Hằng, “TP. Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong quản lý các cơ sở thẩm mỹ”, https://www.vietnamplus.vn/tp-ho-chi-minh-gap-nhieu-kho-khan-trong-quan-ly-cac-co-so-tham-my-post971993. vnp, truy cập ngày 15/6/2025.

4. Thu Hiến, “Phát hiện cơ sở thẩm mỹ ‘chui’ đang đào tạo trái phép”, https://tuoitre. vn/phat-hien-co-so-tham-my-chui-dang dao-tao-trai-phep-20240304135122128. htm, truy cập ngày 15/6/2025.

5. “Thẩm mỹ ‘chui’ và những mối họa”, https://cand.com.vn/Ban-doc-cand/tham my-chui-va-nhung-moi-hoa-i724226/, truy cập ngày 10/6/2025.

6. Nhơn Nguyễn Ngọc & Đà Phạm Xuân, “Thực trạng hoạt động của các cơ sở spa thẩm mỹ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, https://tapchiyhcd.vn/ index.php/yhcd/article/view/892, truy cập ngày 15/6/2025.

7. Ngọc Cao Xuân, “Kiến thức và nhu cầu đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên y tế tại một số cơ sở thẩm mỹ tư nhân tại Hà nội”, (Thesis, TLU, 2020), http://thuvienso. thanglong.edu.vn//handle/TLU/2760,truy cập ngày 15/6/2025.

8. Thanh Tuyền, Lê Thoa & Bảo Phương, “TP.HCM: Hơn 85% cơ sở thẩm mỹ không cần qua thẩm định, cấp phép”, https:// plo.vn/tphcm-hon-85-co-so-tham my-khong-can-qua-tham-dinh-cap phep-post741805.html, truy cập ngày 15/6/2025.

9. Mai Anh, “Liên tiếp các vụ tai biến tại các cơ sở thẩm mỹ: Vì đâu nên nỗi?”, https://suckhoedoisong.vn/lien-tiep-cac vu-tai-bien-tai-cac-co-so-tham-my-vi dau-nen-noi-169167414.htm, truy cập ngày 15/6/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (433) - tháng 7/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: