Thứ sáu 23/10/2026 09:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội

Khi nói đến nhân thân người phạm tội là nói đến đặc điểm và dấu hiệu về cá nhân của người thực hiện hành vi phạm tội. Trong lịch sử đã có nhiều quan điểm về nhân thân người phạm tội, cụ thể:

1. Một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội

Khi nói đến nhân thân người phạm tội là nói đến đặc điểm và dấu hiệu về cá nhân của người thực hiện hành vi phạm tội. Trong lịch sử đã có nhiều quan điểm về nhân thân người phạm tội, cụ thể:

- Quan điểm duy tâm: Giải thích nguồn gốc hành vi của con người nói chung, hành vi phạm tội của người phạm tội nói riêng chịu sự điều chỉnh của đấng siêu nhân, của lực lượng vô hình không tồn tại trong hiện thực khách quan. Thời kỳ 1500 năm trước Công nguyên, người ta cho rằng nguyên nhân phát sinh tội phạm là do chúa trời (God’ will)[1]. Vì vậy, giải thích nguồn gốc hành vi phạm tội của người phạm tội cũng xuất phát từ quan điểm duy tâm này. Hành vi của con người nói chung, hành vi phạm tội của người phạm tội nói riêng chịu sự điều chỉnh của đấng siêu nhân, của lực lượng vô hình không tồn tại trong hiện thực khách quan”.

- Thuyết nhiễm sắc thể: Thuyết nhiễm sắc thể nghiên cứu gen của cơ thể con người, tìm ra mối quan hệ giữa nhiễm sắc thể giới tính và hành vi lệch lạc. Người đầu tiên nghiên cứu theo hướng này là một học giả người Anh tên là Patricia Jacobs, bà là người đầu tiên đưa ra kiểu nhiễm sắc thể thứ 47 liên quan đến hành vi phạm tội. Thuyết nhiễm sắc thể tội phạm thì nghiên cứu về nhiễm sắc thể và đưa ra kết luận: Người phạm tội là người có đột biến nhiễm sắc thể (có nhiễm sắc thể thứ 47) đã tạo ra tính cách hung hãn trong cuộc sống và sẽ thực hiện tội phạm. Theo thuyết nhiễm sắc thể, nguyên nhân của tội phạm là do người phạm tội đã có kiểu nhiễm sắc thể bất thường so với người bình thường khác. Một người bình thường có kiểu nhiễm sắc thể XY đối với nam, XX đối với nữ. Qua nghiên cứu một số mẫu tù nhân ở Anh, Patricia Jacobs nhận thấy số tù nhân nam có kiểu nhiễm sắc thể XYY, số tù nhân nữ có kiểu nhiễm sắc thể XXX chiếm một tỉ lệ đáng kể trong số tù nhân khảo sát. Những người có kiểu nhiễm sắc thể như vậy gọi là hội chứng Kilinefelter[2]. Như vậy, các nhà tội phạm học tư sản đã xuất phát từ quan điểm sinh học, cho rằng tội phạm có tính chất chống xã hội bẩm sinh, một trong những động lực thúc đẩy tội phạm là do ảnh hưởng di truyền. Với nhận định như vậy thì một bộ phận con người sinh ra là để trở thành tội phạm. Còn những nhà duy tâm thì coi tội phạm là do đấng bề trên quy định.

- Khác với các quan điểm của các nhà duy tâm cũng như các quan điểm của các nhà tư bản, học thuyết Mác - Lênin khẳng định: Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhưng không hề phủ nhận mặt tự nhiên, cái sinh học trong việc xác định bản chất con người. Đồng thời bản chất con người không phải là cái duy nhất, cố định bất biến mà là cái chung nhất, sâu sắc nhất và có tính lịch sử cụ thể. Trong khi nhấn mạnh bản chất xã hội của con người phải nhận thấy cái xã hội không thể tách rời cái sinh học, mặc dù, cái xã hội chiếm vị trí cơ bản trong bản chất con người. Nguyên nhân dẫn tới việc phạm tội của con người là kết quả của sự tác động qua lại giữa phẩm chất tâm lí tiêu cực với môi trường xã hội tiêu cực. Nhân thân con người phạm tội hoàn toàn không mang tính chất bẩm sinh, mà là đặc điểm được quy định về mặt xã hội, được thể hiện đi ngược lại với các chuẩn mực và lợi ích xã hội. Theo đó, tội phạm do con người gây ra, song nó không xuất hiện cùng với con người trong xã hội, tức là trong lịch sử xã hội loài người, tội phạm chỉ xuất hiện trong một điều kiện nhất định[3].

Không ai trong chúng ta sinh ra lại muốn trở thành kẻ phạm tội, kể cả những người phạm tội và đang chịu hình phạt, nhưng con người hoàn toàn có nguy cơ trở thành tội phạm bởi các phẩm chất tâm lý không vững vàng cùng với sự tác động của môi trường sống bất lợi. Hành vi phạm tội không phải là hành vi tất yếu xảy ra đối với bất cứ ai. Chính vì lẽ đó mà hình phạt đối với người phạm tội luôn mang tính chất phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Mác viết “một cái gì đó lớn hơn trong con người kẻ phạm pháp… Chẳng phải là mỗi người công dân đã gắn liền với Nhà nước bằng hàng nghìn sợi dây thần kinh sống đó sao, và lẽ nào Nhà nước lại có quyền cắt đứt toàn bộ các sợi dây thần kinh nào trong số đó”[4]. Bởi vậy, nhân thân người phạm tội cũng tại một phần bản thân xã hội đã tạo ra nó, và như thế xã hội mà đại diện là Nhà nước phải có trách nhiệm với việc này. Qua phân tích, chúng ta thấy rằng, nói đến nhân thân người phạm tội là nói đến nhân thân của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách có lỗi. Ngoài trường hợp này chúng ta không thể sử dụng cụm từ này.

Qua phân tích, tác giả cho rằng nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội.

2. Nhân thân người phạm tội theo số lượng người phạm tội đã bị xét xử trong bản án có hiệu lực pháp luật

Nhân thân bị cáo và nhân thân người phạm tội là hai khái niệm khác nhau. Nhân thân bị cáo, bị can hoặc người bị tạm giữ là những thuật ngữ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, tùy vào các giai đoạn tố tụng hình sự. Cụ thể ở đây đối với bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tương tự vậy khi có quyết định khởi tố bị can thì gọi là bị can. Còn khái niệm nhân thân người phạm tội thì khác, bởi vì nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học nên nó được coi là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội. Hay nói cách khác, nhân thân người phạm tội là cái toàn bộ phản ánh đặc điểm của người phạm tội, cả về mặt thời gian và không gian. Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể nghiên cứu, cũng như phạm vi nghiên cứu mà chúng ta xem xét đánh giá mức độ khác nhau giữa hai khái niệm này như thế nào. Qua số liệu thống kê các vụ án đã xét xử sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ ra rằng, số lượng bị cáo bị tuyên không có tội chiếm tỉ lệ rất ít, cụ thể giai đoạn 1986-1988 tỉ lệ này là 0,28%, giai đoạn 1989 - 1991 là 0,37%, giai đoạn 1997 - 1999 là 0,12%, giai đoạn 2001 - 2003 là 0,05%[5], đối với tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2015 tỷ lệ này là 0%[6]. Vì vậy, nhân thân bị cáo và nhân thân người phạm tội dưới góc độ tội phạm học trong đề tài nghiên cứu được hiểu cùng một nghĩa. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có thể chia thành hai nhóm: Nhóm các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học; nhóm các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự. Để thấy rõ vai trò, vị trí và mức độ ảnh hưởng cụ thể của các đặc điểm nêu trên đối với quá trình hình thành nhân cách người phạm tội như thế nào, dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nhóm đặc điểm đó.

Từ định nghĩa trên rút ra mô hình lý luận về các đặc điểm mà mỗi công trình nghiên cứu nhân thân người phạm tội cần phải làm rõ trong nghiên cứu của mình. Thống nhất 03 nhóm đặc điểm cụ thể như sau:

Một là, đặc điểm tự nhiên

Khi nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên của người phạm tội chính là việc chúng ta nghiên cứu về độ tuổi, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và nơi thường trú của người phạm tội. Tùy thuộc vào các công trình nghiên cứu khác nhau mà các đặc điểm tự nhiên này ở người phạm tội được đặt ra nghiên cứu. Qua nghiên cứu tình hình tội phạm ở Nam Định giai đoạn 2006 - 2015 thấy rằng, người phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định đều là người có quốc tịch Việt Nam và chủ yếu là dân tộc Kinh. Còn các dấu hiệu khác, chúng ta có thể chỉ ra một số nét chủ yếu của những dấu hiệu thường thấy khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội như sau:

- Dấu hiệu về giới tính: Thực tế qua công tác nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta cũng như các nước trên thế giới đã cho thấy số lượng giữa nam giới và nữ giới phạm tội có khác nhau, nam giới thường phạm tội nhiều hơn so với nữ giới. Tỷ lệ trung bình nữ giới phạm tội giao động trong khoảng 10 đến 12% mỗi năm trong tổng số người phạm tội[7]. Nhưng đó là số liệu khảo sát trước năm 1999, gần đây thì kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ này là từ 6 - 10%[8], ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2015 số bị cáo là nữ giới chiếm 5,94% tổng số bị cáo[9]. Việc nam giới phạm tội nhiều hơn nữ giới không phải do đặc điểm sinh lý của nam giới khác với nữ giới, mà là do những điều kiện hình thành phẩm chất cá nhân và sự tiếp nhận giáo dục của nam giới có những đặc điểm khác với nữ giới. Nam giới và nữ giới đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp nhận giáo dục, đồng thời họ cùng có khả năng nhận thức như nhau. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu “trọng nam khinh nữ” đang tồn tại trong nhiều gia đình. Nam giới thường nhận được sự nuông chiều nhiều hơn. Nghiên cứu các đặc điểm giới tính của người phạm tội là nam giới đã chỉ ra, nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội và dễ hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, trạng thái tâm lý tiêu cực hơn so với nữ giới. Điều này cũng có nghĩa là, tổ chức phòng ngừa tội phạm trong xã hội cần tập trung nhiều vào nam giới là điều cần thiết.

- Dấu hiệu về độ tuổi: Độ tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong đặc điểm nhân thân người phạm tội. Dấu hiệu về độ tuổi của người phạm tội cho phép nói lên các đặc điểm xử sự trái xã hội của những người ở những độ tuổi khác nhau, cũng như tính chất riêng biệt của cơ cấu về độ tuổi của các nhóm người phạm tội khác nhau. Nghiên cứu thực tế cho thấy rằng, tội phạm do người có độ tuổi từ 18 - 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất so với những người ở các nhóm độ tuổi khác, sau đó là những người ở trong độ tuổi trung niên từ 31 - 45 tuổi, sau nữa là những người chưa thành niên từ 14 - 18 tuổi và cuối cùng là những người trên 45 tuổi…[10]. Kết quả nghiên cứu ở tỉnh Nam Định cho thấy, số bị cáo là người chưa thành niên chiếm 4,08 %, khảo sát trong 217 bản án với 502 bị cáo tỉ lệ này là 10,35%, số lượng bị cáo phạm tội ở tuổi chưa thành niên chủ yếu là tội trộm cắp tài sản chiếm tới 92,3% số bị cáo ở độ tuổi này phạm tội; số bị cáo ở độ tuổi trẻ em chiếm 0,37%; số bị cáo từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm 12,71%; số bị cáo phạm tội trên 30 tuổi chiếm 84,45% tổng số bị cáo[11]. Sự khác nhau trong cơ cấu tội phạm do những người phạm tội ở độ tuổi khác nhau thực hiện có sự ảnh hưởng nhất định trong quá trình xã hội hóa con người, sự hình thành nhân cách trong từng giai đoạn phát triển của mỗi cá nhân.

- Dấu hiệu về nơi cư trú: Nơi cư trú, nơi sinh sống có ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng phạm tội nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng. Bản chất nơi cư trú đã chứa đựng các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa đặc thù. Nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới cho thấy, tỷ lệ tội phạm thường tập chung ở các thành phố lớn, như ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2015, riêng TP. Nam Định tỷ lệ tội phạm chiếm 41,52%[12]. Xét về cơ số tội phạm theo số dân cũng như theo diện tích địa lý thì cơ số tội phạm ở các thành phố lớn vẫn chiếm đa số. Ở các địa phương cũng vậy, tỷ lệ tội phạm cao thường diễn ra ở những vùng có kinh tế phát triển, có nhiều nơi vui chơi, giải trí. Trong những năm gần đây, tội phạm ở nông thôn cũng không ngừng gia tăng cả về số hành vi phạm tội, số bị cáo và số vụ án. Tính chất các vụ án ngày càng phức tạp hơn, nguy hiểm hơn, các vụ án có đồng phạm cũng gia tăng không ngừng.

Hai là, đặc điểm xã hội

Nghiên cứu đặc điểm xã hội của nhân thân người phạm tội, chính là việc chúng ta nghiên cứu các nội dung gắn bó mật thiết với người phạm tội như trình độ học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo - tín ngưỡng, sở thích (nghiện rượu, ma túy, game...), khuynh hướng giá trị, hoàn cảnh gia đình, công trạng, danh hiệu. Có thể nói đặc điểm xã hội của người phạm tội là rất nhiều, bài viết xin phân tích một số đặc điểm điển hình của người phạm tội trên cở sở nghiên cứu tình hình tội phạm ở tỉnh Nam Định, như:

- Dấu hiệu về trình độ học vấn: Trình độ học vấn cũng phản ánh sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng với các chuẩn mực xã hội. Vì vậy, trình độ văn hóa của con người có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội. Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, năm 1990 có 44% người phạm tội có trình độ văn hóa cấp I trở xuống, 48% người phạm tội đang học giở cấp II, 2.3% người phạm tội đang học dở cấp III [13]. Còn ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2015, số bị cáo có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống chiếm tỷ phần cao nhất với hơn 69,9 %[14]. Như vậy, rõ ràng trình độ văn hóa và hành vi phạm tội của chủ thể có mối quan hệ với nhau.

- Dấu hiệu về nghề nghiệp: Nghề nghiệp của người phạm tội có vị trí quan trọng khi phân tích đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Địa vị xã hội cao và nghề nghiệp ổn định sẽ tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhân cách con người, đồng thời bảo đảm cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các mâu thuẫn xã hội mà trực tiếp là kinh tế khi cần thiết. Thông thường khi trình độ văn hóa thấp thì sẽ khó kiếm được một công việc ổn định và có thu nhập ổn định. Không có tay nghề, chuyên môn nào đó thì rất khó tìm được việc, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay. Khi đã không có nghề nghiệp thì không có vị trí trong xã hội. Đa số những người phạm tội là những người không có nghề nghiệp ổn định, không có địa vị trong xã hội; đa số những người phạm tội thuộc thành phần lười lao động, lười học tập, chỉ muốn sống dựa dẫm vào người khác, ăn bám vào người khác, mong muốn giàu có nhưng không có thực lực, họ chỉ mong và bằng mọi cách kiếm ra tiền nhanh nhất mà không cần phải lao động. Tuy nhiên, sự thành thạo nghề nghiệp có thể giúp người phạm tội phát hiện được những sơ hở của pháp luật để “lách luật”, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra. Nghiên cứu đặc điểm nghề nghiệp cho thấy, giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội đi liền với vấn đề giáo dục, vấn đề đào tạo nghề nghiệp cho người lao động, tạo cho họ có khả năng lao động, nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân và giáo dục nhân cách phù hợp với đạo đức, quy tắc, nếp sống xã hội là điều quan trọng nhất. Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần tập trung vào những loại nghề nghiệp nhất định có khả năng thực hiện tội phạm, vào từng loại người nhất định để đề ra các biện pháp phòng ngừa thích hợp, có hiệu quả nhất.

Qua nghiên cứu giai đoạn 2006 - 2015, ở tỉnh Nam Định cho thấy, có tới 19,5% bị cáo không có nghề nghiệp; 25,9 % bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Số bị cáo thuộc đối tượng này còn chiếm tỉ lệ cao ở tỉnh Nam Định, chủ yếu là ở tội đánh bạc chiếm 39,5%, tội phạm về ma túy chiếm 27,2%, tội trộm cắp tài sản chiếm 17,5%, còn lại là tội cướp tài sản chiếm 15,8%[15]. Tỉ lệ đối tượng phạm tội là người không có nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu tội phạm cho thấy, tình trạng thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự địa phương.

- Dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình: Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, dẫn đến họ sẽ có tính chống đối xã hội, và có những hành vi đi ngược với các chuẩn mực xã hội. Chính yếu tố gia đình trong đa số trường hợp đã kích thích tính tích cực của mỗi thành viên, đồng thời gia đình giữ vai trò kiểm sát, giám sát hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong mỗi con người. Nghiên cứu những tội phạm được thực hiện bởi người chưa thành niên phạm tội thì có 32,3% sống trong hoàn cảnh gia đình nghèo đói; 27,7% các em có bố mẹ ly hôn hoặc ly thân; 24,7% có bố hoặc mẹ đã chết; 9,2% các em có bố hoặc mẹ ngoại tình, 70% các em sống trong gia đình đông con[16]. Như vậy, tình trạng gia đình có ảnh hưởng đến những đặc điểm nhân thân của người phạm tội.

Ba là, đặc điểm hành vi phạm tội

Khi xét về đặc điểm động cơ, mục đích của người phạm tội thể hiện trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi phạm tội, nó thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Khi thực hiện một tội phạm bất kỳ, chủ thể luôn có những động cơ và mục đích nhất định, đó là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Động cơ, mục đích là suy nghĩ bên trong, nó xuất hiện trong suy nghĩ của chủ thể trước khi chủ thể thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong Bộ luật Hình sự. Động cơ được hiểu là động cơ bên trong thúc đẩy sự hành động của chủ thể, còn mục đích là cái mong muốn đạt được của chủ thể khi thực hiện hành vi. Đặc điểm này luôn gắn với những nhóm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, như nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu thì mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tại sản của người khác, hoặc nhóm tội về ma túy với mục đích siêu vụ lợi.

Như vậy, nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng là biện pháp để bảo vệ quyền con người trong đó có người phạm tội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có một ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu rõ các đặc điểm về nhân thân có tính chất đặc biệt mà người bình thường không có, cơ chế hình thành các đặc điểm đó, hay nói cách khác là nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm, nguyên nhân của tình hình tội phạm thuộc yếu tố về chủ thể người thực hiện hành vi phạm tội; đâu là nhân tố liên quan tới việc hình thành và thúc đẩy các phẩm chất tiêu cực của con người, khiến họ có hành động đi ngược lại với các chuẩn mực, các lợi ích xã hội; Nhà nước sẽ làm gì để hạn chế những phẩm chất tiêu cực này và sâu xa hơn nữa là Nhà nước, cả hệ thống chính trị và xã hội phải làm gì để tạo ra một môi trường tích cực toàn diện, mục đích là không cho những phẩm giá tiêu cực của chủ thể có môi trường tiêu cực để thực hiện hành vi phạm tội, qua đó cũng tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục chủ thể có phẩm chất tâm lý tiêu cực trước khi họ phạm tội. Đó cũng là nội dung của chiến lược phòng ngừa sớm trong lí luận tội phạm học nói chung, nội dung chiến lược phòng ngừa sớm cũng đang được Đảng và Nhà nước ta tích cực triển khai thực hiện trên diện rộng[17].

ThS. Vũ Văn Anh
Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định


[1] PGS.TS Dương Tuyết Miên (2013),Tội phạm học đại cương, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.47.

[2] Wikepedie Tiếng Việt.

[3] PGS.TS Phạm Văn Tỉnh (2007), Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 37-54.

[4] Mác - Anghen, tập 1, tr.132.

[5] Phạm Văn Tỉnh (2004), Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, tr.111.

[6] Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[7] Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.146.

[8] Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.194.

[9] Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[10] Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr195.

[11]Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[12] Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[13]Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (2000), Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.107.

[14]Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[15] Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[16] Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr152.

[17] Xem PGS.TS Phạm Văn Tỉnh (2014), “Nội dung của chiến lược phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam hiện nay - nhận thức và lý luận”, Tạp Chí nhân lực khoa học xã hội (3).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: