Thứ ba 10/03/2026 10:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp

Tóm tắt: Nguồn nhân lực trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách pháp luật và triển khai các nhiệm vụ của Ngành Tư pháp. Bài viết này đề cập việc hoàn thiện hệ thống thể chế về tuyển dụng, sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

Tóm tắt: Nguồn nhân lực trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách pháp luật và triển khai các nhiệm vụ của Ngành Tư pháp. Bài viết này đề cập việc hoàn thiện hệ thống thể chế về tuyển dụng, sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

Abstract: Human resources in the field of law and justice play an important role in formulating and completing legal policies and implementing the tasks of the Justice Branch. This article deals with the improvement of the institutional system on recruitment and employment; training and fostering to improve the capacity of ethnic minority cadres, civil servants and public employees.

1. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp

Trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện thể chế, ban hành nhiều chính sách, văn bản tổ chức thực hiện nhằm phát triển nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số (DTTS).

Nguồn nhân lực, theo nghĩa chung nhất, là những người tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, lĩnh vực kinh doanh hoặc nền kinh tế. Dưới góc độ chất lượng, là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội.

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp được xác định dựa trên chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp và Ngành Tư pháp, bao gồm: Xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, bồi thường nhà nước; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạt hành chính.

Tính đến ngày 31/12/2019, Ngành Tư pháp có 37.675 biên chế cán bộ, công chức, viên chức, trong đó, Bộ Tư pháp trực tiếp quản lý 10.891 biên chế. Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn quản lý chuyên môn, nghiệp vụ các cơ quan tư pháp địa phương với 25.244 công chức, viên chức (các Sở Tư pháp có 4.305 công chức, viên chức, người lao động; các Phòng Tư pháp cấp huyện có 2.848 công chức; công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã có 18.091 người). Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp còn theo dõi, quản lý công tác pháp chế với số lượng 8.546 người (các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có 4.173 người; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có 2.242 người, các doanh nghiệp nhà nước có 1.801 người). Đồng thời, trong tiến trình thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ công tác tư pháp, xuất hiện nhiều lĩnh vực bổ trợ tư pháp như công chứng, đấu giá, thừa phát lại, luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý nên Bộ Tư pháp còn thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước đối với hàng chục nghìn người thuộc đối tượng này[1].

Theo số liệu gần đây nhất, cả nước có 4.250 công chức, viên chức làm việc tại các Sở Tư pháp, 2.826 công chức làm việc tại Phòng Tư pháp và 17.687 công chức tư pháp - hộ tịch[2].

Trong Ngành Tư pháp, tỷ lệ cán bộ người DTTS tính đến năm 2020 là 7,2% (784/10.871), đứng thứ 02 trong 33 đầu mối bộ, ngành.

2. Tiêu chuẩn đối với người làm việc trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp

Nhân lực trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp bao gồm trước hết là công chức, viên chức với tiêu chuẩn chung được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Cán bộ, công chức) và Luật Viên chức năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Một trong những nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức là: Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ (Điều 5 Luật Cán bộ, công chức). Thông qua đó, có thể định hình các thành tố của chất lượng công chức, thể hiện ở các nhóm tiêu chuẩn.

Theo tinh thần của Luật Cán bộ, công chức, tiêu chuẩn công chức là cơ sở cho việc xây dựng chức danh công chức; là căn cứ cho các việc: Tuyển dụng (Điều 37), bổ nhiệm (Điều 42), chuyển ngạch (Điều 43), nâng ngạch (Điều 44), đào tạo, bồi dưỡng (Điều 47). Tương tự đối với viên chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm, hợp đồng làm việc là cơ sở để tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức.

Thông tư số 02/2021/TT-BNV đã được Bộ Nội vụ ban hành ngày 11/6/2021 để quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư (Thông tư số 02/2021/TT-BNV). Trong đó, đã quy định các tiêu chuẩn chung về phẩm chất, điều kiện về chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng. Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đáng lưu ý là các tiêu chuẩn: Có khả năng tham gia xây dựng và hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách, quy định về quản lý nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực hoặc địa phương công tác; có khả năng tham gia nghiên cứu phục vụ quản lý và xử lý thông tin quản lý; có kỹ năng soạn thảo văn bản và thuyết trình các vấn đề được giao tham mưu, đề xuất; có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ ở trình độ tương đương bậc 3 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc sử dụng được tiếng DTTS đối với công chức công tác ở vùng DTTS theo yêu cầu của vị trí việc làm và tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng.

Bên cạnh Luật Cán bộ, công chức, tiêu chuẩn đối với những chức danh công chức chuyên ngành và chức danh hành nghề trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp được các luật chuyên ngành xác định cụ thể (Luật Hộ tịch, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Thi hành án dân sự, Luật Công chứng…).

Nhìn chung, tiêu chuẩn của công chức trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp và kể cả các chức danh hành nghề trong cùng lĩnh vực do Ngành Tư pháp quản lý hầu hết là những quy định áp dụng chung, không có quy định riêng cho nhân lực là người DTTS. Riêng tiêu chuẩn “sử dụng được ngoại ngữ ở trình độ tương đương bậc 4 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc sử dụng được tiếng DTTS đối với công chức công tác ở vùng DTTS theo yêu cầu của vị trí việc làm” được quy định riêng cho một nhóm công chức theo Thông tư số 02/2021/TT-BNV.

Tiêu chuẩn của một số nhóm công chức hoặc chức danh trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp được quy định trong một số văn bản chuyên ngành. Trong đó, nên nghiên cứu sửa đổi một số quy định cụ thể như sau:

- Tại Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố (Thông tư số 13/2019/TT-BNV), tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức cấp xã nói chung được xác định là: Tốt nghiệp đại học trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã (Điều 1). Đồng thời, giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên đối với công chức làm việc tại các xã: Miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Khi sửa đổi Thông tư số 13/2019/TT-BNV, nên thể hiện rõ đặc thù của nhân lực Ngành Tư pháp về tiêu chuẩn trình độ đào tạo như Điều 72 Luật Hộ tịch năm 2014. Qua đó, tạo điều kiện cho việc sử dụng, bố trí công chức cấp xã là người DTTS.

- Tương tự với điều kiện để bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý theo Thông tư liên tịch số 08/2016/TTLT-BTP-BNV ngày 23/6/2016 của Bộ tư pháp, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức trợ giúp viên pháp lý, yêu cầu trợ giúp viên pháp lý phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và có thời gian làm công tác pháp luật từ 02 năm trở lên, kể cả thời gian tập sự, thử việc (Điều 5). Như vậy, vừa không phù hợp với Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và vừa không thực sự cần thiết với công việc chuyên môn của chức danh nói trên.

3. Sử dụng và nâng cao chất lượng công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật

Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ, có thể được xác định trên phạm vi của một địa phương, một ngành hay một vùng; được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng, trong đó, chất lượng đóng vai trò quyết định.

Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn…

Chất lượng của công chức, viên chức là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức người DTTS có thể khái quát ở: Phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực; trình độ; phong cách làm việc; sức khỏe và độ tuổi; mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ thể hiện ở khối lượng công việc; hiệu quả công tác.

3.1. Về tuyển dụng

Các quy định hiện hành đã dành ưu tiên nhất định cho người DTTS và kể cả những đối tượng khác dự tuyển vào công chức ở các vùng có đồng bào DTTS. Qua đó, đáp ứng chủ trương tăng số lượng công chức DTTS.

Người DTTS được ưu tiên trong thi tuyển hoặc xét tuyển, cụ thể là được cộng 5 điểm vào kết quả điểm vòng 2 (Điều 5 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 138/2020/NĐ-CP), Điều 6 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định số 115/2020/NĐ-CP)).

Người thi tuyển được miễn phần thi ngoại ngữ nếu có chứng chỉ tiếng DTTS hoặc là người DTTS, trong trường hợp dự tuyển vào công chức công tác ở vùng DTTS (Điều 8 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP). Tương tự như vậy với thi nâng ngạch công chức, quy định tại Điều 37 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP.

Nghị định số 138/2020/NĐ-CP xác định đối tượng được tuyển dụng vào công chức theo hình thức xét tuyển, bao gồm: Người cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học; sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng (Điều 10).

Tổng kết công tác dân tộc nhiệm kỳ 2016 - 2021, nhiều ý kiến cho rằng, cần có chính sách đặc thù để sử dụng người trong nhóm DTTS rất ít người có trình độ đại học trở lên, tạo nguồn cán bộ, không cào bằng về trình độ, về chất lượng trong tương quan với các dân tộc khác để đến năm 2030, dân tộc nào cũng có cán bộ tham gia trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Bên cạnh đó, còn có đề xuất về việc hình thành cơ chế tuyển dụng riêng cho người DTTS thay vì cộng 5 điểm ở vòng 2.

Nghị định số 138/2020/NĐ-CP đã quy định chính sách ưu đãi trong tuyển dụng công chức (khoản 1 Điều 5) là cộng 5 điểm vào kết quả điểm vòng 2.

Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực người DTTS, theo tinh thần đẩy mạnh phân cấp, có thể giao cho cơ quan quản lý công chức ở địa phương quyết định một cách linh hoạt cộng thêm một số điểm ưu tiên nữa vào kết quả điểm vòng 2 (không quá 5 điểm) cho người dự tuyển theo nguyên tắc:

- Cộng tối đa 5 điểm trong trường hợp địa bàn cấp tỉnh đáp ứng một trong ba tiêu chí: (i) Có trên 20.000 người DTTS sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; (ii) Có dưới 5.000 người DTTS đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; (iii) Có đồng bào DTTS sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào DTTS nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.

- Đối với cấp huyện, cộng tối đa 5 điểm khi có một trong hai tiêu chí sau: (i) Có ít nhất 5.000 người DTTS đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; (ii) Có đồng bào DTTS sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào DTTS nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.

Tương tự như vậy với việc tuyển dụng viên chức theo điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP..

Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc đã quy định chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí đối với đồng bào DTTS cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Điều 18). Quá trình thực hiện cho thấy, để bảo đảm thi hành các quy định nói trên, cần tăng cường số lượng trợ giúp viên pháp lý là người DTTS để có thể vừa đáp ứng các tiêu chuẩn theo Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, vừa biết tiếng DTTS. Khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05/2011/NĐ-CP nêu trên, nên lưu ý giải pháp tăng cường số lượng trợ giúp viên pháp lý là người DTTS và biết tiếng DTTS. Đối với báo cáo viên phổ biến, giáo dục pháp luật, bổ sung quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân dân các địa phương phát huy sự tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật của người biết tiếng DTTS, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS.

3.2. Về đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách

Pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đã được hoàn thiện thời gian vừa qua. Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật (Điều 174).

Với đặc thù về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực pháp luật và tư pháp, rất cần duy trì các trường luật thuộc Bộ Tư pháp, trong đó có Trường Cao đẳng Luật miền Bắc, Trường Cao đẳng Luật miền Trung. Vai trò của các trường cao đẳng này trong bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp nên được làm rõ như những dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí, chi phí đi lại từ nơi làm việc đến nơi học tập (Điều 10).

Theo tinh thần nâng chỉ số phát triển giới của Luật Bình đẳng giới và chính sách về công tác dân tộc, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ chủ động bố trí từ nguồn kinh phí chi thường xuyên và nguồn kinh phí khác để hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức là nữ, là người DTTS được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng (Điều 36 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ).

Bên cạnh hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, đối với công chức pháp chế được tuyển dụng, bổ nhiệm vào tổ chức pháp chế ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế đã quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề tại Điều 11, Điều 12 (đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn để áp dụng chính sách đãi ngộ này). Khi sửa đổi tổng thể Nghị định số 55/2011/NĐ-CP nêu trên, nên lưu ý một số nội dung: (i) Về việc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 9), nên quy định trách nhiệm của các cơ quan sử dụng công chức pháp luật và tư pháp bảo đảm bố trí việc làm tương ứng, phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu tổ chức các sở hiện nay; (ii) Về người làm công tác pháp chế (Điều 11), nên làm rõ chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề của công chức, cán bộ và viên chức pháp chế (Điều 12) trong bối cảnh cải cách tiền lương một cách tổng thể; (iii) Về việc thu hút người DTTS vào công vụ nói chung, trong đó có Ngành Tư pháp, nên làm rõ tính chất của hợp đồng làm việc được ký kết theo chế độ ưu đãi.

Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức người DTTS trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật về cơ bản thực hiện trên cơ sở các quy định chung của Ngành Tư pháp, trong đó, Ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp địa phương đóng vai trò quan trọng. Từ đó, cần tăng cường trách nhiệm của các địa phương về công tác quy hoạch (trong đó có rà soát, dự nguồn quy hoạch chức danh lãnh đạo chủ chốt), đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, các chức danh trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, nhất là lực lượng trẻ, người DTTS.

TS. Hoàng Thị Ngân
Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và công vụ, Văn phòng Chính phủ
ThS. Hoàng Xuân Hoan
Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. https://tcnn.vn/news/detail/48630/Phat-trien-nhan-luc-xay-dung-phap-luat-va-to-chuc-thi-hanh-phap-luat-cua-nganh-Tu-phap.html, truy cập ngày 22/11/2021.

[2]. https://sotp.laichau.gov.vn/view/tin-tuc-su-kien/hoi-nghi-toan-quoc-trien-khai-cong-tac-tu-phap-nam-2022-60794?mid=606, truy cập ngày 31/12/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: