Thứ bảy 24/10/2026 22:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm người được thi hành án có từ khi nào

Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”. Tuy nhiên, quy định này không đề cập đến thời điểm phát sinh và thời điểm kết thúc cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định được thi hành án.

1. Phạm vi nghiên cứu về quyền, lợi ích của người được thi hành án

Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”. Tuy nhiên, quy định này không đề cập đến thời điểm phát sinh và thời điểm kết thúc cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định được thi hành án. Do đó, việc nghiên cứu về thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án có ý nghĩa nhất định, nhằm xác định cá nhân, tổ chức được ghi nhận trong bản án, quyết định được thi hành án có quyền, nghĩa vụ yêu cầu được hưởng quyền, lợi ích của mình được ghi nhận trong bản án, quyết định.

Quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định cụ thể, tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người được thi hành án không dễ dàng để thực hiện các quyền một cách đầy đủ. Vấn đề đặt ra là, cần phải xác định được thời điểm người được thi hành án hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định có hiệu lực; nội dung của các quyền, nghĩa vụ...

Trong bài viết này, tác giả không nghiên cứu về nội dung các quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án theo pháp luật thi hành án dân sự quy định mà chỉ tập trung nghiên cứu về thời điểm làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó (gọi chung là các quyền, lợi ích) của người được thi hành án.

Thực tế hiện nay, có những quan điểm khác nhau về thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án, cụ thể:

Thứ nhất, khái niệm người được thi hành án phát sinh tại thời điểm cơ quan thi hành án dân sự thụ lý thi hành án

Quan điểm này dựa trên nguyên nhân làm phát sinh việc thi hành án là yêu cầu thi hành án. Yêu cầu thi hành án làm phát sinh quá trình thi hành án đồng thời cũng làm phát sinh về quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự, đặc biệt là quyền, lợi ích của người được thụ hưởng theo nội dung bản án, quyết định thi hành án gọi là người được thi hành án (trừ trường hợp chủ động tổ chức thi hành án). Do vậy, khái niệm người được thi hành án cũng phát sinh từ thời điểm đó.

Quan điểm này cho rằng, một khi yêu cầu về thi hành án được chấp nhận, cơ quan thi hành án dân sự phải thụ lý thi hành án; làm phát sinh hồ sơ thi hành án, những quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án (quyền yêu cầu hoãn thi hành án; quyền yêu cầu đình chỉ thi hành án; quyền khiếu nại, tố cáo...) bắt đầu phát sinh tạo nên một quá trình tổ chức thi hành án.

Thứ hai, khái niệm người được thi hành án phát sinh sau thời điểm hết thời gian tự nguyện thi hành án

Theo quan điểm này thì khái niệm người được thi hành án chỉ được phát sinh sau thời gian đương sự tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp có việc tẩu tán tài sản như quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Trước, trong thời gian tự nguyện thi hành án, người có quyền, lợi ích theo bản án, quyết định phải thi hành án chưa có quyền yêu cầu thực hiện bản án, quyết định đó.

Thứ ba, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ rất sớm, tại thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành hoặc chưa có hiệu lực thi hành nhưng thuộc trường hợp phải thi hành ngay

Quan điểm này cho rằng, khái niệm người được thi hành án có từ rất sớm dù cá nhân người có quyền, lợi ích tự đôn đốc thi hành hay cơ quan có thẩm quyền đôn đốc thi hành án; dù bản án được thi hành thông qua thủ tục tự nguyện hoặc không thông qua thủ tục tự nguyện thi hành án. Trong các vụ án dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình có các tên gọi như nguyên đơn, bị đơn; trong án hình sự có các tên gọi như bị can, bị cáo, người bị hại… Dù tên gọi khác nhau nhưng sau khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền lợi được gọi là bên được thi hành án và ngược lại, cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thi hành được gọi là bên phải thi hành án.

Để minh họa, quan điểm này còn trích dẫn Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, quy định về thanh toán, chi, trả tiền, tài sản thi hành án: “Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành xác định nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu thi hành án mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo bản án, quyết định thì cơ quan thi hành án dân sự thanh toán cho người đã yêu cầu thi hành án theo tỷ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào ngân hàng theo loại tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông báo và ấn định thời hạn không quá 01 tháng cho những người được thi hành án chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp đã hết thời hiệu”. Như vậy, theo quy định này thì khái niệm người được thi hành án phát sinh ngay cả khi người được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án.

2. Một số kiến nghị

Người được thi hành án được đề cập nhiều trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Tuy nhiên, thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án có quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm đều có lý lẽ riêng. Tác giả đồng tình với quan thứ ba, quan điểm cho rằng, khái niệm người được thi hành án phát sinh từ khi có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành án hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án ngay. Bởi tác giả cho rằng, sau khi bản án, quyết định có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực nhưng được cho thi hành án thì quyền, lợi ích của một bên đã được xác định cụ thể, đồng thời xác lập nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bên kia gọi là bên được thi hành án.

Với những quan điểm khác nhau như trên đã dẫn tới sự không thống nhất trong cách hiểu và áp dụng luật. Vì vậy, tác giả có một số kiến nghị như sau:

- Luật Thi hành án dân sự cần quy định rõ khái niệm về người được thi hành án, thời điểm phát sinh khái niệm người được thi hành án; thời điểm người được thi hành án bắt đầu tiến hành các quyền, các thủ tục mà pháp luật đã quy định để bảo vệ quyền, lợi ích theo nội dung bản án, quyết định được thi hành án.

- Tự nguyện thi hành án là một thủ tục thi hành án bắt buộc, cần sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến nội dung về tự nguyện thi hành án, như quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014): “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay”. Theo quy định này thì chấp hành viên chỉ xác minh sau khi kết thúc thời hạn tự nguyện thi hành án. Tác giả cho rằng, quy định như vậy đã phần nào hạn chế thời gian bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự, vì vậy, cần được sửa đổi theo hướng chấp hành viên, bên được thi hành án có quyền xác minh điều kiện thi hành án của bên phải thi hành án ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ngay sau khi bản án được ban hành và cho thi hành ngay. Quy định như vậy mới phù hợp với thời điểm xác định khái niệm người được thi hành án.

Bùi Thái Bình
Cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận





Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: