Thứ năm 30/04/2026 14:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số nội dung cần được xem xét khi xây dựng Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Qua 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2013, Việt Nam đã có những bước đi dài, thay đổi căn bản mang lại nhiều thành tựu góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của quốc gia. Tuy nhiên, qua quá trình thực thi cùng với nhiều yếu tố mới phát sinh trong nền kinh tế, cần phải tổng kết, đánh giá thật nghiêm túc quá trình thi hành Luật Đất đai hiện hành, từ đó để đi đến việc ban hành Luật Đất đai mới bám sát những nguyên tắc và mục tiêu trọng tâm mà Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”.

Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu lên một số nội dung cần được xem xét khi xây dựng Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) để bám sát với yêu cầu thực tiễn hội nhập, hướng đến bảo đảm “hài hòa lợi ích” và “công bằng xã hội”, cụ thể:

Một là, đề nghị bổ sung vào khoản 26 Điều 3 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi): Giải thích từ ngữ, bổ sung cụm từ “đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp” và từ “nguồn”, thành: “Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trực tiếp sản xuất và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; không được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị xã hội khác”.

Đề nghị bổ sung khoản 53 Điều 3 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về giải thích từ ngữ, bổ sung cụm “đất sử dụng ổn định lâu dài”: “Đất sử dụng ổn định lâu dài là đất được sử dụng liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Hai là, đề nghị bổ sung vào Điều 224 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai không thành mà đương sự không nộp đơn khởi kiện ra Tòa án thì cần có hướng giải quyết. Bởi vì, xét về mặt pháp lý thì thửa đất này đang nằm trong tình trạng tranh chấp, nếu không có hướng xử lý sẽ làm hạn chế khả năng sử dụng của thửa đất đó.

Ba là, đề nghị bổ sung điểm i khoản 2 Điều 78 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) các “tiêu chí xác định dự án khu dân cư nông thôn sử dụng các loại đất không phải là đất ở” thuộc đối tượng thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Phải xác định rõ những trường hợp nào thuộc dự án khu dân cư nông thôn để làm cơ sở áp dụng thống nhất tại các địa phương.

Bốn là, việc định giá đất cần phải thực hiện riêng biệt, độc lập giữa các cơ quan trong việc định giá đất. Đồng thời, cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan trong việc định giá đất, đảm bảo được công khai, minh bạch giữa 03 cơ quan: (i) Cơ quan tham mưu giá đất; (ii) Cơ quan thẩm định giá đất; (iii) Cơ quan quyết định giá đất. Bên cạnh đó, người có đất bị thu hồi cũng không thể giám sát quá trình định giá đất - mặc dù chính họ là người bị ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất. Do vậy, đề nghị bổ sung điểm e khoản 1 Điều 153 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi): Nguyên tắc, phương pháp định giá đất nguyên tắc “Bảo đảm tính công khai, minh bạch” để bảo đảm được sự công khai, minh bạch giữa các cơ quan trong việc định giá đất và người dân được tham gia giám sát vào quy trình định giá đất, thành:

“1. Việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

………………………………………

e) Bảo đảm tính công khai, minh bạch”.

Đồng thời, đề nghị bổ sung vào điểm b khoản 1 Điều 156 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) Hội đồng thẩm định giá đất chủ thể “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” và “Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh” để giám sát và bảo đảm việc thi hành pháp luật, việc tham gia của Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự vào việc định giá đất bảo đảm sự tham gia của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong vai trò đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai, thành:

“1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thẩm định bảng giá đất bao gồm các thành phần sau:

....................................

b) Giám đốc Sở Tài chính làm thường trực Hội đồng; lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Công Thương, Sở Tư pháp, Cục Thuế tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh”.

Năm là, vấn đề xác định thiệt hại để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cần phải xác định đúng và đủ các thiệt hại để gắn với cơ chế bồi thường dựa trên tinh thần chung của Bộ luật Dân sự; giúp cơ quan quản lý dễ dàng xác định, tập hợp tất cả các thiệt hại do việc thu hồi về mức bồi thường cụ thể, đầy đủ và tương xứng với những ảnh hưởng của việc thu hồi gây ra cho người sử dụng đất; tránh để bỏ sót nhiều thiệt hại do khó xác định hoặc bồi thường qua loa, không tương xứng. Do đó, đề nghị bổ sung, làm rõ thêm hai khái niệm: (i) Thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Bồi thường thiệt hại về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.

Về vấn đề hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất, hiện quy định tại khoản 1 Điều 105 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ mới giải quyết được việc làm cho đối tượng là người trong độ tuổi lao động, còn những đối tượng khác (người trên độ tuổi lao động và người dưới độ tuổi lao động) chưa được đề cập rõ. Do vậy, đề nghị bổ sung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trách nhiệm giải quyết việc làm cho tất cả những người trong hộ gia đình có đất bị thu hồi đang có nhu cầu việc làm, cụ thể là những người trên độ tuổi lao động và người dưới độ tuổi lao động mà họ còn phải làm việc để bảo đảm được cuộc sống trong tương lai, tránh tình trạng người dân nhận tiền bồi thường nhưng không tìm được việc làm mới, rơi vào đối tượng phải trợ giúp xã hội, cụ thể như sau:

Đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 105 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi):

“1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền; người trong hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới để bảo đảm cuộc sống theo quy định của Chính phủ”.

Đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 83 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi): “Trước khi ban hành quyết định thu hồi đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải gửi văn bản thông báo thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất biết chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp. Nội dung thông báo thu hồi đất gồm lý do thu hồi đất; diện tích, vị trí khu đất thu hồi; tiến độ thu hồi đất và kế hoạch tổ chức lại sản xuất, tạo việc làm mới cho người dân có đất bị thu hồi”.

Sáu là, về vấn đề tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, hiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) tại khoản 1 Điều 106 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất” mà không có bất kỳ ràng buộc nào để bảo đảm dự án tái định cư phải được lập và thực hiện trước khi thu hồi đất. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã xác định: “Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện sau khi phương án bồi thường - hỗ trợ - tái định cư được phê duyệt; trường hợp thu hồi đất mà phải bố trí tái định cư thì phải hoàn thành bố trí tái định cư trước khi thu hồi đất; việc bồi thường - hỗ trợ - tái định cư phải đi trước một bước; thực hiện thí điểm và tổng kết chủ trương tách dự án bồi thường - hỗ trợ - tái định cư ra khỏi dự án đầu tư để thực hiện trước”. Do vậy, theo tác giả, cần có quy định ràng buộc về thời điểm bố trí tái định cư theo hướng như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường - hỗ trợ - tái định cư và quyết định giao nền tái định cư cho các hộ dân được bố trí tái định cư phải được thực hiện trong cùng một ngày. Không được phép ban hành quyết định cưỡng chế đối với các trường hợp chưa bố trí tái định cư trên thực địa và chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khu tái định cư” nhằm bảo đảm cho người có đất bị thu hồi được “an cư”, ổn định lại cuộc sống trước khi thực hiện việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng hoặc cưỡng chế thu hồi đất trên thực tế. Đồng thời, đề nghị bổ sung Điều 89 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) các tiêu chí để xác định người có đất bị thu hồi có chỗ ở, thu nhập và điều kiện sống được bảo đảm, bổ sung các tiêu chí cụ thể để đánh giá, so sánh về chỗ ở, thu nhập và điều kiện sống của người có đất trước khi bị thu hồi và sau khi bị thu hồi để bảo đảm xác thực được tiêu chí “bằng” hoặc “tốt hơn” nơi ở cũ.

Như vậy, khi người dân bị thu hồi đất họ là người bị ảnh hưởng trực tiếp không chỉ về mặt vật chất mà còn gắn liền với quyền an sinh, gắn với nơi chôn nhau cắt rốn, ngành nghề truyền thống và cả sinh kế của người dân. Do vậy, để bảo đảm hài hòa lợi ích và công bằng xã hội, cần phải hoàn thiện quy định pháp luật đất đai rõ ràng, cụ thể quan tâm đến quyền lợi của người dân, phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống, chỉ có như vậy mới đưa cuộc sống vào pháp luật đất đai thực sự hiệu quả./.

TS. Nguyễn Văn Phụng

Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Luật miền Nam

ThS. Đặng Thị Ngọc Thi

Giảng viên Khoa Đào tạo nghiệp vụ, Trường Cao đẳng Luật miền Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: