Thứ sáu 23/10/2026 06:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp phát huy hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trong tố tụng

Sau gần 10 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và 05 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp

Sau gần 10 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và 05 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 11), công tác trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả thiết thực, đặc biệt là công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, trong đó phải kể đến hoạt động trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý theo đúng quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

Từ năm 2007 đến năm 2017, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh đã cử trợ giúp viên pháp lý và luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng 549 vụ việc, riêng năm 2016, Trung tâm đã thực hiện 83 vụ việc (tăng 48 vụ việc so với năm 2015), năm 2017, Trung tâm Trợ giúp pháp lý thực hiện 136 vụ việc (tăng 47 vụ việc so với năm 2016) và từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực, số vụ việc tăng lên rõ rệt, chỉ trong quý I/2018, Trung tâm đã thực hiện 71 vụ việc (tăng 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước). Chất lượng tham gia trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận, số vụ việc Trung tâm cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên tham gia không chỉ trong các vụ án hình sự mà còn cả các vụ án dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình.

Qua đánh giá chất lượng, đa số các vụ việc do trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên thực hiện đều thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, bảo đảm được quy tắc đạo đức nghề nghiệp, có sự đầu tư nghiên cứu hồ sơ cẩn thận, thực hiện thu thập thông tin, cung cấp các chứng cứ có giá trị về mặt pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật; có sự chuẩn bị bản luận cứ, quá trình trình bày quan điểm chặt chẽ, có căn cứ làm cơ sở pháp lý mang tính thuyết phục, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Nhiều vụ việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý, các ý kiến tranh tụng cũng như các đề xuất của trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên tham gia đã được Hội đồng xét xử chấp nhận, xem xét giảm án, chuyển khung hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, bảo đảm được tính khách quan trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án, đồng thời sự tham gia của trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên đã giúp cho người được trợ giúp pháp lý yên tâm hơn vì có chỗ dựa về mặt tinh thần và giúp đỡ họ về mặt pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian vừa qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại cần khắc phục như:

Thứ nhất, vẫn còn một số đơn vị chưa thực sự chủ động, sát sao, chưa quan tâm đúng mức đến công tác trợ giúp pháp lý nên tỷ lệ vụ việc trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tuy đã có xu hướng tăng dần về số lượng nhưng vẫn còn thấp so với tổng số vụ việc được các cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý và đưa ra xét xử hàng năm. Theo thống kê từ năm 2007 đến năm 2017, Trung tâm Trợ giúp pháp lý đã thụ lý và giải quyết 8.627 vụ việc, trong đó chỉ có 549 vụ việc được thực hiện bằng hình thức tham gia tố tụng chiếm 6,3% tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, nhận thức về công tác trợ giúp pháp lý nói chung và trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng nói riêng của người dân còn hạn chế, số lượng người có nhu cầu trợ giúp pháp lý ở các lĩnh vực pháp luật rất lớn nhưng khả năng tiếp cận với tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý chưa nhiều. Một phần do điều kiện đi lại của người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, một phần do một số người dân chưa chủ động đến với trợ giúp pháp lý khi có vướng mắc pháp luật.

Thứ ba, nhận thức của các cơ quan ở một số địa phương chưa thống nhất, sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của các ngành, các cấp ở một số đơn vị chưa thực sự chủ động, sát sao dẫn đến hoạt động của công tác này chưa đạt được hiệu quả cao. Thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý của một số cơ quan tiến hành tố tụng do công tác kiêm nhiệm nên cũng chưa dành nhiều thời gian quan tâm đến công tác trợ giúp pháp lý, do đó, chưa thường xuyên chỉ đạo, quán triệt đến việc các cán bộ của cơ quan có nghiêm túc thực hiện Thông tư liên tịch số 11.

Thứ tư, vị trí của những người thực hiện trợ giúp pháp lý khi tham gia tố tụng chưa tương xứng với vai trò, nhiệm vụ; tâm lý e ngại, sợ lộ bí mật các thông tin của vụ án sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án vẫn còn tồn tại. Tại các cơ quan tiến hành tố tụng, một số người tiến hành tố tụng giải thích chưa đầy đủ và rõ ràng về quyền được trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý, chưa làm cho họ hiểu rằng việc trợ giúp này là hoàn toàn miễn phí dẫn đến việc họ từ chối được trợ giúp vì cho rằng không có điều kiện kinh tế để “mời” luật sư…

Thứ năm, về nguồn lực tham gia công tác trợ giúp pháp lý, lực lượng trợ giúp pháp lý nhìn chung còn mỏng, chất lượng nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp pháp lý phát triển chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do sự phối hợp còn chưa thường xuyên; một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức được đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, có địa phương, đơn vị xem đây chỉ là nhiệm vụ của Ngành Tư pháp, do vậy chưa có sự quan tâm đúng mức; một số người tiến hành tố tụng còn chưa hiểu đầy đủ các quy định tại Thông tư liên tịch số 11; một số thành viên của Hội đồng phối hợp liên ngành chưa thể hiện rõ vai trò trong việc chủ động, kịp thời tham mưu để chỉ đạo ngành mình thực hiện và chưa chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; việc theo dõi, thống kê số liệu đối tượng, vụ việc được trợ giúp pháp lý còn chưa được chú trọng. Công tác phối hợp giới thiệu các vụ việc cho tổ chức trợ giúp pháp lý còn chưa được thường xuyên; nhiều người dân còn chưa biết đến tổ chức trợ giúp pháp lý khi có vướng mắc pháp luật, vì vậy, số lượng vụ việc được trợ giúp pháp lý còn thấp so với số lượng vụ việc được thụ lý giải quyết tại các cơ quan tiến hành tố tụng; kinh nghiệm của trợ giúp viên pháp lý chưa nhiều, phần lớn là vừa làm, vừa học và rút kinh nghiệm cho bản thân.

Hiện nay, công tác trợ giúp pháp lý đang thực hiện chuyển hướng chiến lược, phát triển bền vững theo hướng chuyên nghiệp hóa, chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý phải tương đương với dịch vụ của luật sư cung cấp trên thị trường theo tinh thần Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Bên cạnh đó, tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Đồng thời, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 với nhiều quy định mới liên quan tới việc tham gia tố tụng và phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng, trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý và thông báo cho Trung tâm khi người được trợ giúp pháp lý có yêu cầu; quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phối hợp, tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng. Phạm vi, đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được mở rộng (tăng từ 06 lên tới 14 nhóm đối tượng), nên nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng tăng và đa dạng trong mọi lĩnh vực pháp luật, nhiệm vụ đổi mới công tác trợ giúp pháp lý đòi hỏi tính chuyên nghiệp, phối hợp tốt để triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ mới trong công tác trợ giúp pháp lý. Vì vậy, để hoạt động trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tiếp tục phát huy có hiệu quả cần phải có những giải pháp sau:

Thứ nhất, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần chú trọng phát hiện và giới thiệu đối tượng được trợ giúp pháp lý đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, bảo đảm 100% đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý có trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng khi có yêu cầu, cơ chế phản hồi thông tin đa chiều, tăng tính chịu trách nhiệm của từng ngành, từng khâu trong việc bảo đảm thực hiện các nội dung phối hợp cho từng cơ quan, tổ chức... bảo đảm các đối tượng có yêu cầu trợ giúp pháp lý đều được cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng để được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp kịp thời.

Thứ hai, tăng cường công tác truyền thông về Luật Trợ giúp pháp lý, Thông tư liên tịch số 11 và các văn bản có liên quan để nâng cao nhận thức của người dân về quyền được trợ giúp pháp lý và của cơ quan tiến hành tố tụng về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Đẩy mạnh công tác truyền thông các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý thông qua các phương tiện báo chí, phát thanh truyền hình, bảng tin, hộp tin trợ giúp pháp lý... Lựa chọn và đưa lên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp một số vụ án phức tạp, điển hình của trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên tham gia có hiệu quả, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được trợ giúp pháp lý để tuyên truyền giới thiệu về hoạt động trợ giúp pháp lý.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của các thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành trong công tác trợ giúp pháp lý, tăng cường phối hợp, trao đổi, kịp thời phát hiện và tháo gỡ những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong thực tiễn liên quan đến ngành mình phụ trách. Tăng cường phối hợp thông tin giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh với các cơ quan tiến hành tố tụng từ tỉnh đến huyện trong việc giới thiệu hoặc đề nghị cử người tham gia để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý một cách nhanh chóng, kịp thời.

Thứ tư, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong tố tụng thường xuyên tổ chức kiểm tra liên ngành về công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện theo quy định của pháp luật, các ngành thành viên tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền của từng ngành và kịp thời thông tin, báo cáo kết quả hoạt động cho Hội đồng, qua đó đánh giá về sự phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý, phản hồi thông tin, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thực hiện. Thường xuyên duy trì chế độ thông tin, báo cáo giữa các ngành thành viên với cơ quan thường trực Hội đồng về kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý, qua đó để Hội đồng đánh giá được một cách tổng quát, toàn diện về tình hình hoạt động trợ giúp pháp lý trong các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn trong từng thời gian cụ thể, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.

Thứ năm, tập trung nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm giải quyết vụ việc cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý qua đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, nhất là kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa cho các trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên để nâng cao kỹ năng tham gia tố tụng; thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm giữa các trợ giúp viên pháp lý và giữa trợ giúp viên pháp lý với các luật sư có nhiều kinh nghiệm. Tập huấn, bồi dưỡng cho người tiến hành tố tụng về trách nhiệm phối hợp theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và Thông tư liên tịch số 11, chú trọng kỹ năng giải thích, hướng dẫn cho đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý về quyền được trợ giúp pháp lý, trong đó nhấn mạnh những đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác trợ giúp pháp lý.

Thứ sáu, làm tốt công tác thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc để nhận định được rõ những vụ việc, hồ sơ làm tốt và có buổi sinh hoạt chuyên đề trao đổi rút kinh nghiệm về chất lượng vụ việc. Có cơ chế khuyến khích để những trợ giúp viên pháp lý làm tốt, phát huy năng lực của mình.

Với các giải pháp nêu trên, hi vọng rằng, công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Hà Tĩnh sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ trong tình hình đổi mới của công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.

NGUYỄN THỊ NGỌC

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: