Chủ nhật 26/07/2026 22:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong điều tra vụ án hình sự

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu ra một số quan điểm về những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu ra một số quan điểm về những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.

Abstract: Within the scope of this article, the authors raise a number of views on the legal provisions on experimental investigation measures in the investigation of criminal cases.

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, để chứng minh làm rõ vụ án, cơ quan điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp điều tra khác nhau; trong đó có những biện pháp điều tra phổ biến, thường xuyên được tiến hành như lấy lời khai, hỏi cung, khám xét… Tuy nhiên, cũng có những biện pháp điều tra chỉ được tiến hành khi thực sự cần thiết và có thể như biện pháp thực nghiệm điều tra. Thực tế hoạt động điều tra vụ án hình sự cho thấy, thực nghiệm điều tra đóng vai trò là một biện pháp điều tra hiệu quả, giúp cơ quan điều tra củng cố những tài liệu chứng cứ đã thu thập được, thu thập những tài liệu chứng cứ mới, kiểm tra và đánh giá các giả thuyết điều tra. Đặc biệt, trong một số vụ án, thực nghiệm điều tra đóng vai trò quyết định trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội. Thực nghiệm điều tra là một biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc tiến hành biện pháp này phải căn cứ, tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của pháp luật.

Biện pháp thực nghiệm điều tra được quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể, khoản 1 quy định: “Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết”. Với quy định này có thể thấy rằng, các trường hợp được cho phép sử dụng biện pháp điều tra thực nghiệm điều tra tương đối rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra, điều tra viên dễ dàng, linh hoạt hơn trong việc sử dụng thực nghiệm điều tra như là một công cụ, phương tiện hữu hiệu để kiểm tra và đánh giá các tài liệu chứng cứ đã thu thập được hoặc để kiểm tra các giả thuyết điều tra định hướng cho các hoạt động điều tra khác chính xác hơn.

Các trường hợp cần tiến hành thực nghiệm điều tra cụ thể như:

- Khi lời khai của bị can, bị hại, người làm chứng,... có mâu thuẫn với thực tế khách quan: Mâu thuẫn với thực tế khách quan ở đây được hiểu là lời khai của những người này không phù hợp với các quy luật của tự nhiên, xã hội, quy luật hình thành dấu vết…, thông thường đã được khoa học kiểm chứng và thừa nhận hay lời khai của họ không phù hợp với các thông tin, tài liệu khác mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được như: Lời khai của những người khác trong vụ án, các vật chứng thu được liên quan đến vụ án, kết quả công tác khám nghiệm hiện trường, khám xét... Thực nghiệm điều tra còn được tiến hành trong trường hợp đối tượng khai gian dối, khẳng định mình vô tội, bằng cách đưa ra chứng cứ ngoại phạm, trong trường hợp này, việc tiến hành thực nghiệm điều tra là hết sức cần thiết để phá vỡ lập trường khai báo gian dối của đối tượng, buộc đối tượng phải khai báo đúng sự thật phục vụ quá trình điều tra, làm rõ vụ án hình sự.

- Khi cần củng cố thêm vững chắc tài liệu, chứng cứ đã thu được phục vụ cho việc truy tố, xét xử các đối tượng phạm tội: Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được các thông tin, tài liệu chứng minh tội phạm, người phạm tội; các thông tin, tài liệu này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, phù hợp với quy luật khách quan; tuy nhiên, xuất phát từ tính chất phức tạp, nghiêm trọng của vụ án hình sự, nhằm xác định chính xác một người là người phạm tội chứ không phải người khác, ngoài họ không có ai khác là đồng phạm khi thực hiện tội phạm khi đó các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc này được tiến hành phổ biến trong các vụ án giết người, cướp tài sản, các vụ phạm tội có tổ chức, phạm tội với phương thức, thủ đoạn mới hoặc phạm tội đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp, năng khiếu cá nhân,...

- Việc tiến hành thực nghiệm điều tra còn được tiến hành trong trường hợp việc nhận xét đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng về vụ án còn nhiều ý kiến, lập luận, giả thuyết khác nhau đòi hỏi phải có căn cứ để kết luận khách quan. Quá trình tiến hành hoạt động điều tra, đặc biệt ở giai đoạn điều tra ban đầu còn nhiều lập luận, quan điểm trái chiều nhau về vụ án, điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân những tài liệu, chứng cứ về vụ án tại thời điểm này chưa được thu thập một cách đầy đủ, nhiều tài liệu còn tản mát, chưa được kiểm tra, xác minh, vì thế các điều tra viên có thể đưa ra những lập luận, ý kiến, giả thuyết trái chiều nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Do vậy, để giải quyết vấn đề này điều tra viên có thể áp dụng biện pháp thực nghiệm điều tra để có thể giải quyết các mâu thuẫn đó.

- Thực nghiệm điều tra là một biện pháp điều tra, do đó, khi tiến hành thực nghiệm điều tra như: Diễn lại hành vi, tình huống, các tình tiết của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm khác không được trái với nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, việc tiến hành thực nghiệm điều tra phải tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để các quy định của pháp luật có liên quan đến thực nghiệm điều tra, việc tiến hành thực nghiệm không được trái với các quy định của pháp luật, không được vi phạm các quy định của pháp luật. Để bảo đảm vấn đề trên, khi tiến hành thực nghiệm điều tra, điều tra viên phải quán triệt những vấn đề sau:

+ Không được diễn lại, làm thử những vấn đề gây ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người như: Thực hiện những vụ phá hoại ở nơi công cộng, thực nghiệm điều tra diễn lại những động tác, hành vi “nhạy cảm” những vụ hiếp dâm, cưỡng dâm gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

+ Không được gây hư hại đến tài sản của Nhà nước, công dân.

+ Phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và thẩm quyền tiến hành thực nghiệm điều tra như: Phải có người chứng kiến, lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật, thông báo cho Viện kiểm sát trước khi tiến hành thực nghiệm điều tra.

+ Tuyệt đối tôn trọng thực tế khách quan: Đây là một vấn đề hết sức quan trọng để bảo đảm tính chính xác, khách quan của cuộc thực nghiệm; kết quả thực nghiệm đúng hay sai phụ thuộc lớn vào việc điều tra viên và những người tham gia cuộc thực nghiệm vô tư, có khách quan trong quá trình tiến hành các hoạt động thực nghiệm hay không. Vì vậy, cần thận trọng, không gò ép, bắt buộc, “gợi mớm”, dụ dỗ người diễn lại hoặc làm thử theo ý chủ quan của điều tra viên; bảo đảm những người tham gia thực nghiệm điều tra phải tự giác, bình tĩnh, khách quan; có thái độ nghiêm túc, phân tích kỹ lưỡng trên cơ sở thực tế mới có căn cứ đầy đủ để kết luận cơ sở thực tế mới có căn cứ đầy đủ để kết luận một cách đúng đắn, chính xác phục vụ yêu cầu đặt ra của công tác điều tra; tránh tư tưởng, định kiến, suy luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tế; nếu kết quả thực nghiệm điều tra trái ngược với dự đoán thì phải bình tĩnh nghiên cứu lại toàn bộ tình hình lúc xảy ra sự việc so với điều kiện lúc tiến hành thực nghiệm điều tra để tìm rõ nguyên nhân.

+ Theo quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể tiến hành thực nghiệm điều tra là cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà trực tiếp là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên là người tổ chức thực nghiệm điều tra. Ngoài cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là cơ quan chủ trì cuộc thực nghiệm, thì trong quá trình tiến hành thực nghiệm điều tra còn có sự tham gia của những thành phần khác tham gia thực nghiệm điều tra như: Người thực nghiệm, người chứng kiến, lực lượng bảo vệ cuộc thực nghiệm..., bảo đảm tuân thủ những quy định của pháp luật và kết quả của cuộc thực nghiệm.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra giúp cho cơ quan điều tra nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành biện pháp này phải căn cứ, tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của pháp luật để bảo đảm hiệu quả trong quá trình áp dụng, góp phần cùng với các biện pháp khác chứng minh, làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Bên cạnh đó, việc chấp hành những quy định của pháp luật và quán triệt những vấn đề nêu trên sẽ bảo đảm hiệu quả và giá trị của cuộc thực nghiệm điều tra.

ThS. Nguyễn Trọng Cảnh
ThS. Lê Xuân Trường
Khoa Cảnh sát điều tra - Học viện Cảnh nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quá trình chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của các giao dịch tài chính số tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, đồng thời, cũng làm gia tăng các hành vi lừa đảo công nghệ cao, đặc biệt, các thủ đoạn lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó, nổi bật là công nghệ Deepfake. Công nghệ này cho phép giả mạo giọng nói, hình ảnh với độ chân thực cao, đe dọa trực tiếp cơ chế xác thực sinh trắc học và an toàn ngân hàng số. Nghiên cứu tập trung phân tích: (i) sự thiếu thống nhất trong định tội danh giữa Điều 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025; (ii) thách thức đối với giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử và sự thiếu quy chuẩn giám định AI chuyên biệt; (iii) khoảng trống trong cơ chế bảo vệ dữ liệu sinh trắc học, chế tài đối với hành vi thương mại hóa dữ liệu và cơ chế phong tỏa tài khoản trong giao dịch nghi ngờ gian lận. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng: làm rõ ranh giới định tội danh; xây dựng quy chuẩn giám định AI; hình sự hóa hành vi chiếm đoạt dữ liệu sinh trắc học; tăng cường cơ chế phong tỏa tài khoản có điều kiện… Các giải pháp này nhằm nâng cao năng lực ứng phó của hệ thống pháp lý trước tội phạm Deepfake trong kỷ nguyên số.
Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, việc thiết kế ngưỡng doanh thu miễn thuế hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả quản lý và công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu phân tích cơ chế ngưỡng thuế mềm dưới góc độ kinh tế học pháp luật, tập trung nhận diện các rủi ro hành vi phát sinh và đánh giá tính hợp lý của quy định hiện hành tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lợi ích chi phí, kết hợp so sánh kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra ngưỡng mềm có thể làm giảm hiện tượng né ngưỡng tại một điểm doanh thu nhất định, nhưng chưa loại bỏ hoàn toàn động cơ tránh né nghĩa vụ thuế, từ đó, đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng thiết kế biểu thuế phù hợp, xây dựng cơ chế chuyển tiếp rõ ràng và tăng cường các biện pháp kiểm soát tuân thủ nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng của chính sách thuế.
Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.

Theo dõi chúng tôi trên: