Thứ ba 06/10/2026 16:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số trao đổi xung quanh những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã

Bài viết tập trung phân tích những bất cập, vướng mắc của quy định pháp luật hiện hành về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã. Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.

Công chức cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng, họ là những người trực tiếp triển khai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào trong cuộc sống. Đồng thời, công chức cấp xã là những người gần dân, nắm được những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, là những người sẽ thay mặt nhân dân phản ánh những tâm tư, nguyện vọng đó tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, pháp luật đã quy định những tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ quy định về Công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn (Thông tư số 06/2012/TT-BNV) để đội ngũ này có thể thực hiện tốt được nhiệm vụ của mình, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới của đất nước, tạo cơ sở pháp lý để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay, những quy định trên cần có những thay đổi cho phù hợp với thực tế.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một số quy định của pháp luật hiện nay về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã để trao đổi và trên cơ sở đó đóng góp ý kiến đối với các quy định đó như sau:

Một là, tiêu chuẩn về trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của công chức cấp xã, là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn. Tuy nhiên, theo quy định của Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV thì trình độ văn hóa của công chức cấp xã là phải tốt nghiệp trung học phổ thông.

Bên cạnh đó, Thông tư này cũng cho phép căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định giảm một cấp về trình độ văn hóa (tức là tốt nghiệp trung học cơ sở) đối với công chức làm việc tại xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã theo quy định (điểm a khoản 3 Điều 2).

Theo tác giả, hiện nay, trình độ dân trí ngày càng cao, nước ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì thế, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã là hết sức quan trọng, họ phải là những người đề ra kế hoạch để thực hiện từng mục tiêu, đồng thời lại là người tổ chức, quản lý quá trình thực hiện và gương mẫu thực hiện những mục tiêu đó. Vì thế, quy định trình độ văn hóa như trên là không phù hợp, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của công chức cấp xã, nên quy định về trình độ văn hóa là phải tốt nghiệp trung học phổ thông, không nên có quy định ngoại lệ.

Hai là, về trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn được hiểu là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Đó là những kiến thức mà nhà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp. Theo Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định thì trình độ chuyên môn của công chức cấp xã là phải tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm.

Tuy nhiên, Thông tư cũng cho phép căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định giảm một cấp về trình độ chuyên môn (tức là chỉ cần tốt nghiệp sơ cấp) đối với công chức làm việc tại xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã theo quy định (điểm a khoản 3 Điều 2).

Theo tác giả, quy định như trên là không phù hợp với thực tiễn hiện nay. Vì thế, đề nghị quy định trình độ chuyên môn là phải tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm. Không nên có quy định ngoại lệ. Nếu cho phép trình độ sơ cấp đối với công chức làm việc tại xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì sẽ càng khó khăn hơn trong việc phát huy vai trò của công chức cấp xã, không nâng cao được hiệu lực, hiệu quả trong quá trình quản lý đối với những xã này.

Ba là, về lý luận chính trị

Lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trường quan điểm của công chức cấp xã. Có trình độ lý luận chính trị sẽ giúp xây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, với sự tác động không nhỏ của nền kinh tế thị trường bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực tới cuộc sống của mỗi người, trong đó, có công chức cấp xã thì việc giữ vững quan điểm, lập trường một cách đúng đắn của người công chức cấp xã là vấn đề rất quan trọng. Thực tế đã có không ít những cán bộ, công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng đã có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định tiêu chuẩn của công chức cấp xã thì công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.

Vậy, sau khi - tức là sau đó bao lâu, thời gian cụ thể như thế nào thì chưa được quy định rõ, còn chung chung. Vì thế, có những công chức sắp đến tuổi về hưu vẫn chưa hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chúng ta cũng không thể áp dụng biện pháp xử lý được. Đồng thời, theo quy định của pháp luật, những đối tượng đủ điều kiện được tham gia đào tạo trung cấp lý luận chính trị thì phải tốt nghiệp trung học phổ thông (hoặc tương đương) trở lên nhưng về trình độ văn hóa đã được đề cập ở trên thì theo quy định có thể giảm một cấp nếu công chức làm việc tại xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vậy thì sau khi tuyển dụng, muốn được đào tạo lý luận chính trị thì phải đáp ứng chuẩn về văn hóa trước rồi mới được tham gia đào tạo về lý luận chính trị.

Tác giả đề nghị chúng ta cần quy định cụ thể sau khi tuyển dụng - tức là sau đó thời gian bao nhiêu lâu thì phải hoàn thành, nếu không hoàn thành thì có quy định biện pháp xử lý cụ thể như thế nào. Đồng thời, phải đáp ứng yêu cầu như đã trình bày về trình độ văn hóa phải là tốt nghiệp trung học phổ thông. Có như vậy, công chức cấp xã mới khẩn trương, nghiêm túc thực hiện để đáp ứng được chuẩn về lý luận chính trị theo quy định.

Bốn là, về kiến thức quản lý nhà nước

Công chức cấp xã thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, đây là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Vì thế, để thực hiện được chức năng này, đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý hành chính nhà nước thì mới có được kỹ năng, phương pháp quản lý. Thực tế cho thấy, có những công chức cấp xã rất nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết nhưng thiếu kiến thức quản lý thì năng lực hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế.

Theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định thì công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.

Vậy, sau khi - tức là sau đó bao lâu, cũng chưa có quy định cụ thể, vì thế, có những công chức cấp xã đã có thái độ ỷ lại, không nghiêm túc thực hiện quy định này để đáp ứng chuẩn theo quy định.

Vì thế, tác giả cũng đề nghị cần quy định cụ thể sau khi tuyển dụng - tức là sau đó thời gian bao nhiêu lâu phải hoàn thành, nếu không hoàn thành thì có quy định biện pháp xử lý cụ thể như thế nào.

Năm là, về tiếng dân tộc thiểu số

Công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là người gần dân, sát dân; là người phải biết lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, Thông tư số 06/2012/TT-BNV cũng quy định: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công (điểm đ khoản 1 Điều 2).

Như vậy, việc quy định công chức cấp xã ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó là một điều rất phù hợp, vì nếu ở những địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số mà công chức cấp xã không biết tiếng dân tộc thiểu số sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, quy định như vậy còn chung chung, sau khi tuyển dụng là sau bao nhiêu lâu chưa được quy định cụ thể nên có nhiều công chức cấp xã cũng gần đến tuổi về hưu mà không biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác.

Như vậy, cũng như những quy định trên, tác giả đề nghị chúng ta nên quy định cụ thể về thời gian sau khi tuyển dụng là thời gian bao lâu để mỗi công chức cấp xã phải thực hiện nghiêm túc quy định này.

Sáu là, về độ tuổi

Với những tiêu chuẩn mà tác giả phân tích ở trên theo hướng sửa đổi thì độ tuổi công chức cấp xã phải được nâng lên cho phù hợp, chứ không thể theo quy định như Thông tư 06/2012/TT-BNV là đủ 18 tuổi trở lên. Theo tính toán về cơ học thì độ tuổi của công chức cấp xã phải từ 20 tuổi trở lên.

Lê Thị Thắm

Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: