Thứ hai 27/07/2026 21:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hành chính - Thực trạng và kiến nghị

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 không đưa ra định nghĩa rõ ràng về Hội thẩm nhân dân. Do đó, khái niệm về Hội thẩm nhân dân vẫn được hiểu theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Theo đó, “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án”.

1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hành chính

1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 không đưa ra định nghĩa rõ ràng về Hội thẩm nhân dân. Do đó, khái niệm về Hội thẩm nhân dân vẫn được hiểu theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Theo đó, “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án”.

Từ quy định về Hội thẩm nhân dân trên có thể thấy, Hội thẩm nhân dân là chức danh chỉ những người cùng tham gia với Thẩm phán trong Hội đồng xét xử ở Toà án cấp sơ thẩm khi xét xử các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Nhưng khác với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những người dân bình thường đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo Điều 85 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, họ không phải là người được đào tạo về nghiệp vụ xét xử và không nhất thiết phải có trình độ cử nhân luật. Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.


1.2. Đặc điểm của Hội thẩm nhân dân

Dựa vào khái niệm đã nêu về Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng, có thể thể thấy, Hội thẩm nhân dân có những đặc điểm như sau: (i) Hội thẩm nhân dân là những người được bầu theo quy định của pháp luật; (ii) Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân; (iii) Hội thẩm nhân dân tham gia giải quyết vụ án hành chính với tư cách là thành viên của Hội đồng xét xử và chỉ tham gia ở cấp sơ thẩm; (iv) Khi tham gia xét xử, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

1.3. Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hành chính

- Chế định Hội thẩm nhân dân thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc” với biểu hiện cơ bản là sự thu hút đông đảo nhân dân lao động tham gia vào công việc của Nhà nước, thể hiện rõ nguyên tắc Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân của nước ta.

- Hội thẩm nhân dân có vai trò là cầu nối, là sợi dây để kéo gần khoảng cách giữa pháp luật và đời sống trong hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án khi xét xử.

- Vai trò của Hội thẩm nhân dân không chỉ dừng lại ở việc tham gia hoạt động xét xử của Tòa án mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử còn có vai trò phản biện mang tính chất đối trọng đối với các quyết định của Thẩm phán trong các vấn đề mâu thuẫn.

2. Thực trạng về Hội thẩm nhân dân

2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về Hội thẩm nhân dân

Thứ nhất, sự chênh lệch về trình độ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân.

Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định rõ về tiêu chuẩn cần có để trở thành Thẩm phán. Cụ thể, Thẩm phán phải có trình độ từ cử nhân luật trở lên, được đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật... Không những vậy, tại Điều 68 Luật này còn quy định thêm về các ngạch Thẩm phán và điều kiện để được nâng ngạch. Những quy định này cho thấy, pháp luật đã có sự quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, trình độ của Thẩm phán. Trong khi đó, đối với Hội thẩm nhân dân, chỉ cần thỏa mãn các tiêu chuẩn quy định tại Điều 85 của Luật là có thể được bầu làm Hội thẩm nhân dân. Có thể thấy, các tiêu chuẩn này hoàn toàn mang tính định lượng, không rõ ràng và không cụ thể nên rất dễ bị áp dụng một cách tùy nghi.

Từ sự khác biệt về tiêu chuẩn kiến thức pháp luật kể trên có thể thấy, sẽ có sự chênh lệch về trình độ kiến thức pháp luật giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Trong khi Thẩm phán luôn được bảo đảm về nghiệp vụ xét xử, trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn được quy định tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, quan trọng nhất là phải “có trình độ cử nhân luật trở lên” thì tiêu chuẩn về “có kiến thức pháp luật” dành cho Hội thẩm nhân dân lại không có quy định hoặc văn bản hướng dẫn cụ thể. Từ đó đặt ra câu hỏi về khả năng cập nhật kiến thức pháp luật, hiểu biết xã hội của Hội thẩm nhân dân ở từng địa phương, từng khu vực.

Sự chênh lệch lớn về kiến thức pháp luật giữa Hội thẩm và Thẩm phán dẫn đến tính độc lập của Hội thẩm nhân dân khi đưa ra phán quyết về vụ án hành chính bị ảnh hưởng nhiều. Tiêu chuẩn “có kiến thức pháp luật” đã được đặt ra từ Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2011) tức đã trải qua 18 năm. Suốt gần hai thập kỷ qua, nước ta không những ngày càng nâng cao trình độ dân trí, mức độ hiểu biết pháp luật đối với toàn thể nhân dân mà còn cải thiện và phát triển các vấn đề về tư pháp, lập pháp hướng đến Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa.

Thứ hai, Hội thẩm nhân dân có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án chưa hợp lý.

Tại Điều 149 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có quy định rõ ràng về thời hạn mở phiên tòa: “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn mở phiên tòa có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày”.

Như vậy, khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (chưa kể các trường hợp gia hạn thời hạn xét xử), nghĩa là sau khi có quyết định phân công của Chánh án Tòa án đó và Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội thẩm nhân dân chính thức trở thành thành viên của Hội đồng xét xử. Theo sự sắp xếp, bố trí của thư ký, Hội thẩm nhân dân được tham gia đọc hồ sơ, nghiên cứu xét xử vụ án đó. Trong thời hạn ít nhất 07 ngày làm việc trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có trách nghiệm gửi giấy mời Hội thẩm nhân dân đến trụ sở Tòa án để nghiên cứu hồ sơ và trao đổi về nghiệp vụ xét xử đối với vụ án đó[1]. Xét riêng trong tố tụng hành chính, thời gian nghiên cứu hồ sơ ít cộng với vốn kiến thức pháp luật nền tảng bị hạn chế, đi kèm sự khác biệt về đối tượng xét xử của vụ án hành chính so với các vụ án dân sự[2], hình sự, khiến Hội thẩm nhân dân khó có đủ điều kiện để đánh giá hết các chứng cứ trong hồ sơ để có thể đưa ra quyết định đúng đắn về vụ án, nhất là các vụ án hành chính.

Thứ ba, về quy chế quản lý, kiểm tra, đánh giá Hội thẩm nhân dân.

Đây là một lỗ hổng trong quy định của pháp luật về Hội thẩm nhân dân. Theo quy định hiện nay, Tòa án chỉ quản lý Hội thẩm nhân dân trong thời gian họ nghiên cứu hồ sơ và tham gia xét xử. Ngoài thời gian đó thì họ sinh hoạt tại cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc hoặc địa phương nơi họ sinh sống.

Thứ tư, về mức lương của Hội thẩm nhân dân.

Ngoài chế độ trang phục, Hội thẩm chỉ được hưởng chế độ bồi dưỡng phiên tòa với mức 90.000 đồng/ngày nghiên cứu hồ sơ hoặc xét xử theo Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự. Ngoài ra, Hội thẩm nhân dân không được hưởng chế độ phụ cấp công vụ, phụ cấp trách nhiệm nghề giống như Thẩm phán. Với mức lương này chưa khuyến khích được sự nhiệt tình của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử.

2.2. Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về Hội thẩm nhân dân

Thứ nhất, thực tiễn cho thấy vẫn còn tồn tại bất cập về trình độ pháp luật của Hội thẩm nhân dân.

Nhân sự để lựa chọn Hội thẩm nhân dân vào danh sách hiện nay hầu hết là từ cán bộ, công chức trong các lĩnh vực khác nhau của từng địa phương nên hoạt động của Hội thẩm nhân dân chủ yếu còn mang tính chất kiêm nhiệm. Vì thế, Hội thẩm nhân dân phần lớn chỉ có thể hiểu biết một phần các vấn đề pháp lý của lĩnh vực mà họ làm việc và khó có thời gian để nghiên cứu sâu về các lĩnh vực khác. Trong khi đối với các vụ án hành chính thì quy định trong việc quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực khác nhau cũng có điểm khác biệt nhất định. Khác với các vụ án hình sự hay dân sự, Hội đồng xét xử phải lắng nghe những ý kiến, quan điểm của nhân dân, góc nhìn xã hội đối với vụ án được thể hiện thông qua Hội thẩm nhân dân thì bởi những đặc thù nhất định của lĩnh vực hành chính nên khi xét xử các vụ án hành chính, Hội đồng xét xử chỉ xem xét tính hợp pháp tức tính đúng sai của các quyết định hành chính, hành vi hành chính cho nên việc Hội thẩm nhân dân chỉ có “hiểu biết về pháp luật” mà không có thước đo cho sự hiểu biết về pháp luật sẽ có nguy cơ dẫn đến hiểu biết của Hội thẩm nhân dân về các quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý hành chính nói riêng và pháp luật hiện hành nói chung sẽ còn nhiều hạn chế.

Thứ hai, về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân.

Hội thẩm làm việc kiêm nhiệm nên thực tế ở vai trò là Hội thẩm nhân dân họ sẽ không phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính. Do đó, Hội thẩm dù có hoàn thành chưa tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không ảnh hưởng đến việc xét nâng lương, bổ nhiệm chức danh của công việc chính trong đó có những đánh giá thi đua, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ, cán bộ, công nhân, viên chức tại cơ quan trực tiếp quản lý họ. Việc không phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính đối với những bản án bị Tòa phúc thẩm huỷ án hoặc sửa án liệu có công bằng với Thẩm phán khi mà quyết định đều do Hội đồng xét xử biểu quyết. Chính vì những yếu tố ràng buộc không rõ ràng giữa thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn của việc truy cứu trách nhiệm nên đã dẫn tới một bất cập trong thực tiễn chính là tinh thần trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân chưa được phát huy một cách tối đa.

Thứ ba, về công tác tập huấn Hội thẩm nhân dân chưa được chú trọng thực hiện.

Về công tác tập huấn Hội thẩm nhân dân có quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Tổ chức Toà án nhân dân. Tuy nhiên, thực tế việc tập huấn của Tòa án nhân dân dành cho Hội thẩm nhân dân vẫn còn hạn chế là mang tính hình thức, chưa mang tính nghĩa vụ bắt buộc dẫn đến tình trạng số lượng Hội thẩm tham gia hàng năm không đầy đủ do bận công tác, công tác tập huấn không truyền tải được hết những yêu cầu mục đích tập huấn đặt ra. Do đó, chất lượng của công tác tập huấn hàng năm chưa đạt hiệu quả ở mức cao nhất và chưa đảm bảo được trình độ, kỹ năng của Hội thẩm nhân dân.

3. Kiến nghị nâng cao vai trò của Hội thẩm nhân dân

3.1. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, về tiêu chuẩn lựa chọn Hội thẩm nhân dân.

Theo tác giả, cần sửa đổi các quy định của pháp luật theo hướng nâng cao tiêu chuẩn về kiến thức pháp luật đối với Hội thẩm nhân dân. Từ “có kiến thức pháp luật” như quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân như hiện nay thành “có trình độ trung cấp luật trở lên” hoặc “đã hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ tập trung có thời gian từ 03 đến 06 tháng”. Ưu điểm của kiến nghị này sẽ là một bước tiến trong hoạt động tư pháp bởi lẽ hướng đến một nền tư pháp vững chắc với sự tham gia của những chủ thể có kiến thức pháp lý, có đủ khả năng để xem xét các vụ án, vụ việc vừa thấu tình vừa đạt lý.

Thứ hai, kiến nghị về việc cải thiện các cơ chế và chính sách đối với Hội thẩm nhân dân.

Cơ chế đãi ngộ và chính sách mà các Tòa án nói riêng và Nhà nước nói chung dành cho Hội thẩm nhân dân là chưa thỏa đáng và hầu như là không có khả năng khuyến khích Hội thẩm tích cực tham gia công tác xét xử của Tòa án. Do vậy, theo tác giả nên tăng cường thêm một số cơ chế và chính sách dành cho Hội thẩm nhân dân. Cụ thể, cần có cơ chế phụ cấp, khen thưởng và đánh giá đối với hoạt động của Hội thẩm nhân dân. Về cơ chế phụ cấp, các quy định thực trạng pháp luật cho thấy trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trong quá trình hoạt động là tương đương với trách nhiệm của Thẩm phán[3]. Việc cải thiện những chính sách và bổ sung thêm cơ chế để Hội thẩm nhân dân có thể hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình, đảm bảo rõ ràng sự tham gia của Nhân dân trong hoạt động xét xử và tránh việc “hình thức hóa” vị trí của Hội thẩm trong Hội đồng xét xử khiến cho vai trò của Hội thẩm nhân dân bị xem nhẹ như thời gian qua.

Thứ ba, hạn chế sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong một số loại vụ án, vụ việc nhất định.

Tác giả đã thực hiện việc nghiên cứu pháp luật các nước mà điển hình là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Pháp. Nhìn chung, tác giả nhận thấy các quốc gia này đều có một một điểm chung là một mặt nâng cao vai trò của nhân dân trong hoạt động xét xử thông qua việc bắt buộc có Hội thẩm nhân dân hay Bồi thẩm đoàn tham gia vào các vụ án nghiêm trọng và có sức ảnh hưởng lớn với xã hội, mặt khác lại giới hạn sự tham gia của họ trong một số loại vụ án, vụ việc nhất định. Điều này hoàn toàn không hề mâu thuẫn với nhau mà ngược lại việc hạn chế sự tham gia của Hội thẩm nhân dân vào một số loại vụ án, vụ việc nhất định còn giúp cho Hội thẩm có thể hoạt động một cách hiệu quả và ít hao tốn nhiều thời gian, sức người, sức của của quốc gia bởi lẽ Hội thẩm nhân dân có thể phát huy hết vai trò của mình trong những vụ án, vụ việc thật sự cần tiếng nói của họ thay vì có mặt trong tất cả các loại vụ án, vụ việc bất kể vai trò của họ là cần thiết hay là không.

Cụ thể, Hội thẩm nhân dân chỉ cần bắt buộc phải có mặt tại các vụ án, vụ việc mang tính xã hội cao, các vụ án nghiêm trọng và đồng thời là những vụ án thu hút sự chú ý của dư luận. Đây là những vụ án rất cần tiếng nói của nhân dân trong Hội đồng xét xử để Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa có cái nhìn toàn diện hơn trong việc đưa ra các phán quyết không chỉ đúng với tinh thần pháp luật mà còn đúng với nguyện vọng của số đông người dân.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật

Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật chính là hình thành cơ chế kiểm tra kiến thức pháp luật của Hội thẩm nhân dân. Khi kết thúc những đợt tập huấn nghiệp vụ Hội thẩm nhân dân, Tòa án nhân dân các tỉnh cần tổ chức thêm các buổi kiểm tra nhằm mục đích đánh giá kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức chuyên môn của Hội thẩm nhân dân. Việc thực hiện kiểm tra sẽ tạo điều kiện để chúng ta biết được rằng khả năng của các vị Hội thẩm nhân dân đã thực sự đủ để tham gia vào công tác xét xử hay chưa, như vậy thì các buổi tập huấn mới thực sự đạt được hiệu quả và sau cùng là nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân nhân. Đi đôi với việc hình thành cơ chế kiểm tra kiến thức pháp luật là phải hình thành thêm những quy định mới về thủ tục, hình thức nội dung kiểm tra cũng như việc bổ sung nguồn nhân lực, điều kiện vật chất bao gồm cơ sở tổ chức và tài liệu kiểm tra cho công tác mới này, đồng thời cũng phải quy định thêm về việc tạo điều kiện về mặt thời gian và không gian cho các vị Hội thẩm nhân dân tham gia buổi kiểm tra. Ngoài ra, để bảo đảm cho công tác kiểm tra diễn ra công tâm, minh bạch và đạt được hiệu quả thì phải có chế tài đối với những hành vi vi phạm quy chế kiểm tra cũng như trốn tránh việc tham gia kiểm tra vì lý do công vụ.

Hai là, nên hướng đến lựa chọn các đối tượng vào vị trí Hội thẩm nhân dân cần đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí cả về mặt chuyên môn và về xã hội. Bên cạnh việc đáp ứng được kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức trong lĩnh vực tư pháp thì pháp luật cũng nên có những quy định chặt chẽ hơn trong việc lựa chọn những Hội thẩm nhân dân là cán bộ đã về hưu vì những người đang công tác có thể cập nhật được những tâm lý của người dân, những hiện tượng đang diễn ra trong xã hội một cách thường xuyên và chính xác hơn.

Bà là, nâng cao mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với cơ quan Hội thẩm đang công tác và giữa cơ quan này với Toà án mà Hội thẩm tham gia thực hiện công tác xét xử. Để Hội thẩm nhân dân có thời gian nghiên cứu hồ sơ nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác xét xử vừa bảo đảm được công việc ở cơ quan, tổ chức nơi Hội thẩm công tác chính. Theo tác giả, Tòa án nhân dân nơi Hội thẩm nhân dân đang thực hiện nhiệm vụ nên tăng cường mối quan hệ, thông tin đối với cơ quan, tổ chức nơi Hội thẩm nhân dân làm việc. Theo đó, Tòa án nên hỗ trợ để cơ quan này có thể nắm bắt đầy đủ, kịp thời thông tin và lịch phân công xét xử của Hội thẩm để từ đó có những hỗ trợ phù hợp với từng chức danh, vai trò nghề nghiệp của Hội thẩm trong cơ quan hoặc kịp thời tìm kiếm được nhân sự để thay thế. Bên cạnh đó, cơ quan, tổ chức nơi Hội thẩm làm việc có thể quy định mỗi tháng Hội thẩm có thể có bao nhiêu ngày không cần đến cơ quan để có thể chuyên tâm cho công việc nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử và giảm số lượng công việc giao vào đầu tháng cho Hội thẩm tùy thuộc vào lịch xét xử của tháng.

ThS. Nguyễn Thanh Quyên
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Điều 21 Nghị quyết liên tịch số 05/2005/NQLT-TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05/12/2005 về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ - Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

[2] Mục 1 Chương III Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Khoản 6 Điều 76 và khoản 8 Điều 89 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: