Thứ năm 15/10/2026 21:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở ở Tây Bắc hiện nay

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tập trung đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ. Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tập trung đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ. Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đề cao quyền của người dân; phát huy dân chủ; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần và nội dung Hiến pháp năm 2013 là yêu cầu hết sức quan trọng. Để thực hiện điều đó, cần có nguồn nhân lực vững về chuyên môn, am hiểu pháp luật và có phẩm chất đạo đức tốt. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới là một trong những nhiệm vụ cần đặc biệt quan tâm, bởi cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới hiện nay.

Tây Bắc là khu vực có đặc điểm đặc biệt về lịch sử, văn hóa, xã hội và đời sống pháp luật. Tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền, góp phần thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để hoàn thành nhiệm vụ của ngành, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực tư pháp cơ sở nói riêng cho vùng Tây Bắc cần phải được nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện để xây dựng mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng riêng, sát hợp với đối tượng, nhằm tạo ra nguồn nhân lực vững về pháp luật, giỏi về kỹ năng, tốt về đạo đức.

1. Một số nét cơ bản về Tây Bắc

Tây Bắc Việt Nam được đề cập trong bài viết là không gian địa lý bao gồm địa bàn 04 tỉnh: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình; nằm ở phía Tây của miền Bắc Việt Nam, diện tích đất tự nhiên là 3.732,4 ha, với nhiều đồng bào thuộc các dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

1.1. Về văn hóa, xã hội

Tây Bắc là nơi có văn hóa nổi bật và đa dạng do là khu vực có nhiều dân tộc cùng cư trú. Ở đây có sự hiện diện của trên 20 dân tộc thiểu số, chiếm trên 80% dân số toàn vùng và là vùng có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao nhất so với các vùng khác trên toàn quốc. Người Thái và H’Mông là những nhóm cư dân sinh sống lâu đời, có số lượng lớn nhất trong toàn vùng. Tương ứng với 20 dân tộc, có ngôn ngữ, chữ viết, hệ thống luật tục truyền thống với những nét đặc sắc riêng. Xét một cách tổng thể, đây là khu vực chịu ảnh hưởng đậm nét về các mặt hoạt động kinh tế, quản lý xã hội, sinh hoạt văn hóa của người Thái và người H’Mông. Nếu coi văn hóa Tây Bắc như một ngôi nhà lớn có hai tầng là tầng một (vùng thấp), tầng hai (vùng cao), thì gương mặt văn hóa vùng thấp khoác trên mình tấm áo của văn hóa Thái với một mảnh can Mường khá lớn; còn văn hóa vùng cao khoác trên mình tấm áo của văn hóa H’Mông với mảnh can Dao[1].

1.2. Về kinh tế, an ninh, trật tự

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Tây Bắc, kinh tế vùng Tây Bắc đạt mức tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người trên năm đạt 30,75 triệu đồng; đời sống dân cư trong vùng cơ bản ổn định; các chính sách hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ sản xuất, miễn giảm học phí, thăm hỏi giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai, thiếu đói, giáp hạt được cứu trợ kịp thời. An ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội cơ bản ổn định, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững. Hoạt động đối ngoại được tăng cường; hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, đổi mới cả về công tác lãnh đạo và phương thức hoạt động[2]. Đến nay, mặc dù đã có nhiều cải thiện về mọi mặt, tuy nhiên, thực tế kinh tế Tây bắc vẫn nằm trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, thu nhập còn tương đối thấp so với bình quân của cả nước; hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, hạ tầng y tế, giáo dục...

Tình hình an ninh - trật tự còn diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng các thế lực thù địch lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bộ phận nhỏ người dân, lôi kéo, kích động tụ tập đông người gây rối nhằm chống phá khối đại đoàn kết dân tộc; hoạt động của các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy có vũ trang ngày càng có nhiều thủ đoạn tinh vi, manh động gây bức xúc và lo lắng trong quần chúng nhân dân.

1.3. Về giáo dục, đào tạo

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, toàn khu vực có 1.638 cơ sở đào tạo phổ thông. Tổng số học sinh đi học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông là 919.695 người, trong đó có 713.568 học sinh là người dân tộc thiểu số, chiếm 77,5% tổng số học sinh toàn vùng. Đặc biệt là có hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú được các tỉnh trong khu vực đầu tư, tổ chức đào tạo. Tây Bắc có 01 trường đại học (Trường Đại học Tây Bắc ở Sơn La), 10 trường cao đẳng (Trường Cao đẳng Cộng đồng Điện Biên, Lai Châu; Trường Cao đẳng Sơn La; Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên, Sơn La; Trường Cao đẳng Y tế Điện Biên, Sơn La; Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật - Du lịch Tây Bắc; Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, Hòa Bình), 02 trường trung cấp nghề (Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật - Du lịch Sơn La, Trường Trung cấp Luật Tây Bắc). Trường Trung cấp Luật Tây Bắc là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp có chức năng đào tạo, liên kết đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực pháp luật cho khu vực Tây Bắc và nước CHDCND Lào, là chủ thể chính trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực pháp luật cho khu vực. Số giáo viên dạy nghề ở Tây Bắc là 1.678 người (Điện Biên: 267 người; Lai Châu: 283 người; Sơn La: 779 người; Hòa Bình: 349 người)[3].

Tây Bắc là vùng có tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết chữ thấp nhất trong toàn quốc. Trong khi tỷ lệ trung bình người trên 15 tuổi biết chữ trên toàn quốc là 95,1% thì tỷ lệ này ở Lai Châu chỉ là 62,5%, ở Sơn La là 76,6%, ở Điện Biên là 76,1% và duy nhất Hòa Bình có tỷ lệ cao hơn bình quân chung cả nước với 97,5%. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo còn rất thấp: Tỷ lệ trung bình chung của cả nước là 21,1% thì ở Tây Bắc: Điện Biên là 14,7%, Sơn La là 14,7%, Lai Châu là 15,2%, Hòa Bình là 16,9%[4].

Mặc dù đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho giáo dục, cùng với sự nỗ lực cố gắng của các cấp chính quyền địa phương, giáo dục và đào tạo của Tây Bắc những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên đến nay về cơ bản thì giáo dục, đào tạo của Tây Bắc vẫn còn rất nhiều hạn chế. Tỷ lệ người chưa biết chữ còn cao so với cả nước, số người được đào tạo chuyên môn tay nghề cao còn rất ít. Điều này đã, đang ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

1.4. Về giao thông

Tây Bắc có 01 đường bay và sân bay trong nước ở Điện Biên. Về đường bộ, có các tuyến quốc lộ số 6 (Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên)[5], số 32 (Hà Nội - Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu), số 279 kết nối các quốc lộ nêu trên theo hướng từ Tây Bắc sang Đông Bắc. Quốc lộ 4D và 12 nối liền cửa khẩu Lào Cai và Tây Trang (Điện Biên). Thời gian gần đây, hệ thống giao thông đã được cải thiện nhiều hơn so với trước, tuy nhiên, việc đi lại, vận chuyển hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn, chi phí cao.

Tình trạng vi phạm luật giao thông còn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận người dân do ý thức pháp luật chưa cao, điển hình là các hành vi như đi xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm; sử dụng phương tiện giao thông quá niên hạn; phóng nhanh, vượt ẩu… Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do nhận thức của người dân nhưng nguyên nhân không kém phần quan trọng là công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực hiện tốt vì thiếu nguồn nhân lực pháp luật trong lĩnh vực này.

2. Khái niệm nguồn nhân lực tư pháp cơ sở và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở

2.1. Nguồn nhân lực tư pháp cơ sở

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “nguồn nhân lực”. Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”[6]. Theo Giáo trình Nguồn nhân lực của tác giả Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”[7].

Nguồn nhân lực tư pháp cơ sở trong bài viết này được hiểu là lực lượng được đào tạo, bồi dưỡng để có trình độ, kiến thức pháp luật, năng lực làm việc hoặc tiềm năng tham gia công việc tư pháp ở cơ sở, duy trì và phát triển lĩnh vực này.

2.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở

Hiện nay, các thuật ngữ “đào tạo”, “bồi dưỡng” và “đào tạo - bồi dưỡng” được sử dụng khá rộng rãi. Theo Từ điển tiếng Việt, đào tạo - đó là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng - đó là làm cho (i) tăng thêm sức cho cơ thể bằng chất bổ và (ii) tăng thêm năng lực và phẩm chất[8]. Hoặc đào tạo - đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; bồi dưỡng là làm cho (i) khỏe thêm, mạnh thêm và (ii) tốt hơn, mạnh hơn[9]. Trong văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay, đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc[10]. Vì vậy, trong bài viết này, khái niệm đào tạo, bồi dưỡng sẽ sử dụng chung không tách rời và sử dụng với tất cả các loại hình đào tạo, bồi dưỡng.

Trên thực tế, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhân lực pháp luật rất khó phân chia thành đào tạo hoặc bồi dưỡng, bởi lẽ, giữa đào tạo nhân lực pháp luật và bồi dưỡng nhân lực pháp luật có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau. Tuy thể hiện dưới dạng ngôn từ khác nhau, xong về cơ bản, các quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp đều chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho đối tượng đào tạo, bồi dưỡng, có chung mục tiêu là làm cho nguồn nhân lực tư pháp có trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hiện công việc được tốt hơn. Kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng là đối tượng học tập có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp nhất định và đồng thời để cho họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có để phát huy hết năng lực làm việc của họ. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề cho những người có trình độ, kiến thức, năng lực làm việc hoặc tiềm năng tham gia công việc tư pháp ở cơ sở, duy trì và phát triển lĩnh vực này.

3. Đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở ở Tây Bắc

Quá trình đào tạo, bồi dưỡng được cấu thành bởi các yếu tố sau: Mục đích đào tạo, bồi dưỡng; chủ thể, đối tượng của đào tạo, bồi dưỡng; nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng. Ở Tây Bắc, quá trình đào tạo, bồi dưỡng cũng bao gồm các thành tố chung như trên, tuy nhiên, để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả và sát thực, ở Tây Bắc có những nét riêng, cụ thể là:

3.1. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là định hướng cơ bản, xuyên suốt, là cái phải đạt được của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Mục tiêu đó là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, hoạt động nghề nghiệp, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chuyên nghiệp trong chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển của đất nước. Ở Tây Bắc thời gian qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng còn nhằm mục đích làm chuyển biến trong nhận thức, tạo lập nhận thức, thói quen sử dụng Hiến pháp, pháp luật làm chuẩn mực để giải quyết các công việc của Nhà nước và giải quyết tranh chấp, vi phạm pháp luật, thay vì giải quyết bằng luật tục, lệ luật theo cách mà hàng nghìn năm nay bà con các dân tộc Tây Bắc vẫn thường hành xử.

3.2. Chủ thể đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở

Chủ thể đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở là các cơ quan, tổ chức có chức năng thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Ở Tây Bắc thời gian qua và suốt chiều dài lịch sử, với đặc thù là vùng đa dân tộc sinh sống, đặc biệt là việc đồng bào các dân tộc dùng ngôn ngữ, chữ viết riêng, nên khi pháp luật, chính sách muốn thấm sâu vào đông đảo quần chúng luôn cần thông qua đội ngũ trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng để chuyển tải từ ngôn ngữ phổ thông sang tiếng dân tộc thiểu số, chắt lọc những nội dung cần chuyển tải đến nhân dân một cách ngắn gọn. Đây cũng là đặc điểm đặt ra yêu cầu riêng đối với công chức, viên chức làm việc ở khu vực Tây Bắc phải học thêm tiếng dân tộc thiểu số. Những người có chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số được sử dụng thay cho chứng chỉ ngoại ngữ khi tham gia thi tuyển, nâng ngạch. Các chủ thể thực hiện hoạt động đào tạo cũng có trách nhiệm thường xuyên học tập phong tục, tập quán, nghiên cứu luật lục các dân tộc để vận dụng vào việc giảng dạy, khai thác các tinh hoa văn hóa trong luật tục, bài trừ mê tín, dị đoan, các quy định trái pháp luật.

3.3. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở

Nội dung kiến thức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở bao gồm: (i) Quy định của Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật khác; (ii) Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế khác; (iii) Hệ thống tri thức chi phối trực tiếp đến ngành nghề đào tạo và công việc của đối tượng đào tạo, bồi dưỡng như nghị quyết của Đảng, kiến thức về quản lý nhà nước, các chính sách an sinh xã hội, phong tục tập quán, kỹ năng giải quyết công việc.

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng gồm: (i) Kỹ năng cứng: Kỹ năng giải quyết các vấn đề về công tác hành chính; xử lý khiếu nại, tố cáo, vi phạm hành chính; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải tranh chấp; soạn thảo văn bản; lập các biên bản, quyết định của cơ quan hành chính, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án; có khả năng phục vụ ở các cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các doanh nghiệp; (ii) Kỹ năng mềm: Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng làm việc theo nhóm, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng độc lập trong giải quyết tình huống, sử dụng cơ bản về tin học, tiếng Anh[11].

Việc biên soạn nội dung, chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng do các chủ thể đào tạo, bồi dưỡng thực hiện theo quy trình được quy định bởi pháp luật. Tùy theo hình thức, trình độ đào tạo, bồi dưỡng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng mà có sự khác nhau ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khác nhau. Thời gian đào tạo, khung chương trình được quy định bởi Luật Giáo dục, Luật Đào tạo nghề, nghị định của Chính phủ đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của các bộ, ngành chuyên môn và chính quyền địa phương. Tuy nhiên, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tư pháp cơ sở ở Tây Bắc cần lưu ý bổ sung các vấn đề như luật tục, văn hóa, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc; hay kể cả các nội dung theo chuẩn đào tạo, bồi dưỡng chung cũng nên thiết kế cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của đồng bào dân tộc thiểu số.

3.4. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng

Hình thức đào tạo, bồi dưỡng là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng luật gồm: Đào tạo pháp luật của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật; bồi dưỡng kiến thức pháp luật thông qua các hoạt động của các chủ thể có chức năng bồi dưỡng pháp luật và chủ thể thực hiện các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn của mình như: Giáo dục, phổ biến pháp luật thông qua phương tiện thông tin đại chúng; các cơ quan, tổ chức có chức năng phổ biến pháp luật trực tiếp; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử... Điểm đặc biệt trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở Tây Bắc là các cơ quan truyền thông các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình có thêm chương trình phát thanh, truyền hình (trong đó có cả chương trình pháp luật) bằng tiếng dân tộc Thái, H’Mông, Dao, Mường. Hàng năm, ngân sách các tỉnh Tây Bắc đều bố trí kinh phí cho công chức, viên chức tham gia các lớp học tiếng dân tộc thiểu số để vận dụng trong công việc.

Ngoài ra, do đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của người dân, hình thức đào tạo, bồi dưỡng tại Tây Bắc không nhất thiết phải là ở bậc đại học. Các chương trình đào tạo nghề ở bậc trung cấp, cao đẳng cần được chú trọng. Điều đó sẽ phù hợp với cả việc tuyển sinh nguồn đầu vào, khả năng tiếp thu kiến thức của học viên và nhu cầu của xã hội tại khu vực phía Bắc.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội, để công tác đào tạo, bồi dưỡng ở khu vực Tây Bắc đạt hiệu quả cao hơn, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị sau:

Một là, đa dạng hóa mô hình đào tạo theo hướng chú trọng đào tạo ở bậc trung cấp, cao đẳng, mở rộng đào tạo liên thông đại học để các học viên sau khi học trung cấp, cao đẳng, tùy trình độ chuyên môn, yêu cầu công việc và khả năng tài chính sẽ học tiếp theo dạng vừa học, vừa làm. Như vậy, sẽ giải quyết được vấn đề tài chính còn nhiều khó khăn của con em đồng bào dân tộc, đồng thời gắn kết giữa “học và hành”, đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Hai là, cần phân loại ngay từ đầu vào trên cơ sở kết quả khảo sát và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của vùng để định hướng ngành học cho học viên. Khắc phục tình trạng nhu cầu nhân lực pháp luật thì có nhưng người được đào tạo không phù hợp. Tình trạng thiếu thì vẫn thiếu mà thừa lại vẫn thừa còn khá phổ biến ở khu vực Tây Bắc.

Ba là, cần nghiên cứu đổi mới chương trình đào tạo, chú trọng đào tạo nghề hơn là kiến thức pháp luật chung chung. Đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo được yêu cầu học viên sau khi ra trường phải tiếp cận ngay được với công việc theo đúng định hướng nghề nghiệp đã chọn. Nói theo cách thông thường là đào tạo theo cách “cầm tay chỉ việc”.

Bốn là, do đặc thù khu vực Tây Bắc có đông đồng bào dân tộc sinh sống, nhiều trường hợp con em đồng bào dân tộc mới chỉ hoàn thành chương trình trung học cơ sở, điều này sẽ rất khó khăn cho việc tiếp cận các bậc học cao hơn như trung cấp, cao đẳng, đại học. Cần thí điểm mô hình liên kết đào tạo nguồn nhân lực pháp luật theo hướng các cơ sở đào tạo từ trung học phổ thông liên kết với trung cấp, cao đẳng, đại học để định hướng ngành học và xây dựng chương trình học liên thông ngay từ đầu. Điều này khắc phục được tình trạng các trường trung cấp, cao đẳng vừa phải “dạy chữ” vừa phải “dạy nghề” như hiện nay, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực không cao.

ThS. Lò Châu Thỏa

Hiệu trưởng Trường Trung cấp Luật Tây Bắc





[1]. Hà Dũng Hải (2011), ý thức xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam và sự tác động của nó đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng này hiện nay, Luận án Tiến sỹ triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2]. Thanh Sơn (2017), “Ban Chỉ đạo Tây Bắc kết thúc hoạt động vào ngày 31/3/2018”, http://www.nhandan.com.vn, đăng ngày 25/12/2017.

[3]. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2017, Hà Nội.

[4]. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2017, Hà Nội.

[5]. Nguyễn Quý Thao, Lê Thông (tái bản lần thứ 5 có chỉnh lý năm 2018), Tập bản đồ địa lý 12, Hà Nội, Nxb. Giáo Dục, tr. 23.

[6]. WB. World Development Indicators. - London: Oxford, 2000.

[7]. Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình Nguồn nhân lực. Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội.

[8]. Hoàng Phê (chủ biên) (2010), Từ điển bách khoa, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội.

[9]. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2018), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[10]. Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức.

[11]. Quyết định số 165/QĐ-TCLTB ngày 11/10/2017 của Trường Trung cấp Luật Tây Bắc về ban hành chương trình đào tạo trình độ trung cấp nghề của Trường Trung cấp Luật Tây Bắc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.

Theo dõi chúng tôi trên: