Thứ sáu 13/03/2026 10:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong điều tra vụ án hình sự

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu ra một số quan điểm về những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu ra một số quan điểm về những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.

Abstract: Within the scope of this article, the authors raise a number of views on the legal provisions on experimental investigation measures in the investigation of criminal cases.

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, để chứng minh làm rõ vụ án, cơ quan điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp điều tra khác nhau; trong đó có những biện pháp điều tra phổ biến, thường xuyên được tiến hành như lấy lời khai, hỏi cung, khám xét… Tuy nhiên, cũng có những biện pháp điều tra chỉ được tiến hành khi thực sự cần thiết và có thể như biện pháp thực nghiệm điều tra. Thực tế hoạt động điều tra vụ án hình sự cho thấy, thực nghiệm điều tra đóng vai trò là một biện pháp điều tra hiệu quả, giúp cơ quan điều tra củng cố những tài liệu chứng cứ đã thu thập được, thu thập những tài liệu chứng cứ mới, kiểm tra và đánh giá các giả thuyết điều tra. Đặc biệt, trong một số vụ án, thực nghiệm điều tra đóng vai trò quyết định trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội. Thực nghiệm điều tra là một biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc tiến hành biện pháp này phải căn cứ, tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của pháp luật.

Biện pháp thực nghiệm điều tra được quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể, khoản 1 quy định: “Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết”. Với quy định này có thể thấy rằng, các trường hợp được cho phép sử dụng biện pháp điều tra thực nghiệm điều tra tương đối rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra, điều tra viên dễ dàng, linh hoạt hơn trong việc sử dụng thực nghiệm điều tra như là một công cụ, phương tiện hữu hiệu để kiểm tra và đánh giá các tài liệu chứng cứ đã thu thập được hoặc để kiểm tra các giả thuyết điều tra định hướng cho các hoạt động điều tra khác chính xác hơn.

Các trường hợp cần tiến hành thực nghiệm điều tra cụ thể như:

- Khi lời khai của bị can, bị hại, người làm chứng,... có mâu thuẫn với thực tế khách quan: Mâu thuẫn với thực tế khách quan ở đây được hiểu là lời khai của những người này không phù hợp với các quy luật của tự nhiên, xã hội, quy luật hình thành dấu vết…, thông thường đã được khoa học kiểm chứng và thừa nhận hay lời khai của họ không phù hợp với các thông tin, tài liệu khác mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được như: Lời khai của những người khác trong vụ án, các vật chứng thu được liên quan đến vụ án, kết quả công tác khám nghiệm hiện trường, khám xét... Thực nghiệm điều tra còn được tiến hành trong trường hợp đối tượng khai gian dối, khẳng định mình vô tội, bằng cách đưa ra chứng cứ ngoại phạm, trong trường hợp này, việc tiến hành thực nghiệm điều tra là hết sức cần thiết để phá vỡ lập trường khai báo gian dối của đối tượng, buộc đối tượng phải khai báo đúng sự thật phục vụ quá trình điều tra, làm rõ vụ án hình sự.

- Khi cần củng cố thêm vững chắc tài liệu, chứng cứ đã thu được phục vụ cho việc truy tố, xét xử các đối tượng phạm tội: Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được các thông tin, tài liệu chứng minh tội phạm, người phạm tội; các thông tin, tài liệu này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, phù hợp với quy luật khách quan; tuy nhiên, xuất phát từ tính chất phức tạp, nghiêm trọng của vụ án hình sự, nhằm xác định chính xác một người là người phạm tội chứ không phải người khác, ngoài họ không có ai khác là đồng phạm khi thực hiện tội phạm khi đó các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc này được tiến hành phổ biến trong các vụ án giết người, cướp tài sản, các vụ phạm tội có tổ chức, phạm tội với phương thức, thủ đoạn mới hoặc phạm tội đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp, năng khiếu cá nhân,...

- Việc tiến hành thực nghiệm điều tra còn được tiến hành trong trường hợp việc nhận xét đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng về vụ án còn nhiều ý kiến, lập luận, giả thuyết khác nhau đòi hỏi phải có căn cứ để kết luận khách quan. Quá trình tiến hành hoạt động điều tra, đặc biệt ở giai đoạn điều tra ban đầu còn nhiều lập luận, quan điểm trái chiều nhau về vụ án, điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân những tài liệu, chứng cứ về vụ án tại thời điểm này chưa được thu thập một cách đầy đủ, nhiều tài liệu còn tản mát, chưa được kiểm tra, xác minh, vì thế các điều tra viên có thể đưa ra những lập luận, ý kiến, giả thuyết trái chiều nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Do vậy, để giải quyết vấn đề này điều tra viên có thể áp dụng biện pháp thực nghiệm điều tra để có thể giải quyết các mâu thuẫn đó.

- Thực nghiệm điều tra là một biện pháp điều tra, do đó, khi tiến hành thực nghiệm điều tra như: Diễn lại hành vi, tình huống, các tình tiết của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm khác không được trái với nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, việc tiến hành thực nghiệm điều tra phải tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để các quy định của pháp luật có liên quan đến thực nghiệm điều tra, việc tiến hành thực nghiệm không được trái với các quy định của pháp luật, không được vi phạm các quy định của pháp luật. Để bảo đảm vấn đề trên, khi tiến hành thực nghiệm điều tra, điều tra viên phải quán triệt những vấn đề sau:

+ Không được diễn lại, làm thử những vấn đề gây ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người như: Thực hiện những vụ phá hoại ở nơi công cộng, thực nghiệm điều tra diễn lại những động tác, hành vi “nhạy cảm” những vụ hiếp dâm, cưỡng dâm gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

+ Không được gây hư hại đến tài sản của Nhà nước, công dân.

+ Phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và thẩm quyền tiến hành thực nghiệm điều tra như: Phải có người chứng kiến, lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật, thông báo cho Viện kiểm sát trước khi tiến hành thực nghiệm điều tra.

+ Tuyệt đối tôn trọng thực tế khách quan: Đây là một vấn đề hết sức quan trọng để bảo đảm tính chính xác, khách quan của cuộc thực nghiệm; kết quả thực nghiệm đúng hay sai phụ thuộc lớn vào việc điều tra viên và những người tham gia cuộc thực nghiệm vô tư, có khách quan trong quá trình tiến hành các hoạt động thực nghiệm hay không. Vì vậy, cần thận trọng, không gò ép, bắt buộc, “gợi mớm”, dụ dỗ người diễn lại hoặc làm thử theo ý chủ quan của điều tra viên; bảo đảm những người tham gia thực nghiệm điều tra phải tự giác, bình tĩnh, khách quan; có thái độ nghiêm túc, phân tích kỹ lưỡng trên cơ sở thực tế mới có căn cứ đầy đủ để kết luận cơ sở thực tế mới có căn cứ đầy đủ để kết luận một cách đúng đắn, chính xác phục vụ yêu cầu đặt ra của công tác điều tra; tránh tư tưởng, định kiến, suy luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tế; nếu kết quả thực nghiệm điều tra trái ngược với dự đoán thì phải bình tĩnh nghiên cứu lại toàn bộ tình hình lúc xảy ra sự việc so với điều kiện lúc tiến hành thực nghiệm điều tra để tìm rõ nguyên nhân.

+ Theo quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể tiến hành thực nghiệm điều tra là cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà trực tiếp là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên là người tổ chức thực nghiệm điều tra. Ngoài cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là cơ quan chủ trì cuộc thực nghiệm, thì trong quá trình tiến hành thực nghiệm điều tra còn có sự tham gia của những thành phần khác tham gia thực nghiệm điều tra như: Người thực nghiệm, người chứng kiến, lực lượng bảo vệ cuộc thực nghiệm..., bảo đảm tuân thủ những quy định của pháp luật và kết quả của cuộc thực nghiệm.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến những quy định của pháp luật về biện pháp thực nghiệm điều tra giúp cho cơ quan điều tra nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành biện pháp này phải căn cứ, tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của pháp luật để bảo đảm hiệu quả trong quá trình áp dụng, góp phần cùng với các biện pháp khác chứng minh, làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Bên cạnh đó, việc chấp hành những quy định của pháp luật và quán triệt những vấn đề nêu trên sẽ bảo đảm hiệu quả và giá trị của cuộc thực nghiệm điều tra.

ThS. Nguyễn Trọng Cảnh
ThS. Lê Xuân Trường
Khoa Cảnh sát điều tra - Học viện Cảnh nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.
Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước ban hành các chế tài ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi lái xe, làm nhu cầu sử dụng dịch vụ lái xe hộ tăng mạnh. Tuy nhiên, loại hình này chưa được pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến khoảng trống về xác định quan hệ hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế chịu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý của hợp đồng lái xe hộ, đánh giá thực trạng điều chỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện để vừa bảo đảm an toàn pháp lý, vừa phù hợp định hướng phát triển kinh tế số.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong bối cảnh các nền tảng trực tuyến phát triển mạnh mẽ, hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng về hình thức, đối tượng tác động nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong điều chỉnh hành vi quảng cáo trên môi trường số, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ sở nghiên cứu, kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bài viết làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại trong kỷ nguyên số, chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quảng cáo, tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng môi trường quảng cáo số lành mạnh.
Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Thực tiễn áp dụng quy định tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài và một số kiến nghị

Tóm tắt: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án được điều chỉnh bởi Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng các quy định của tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài, dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật thiếu nhất quán. Bài viết phân tích, làm rõ về việc áp dụng quy định trong tố tụng Tòa án vào tố tụng trọng tài qua một số vụ việc thực tế để đánh giá tính hợp lý trong việc áp dụng; từ đó, đưa ra một số đề xuất bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ, hồ sơ sức khỏe điện tử không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đặt ra thách thức lớn về bảo mật dữ liệu cá nhân. Mặc dù, hệ thống pháp luật hiện hành đã có những tiến bộ quan trọng, đặc biệt với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành của Bộ Y tế, song còn tồn tại những hạn chế về chuẩn mực kỹ thuật, quyền tiếp cận dữ liệu, nghĩa vụ bảo mật của nhân viên y tế và chế tài xử lý. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ sức khỏe điện tử ở Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và đặt trong tổng thể chính sách chuyển đổi số y tế. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi theo hướng đồng bộ, hiện đại và nhân văn, nhằm bảo đảm quyền riêng tư, tăng cường niềm tin xã hội và xây dựng hệ sinh thái y tế số an toàn, bền vững.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Tóm tắt: Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn nhiều bất cập trong quy định và tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.

Theo dõi chúng tôi trên: