Thứ năm 10/09/2026 09:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu pháp luật của Việt Nam và của một số quốc gia về thành viên độc lập Hội đồng quản trị dưới góc độ so sánh. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị dựa trên những tham khảo từ pháp luật nước ngoài.

Abstract: The article studies the laws of Vietnam and some countries on independent members of the Board of Directors from a comparative perspective. From there, the author makes a number of proposals to amend and supplement the law on independent members of the Board of Directors based on references from foreign laws.

1. Quy định về thành viên độc lập trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia

Trong pháp luật của hầu hết các quốc gia, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý, điều hành của công ty cổ phần và người đứng đầu là Chủ tịch HĐQT. Đôi khi, Chủ tịch HĐQT cũng sẽ đồng thời kiêm Giám đốc điều hành. Tuy vậy, một số quy tắc quản trị công ty yêu cầu hoặc đặc biệt khuyến khích sự tách biệt giữa Chủ tịch và Giám đốc điều hành. Một trong những điểm tách biệt quan trọng chính là giữa thành viên HĐQT điều hành và thành viên HĐQT không điều hành (hay thành viên bên ngoài). Thành viên điều hành là những người lao động nắm giữ vị trí quản lý trong công ty còn thành viên bên ngoài chỉ là thành viên HĐQT chứ không giữ vị trí gì khác trong công ty, nhất là các vị trí quản lý. Thành viên không điều hành hay thành viên bên ngoài được coi là “độc lập” khỏi công ty bởi họ không tham gia vào hoạt động thường ngày của công ty và thù lao trả cho họ thường không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty[1].

Một số quốc gia còn yêu cầu công ty cổ phần phải có hai HĐQT, một hội đồng chỉ có các thành viên điều hành và sẽ được giám sát bởi hội đồng thứ hai gồm những thành viên không phải là người điều hành công ty. Như vậy, có thể có 02 loại thành viên HĐQT, đó là: (i) Thành viên là người lao động của công ty và là người điều hành công ty; (ii) Thành viên không điều hành công ty. Những thành viên HĐQT không điều hành công ty có thể đại diện cho những nhà đầu tư, chủ nợ hoặc không có mối liên quan trước đó nào với công ty. Ví dụ, họ có thể làm trong lĩnh vực, ngành nghề hoàn toàn khác và được bổ nhiệm vào HĐQT vì chuyên môn hoặc sự độc lập của họ. Đôi khi, những thành viên không điều hành này được gọi là thành viên ngoài công ty, mặc dù họ có thể đã từng làm việc cho công ty trong một thời gian dài trước khi trở thành thành viên ngoài công ty[2].

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về thành viên không điều hành hay thành viên độc lập. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập và yêu cầu số lượng thành viên độc lập tối thiểu. Còn Luật Chứng khoán năm 2019 cũng chỉ yêu cầu HĐQT của công ty đại chúng phải bảo đảm sự cân đối giữa các thành viên HĐQT điều hành và không điều hành, số lượng thành viên HĐQT độc lập để bảo đảm tính độc lập của HĐQT (điểm a khoản 3 Điều 41).

1.1. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên độc lập

Tính độc lập được định nghĩa một cách chung chung trong Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh (UK Corporate Governance Code) thông qua việc liệt kê những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính độc lập. Tuy vậy, HĐQT có thể quyết định một thành viên không điều hành là thành viên độc lập kể cả khi thành viên đó không đáp ứng được một trong những tiêu chuẩn trên nếu HĐQT đưa ra được “giải thích rõ ràng”[3]. Việc một thành viên đại diện cho một cổ đông lớn của công ty có phải là thành viên độc lập vẫn còn là câu hỏi gây tranh cãi. Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh khá nghiêm ngặt trong vấn đề này, cụ thể, thành viên HĐQT đại diện cho một cổ đông lớn sẽ không được coi là thành viên độc lập. Ngược lại, một số quốc gia như Pháp hoặc Tây Ban Nha lại có chính sách mềm dẻo hơn. Các nhà làm luật sợ rằng việc quy định tính độc lập quá cứng nhắc sẽ làm giảm số lượng những ứng cử viên phù hợp để trở thành thành viên HĐQT.

Sàn giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange - NYSE) có định nghĩa tính độc lập là thành viên đó không trực tiếp hoặc gián tiếp có quan hệ sở hữu với công ty. Tương tự như Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh, định nghĩa được bổ sung bởi những yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của thành viên độc lập như là người lao động của công ty trong vòng 03 năm liền trước, được trả thù lao đáng kể ngoài thù lao của thành viên HĐQT, là vợ/chồng hoặc là người làm việc cho kiểm toán viên của công ty. Tuy vậy, có sự khác biệt đáng kể giữa pháp luật Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, đó là: (i) Nếu thành viên không đáp ứng được một trong các tiêu chuẩn trên, thành viên đó không phải là thành viên độc lập, HĐQT không có quyền quyết định về vấn đề này; (ii) Việc là một cổ đông lớn hoặc đại diện cho một cổ đông lớn không ảnh hưởng đến tính độc lập của thành viên. Các nhà làm luật Hoa Kỳ giải thích rằng, mối quan tâm của họ là sự độc lập với vấn đề điều hành công ty chứ không phải độc lập với các cổ đông lớn của công ty. Ở Hoa Kỳ và thậm chí cả ở Anh, kể cả những cổ đông lớn cũng chưa chắc sẽ có tầm ảnh hưởng chi phối trong công ty. Tiếng nói của các nhà đầu tư lớn ở HĐQT có thể nâng cao cơ chế giám sát trong điều hành công ty và do đó sẽ có lợi cho các cổ đông khác. Hơn nữa, nếu tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn và quan trọng bị đặt quá thấp, số lượng ứng cử viên phù hợp cho vị trí thành viên HĐQT độc lập sẽ giảm đi[4].

So với pháp luật của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, Bộ quy tắc quản trị công ty của Đức (German Corporate Governance Code) quy định về tính độc lập khá mở. Trong đó, tính độc lập được hiểu là không có quan hệ cá nhân hoặc kinh doanh với công ty, cơ quan điều hành của công ty, một cổ đông chi phối hoặc một công ty liên kết với cổ đông chi phối mà có thể dẫn dến xung đột lợi ích đáng kể hoặc tạm thời (Điều 5.4.2).

Định nghĩa “tính độc lập” trong pháp luật Cộng hòa Pháp lại có điểm tương đồng với pháp luật Vương quốc Anh, cụ thể, theo một nguyên tắc chung, một thành viên HĐQT sẽ được coi là độc lập nếu ý chí của thành viên đó không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ quan hệ nào với công ty, nhóm công ty hoặc cơ quan điều hành của công ty[5]. Định nghĩa chung này được mở rộng bởi các tiêu chuẩn như không có quan hệ lao động với công ty trong vòng 05 năm liền trước, không phải khách hàng, nhà cung cấp, chủ ngân hàng quan trọng của công ty hoặc có quan hệ gia đình với một thành viên điều hành[6]. Tuy vậy, các tiêu chí trên không phải là yếu tố quyết định. HĐQT của công ty vẫn có thể quyết định một thành viên không phải là thành viên độc lập vì một lí do nào đó dù thành viên này đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về tính độc lập. Ngược lại, một thành viên không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cũng vẫn có thể trở thành thành viên độc lập nếu đó là quyết định của HĐQT. Ngoài ra, pháp luật Cộng hòa Pháp cũng yêu cầu thành viên độc lập phải không có sự liên kết với cổ đông lớn của công ty, mặc dù không có định nghĩa thế nào là một cổ đông lớn[7].

Theo quy định của Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020, bên cạnh những yêu cầu chung với tất cả thành viên HĐQT như không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty, thành viên độc lập sẽ phải đáp ứng hai nhóm tiêu chuẩn và điều kiện riêng. Nhóm thứ nhất là các tiêu chuẩn, điều kiện về quan hệ tài sản nhằm bảo đảm rằng những quyết định của thành viên độc lập HĐQT không nhằm thu về những khoản lợi ích về tài sản cho chính cá nhân và người liên quan của họ, gồm: Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định; không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty. Nhóm thứ hai là các tiêu chuẩn, điều kiện về quan hệ nhân thân nhằm bảo đảm thành viên độc lập HĐQT không có bất kỳ mối liên hệ nào với công ty (bao gồm cả mối liên hệ với những cá nhân, tổ chức thuộc công ty) trong một khoản thời gian nhất định trước đó, gồm: Không phải là người đang làm việc hay đã từng làm việc (ít nhất trong 03 năm liền trước đó) cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người có quan hệ gia đình với cổ đông lớn của công ty, người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục hai nhiệm kỳ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định riêng về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập HĐQT trong tổ chức tín dụng nhưng vẫn giống với tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Tuy tính độc lập không phải là đặc điểm pháp lý của thành viên ngoài công ty nhưng để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả, những thành viên không điều hành này không những chỉ ở bên ngoài mà còn phải độc lập với hoạt động điều hành công ty. Trong trường hợp này, họ được gọi là thành viên HĐQT độc lập (independent non-executive directors). Mức độ độc lập sẽ tùy theo pháp luật của từng quốc gia nhưng thông thường, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên độc lập bao gồm: (i) Không phải là người đã từng làm việc cho công ty trong một khoảng thời gian nhất định trước khi trở thành thành viên độc lập; (ii) Không có quan hệ kinh doanh với công ty; (iii) Không có quan hệ gia đình với người điều hành công ty. Các thành viên không độc lập là các thành viên không điều hành và họ sẽ mất tư cách “độc lập” của mình nếu họ tham gia vào hoạt động điều hành công ty nhưng không phải tất cả thành viên không điều hành đều độc lập, ví dụ như luật sư của công ty có thể trở thành thành viên không điều hành chứ không thể trở thành thành viên độc lập[8].

1.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập

Như đã phân tích ở trên, các văn bản pháp luật về công ty ở nhiều quốc gia hiện vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các loại thành viên. Do vậy, về cơ bản, quyền của nghĩa vụ của thành viên độc lập cũng giống như quyền và nghĩa vụ của các thành viên khác trong HĐQT. Mặc dù vậy, vẫn có một số văn bản pháp luật về quản trị công ty có quy định cụ thể về nghĩa vụ của thành viên độc lập.

Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh yêu cầu các công ty cổ phần phải chỉ định một “thành viên độc lập cấp cao” để làm trung gian cho các vấn đề không thể giải quyết được thông qua trao đổi giữa Chủ tịch HĐQT, Giám đốc điều hành và các thành viên HĐQT khác (Điều 12). Thành viên độc lập cấp cao cũng phải tổ chức các buổi họp cho các thành viên không điều hành mà không có sự tham gia của các thành viên điều hành ngoại trừ Chủ tịch HĐQT và cả những buổi họp không có sự có mặt của Chủ tịch HĐQT để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của Chủ tịch[9].

Pháp luật của các quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ… thường nhắc đến hai nghĩa vụ quan trọng nhất của thành viên HĐQT, đó là “nghĩa vụ cẩn thận” (duty of care) và “nghĩa vụ trung thành” (duty of loyalty). Nghĩa vụ cẩn thận yêu cầu tất cả các thành viên HĐQT phải sử dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để thực hiện công việc. Tuy vậy, những thành viên HĐQT ngoài công ty hoặc thành viên độc lập thường có ít kiến thức và kinh nghiệm về công ty và lĩnh vực ngành nghề của công ty hơn. Do đó, họ có thể sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo một cách tiếp cận khác theo như lý lịch của họ chứ không giống như những thành viên HĐQT khác[10]. Đối với nghĩa vụ trung thành, về nguyên tắc, tất cả thành viên HĐQT không có nghĩa vụ với các cổ đông mà có nghĩa vụ với công ty. Nhưng pháp luật một số nước không coi việc đại diện cho một cổ đông lớn là yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập. Điều này có thể dẫn tới trường hợp một thành viên độc lập đại diện cho một cổ đông lớn có thể bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ này khi đưa ra quyết định của mình và gây ra xung đột lợi ích giữa công ty và cổ đông lớn đó.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn có liên quan đều quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên HĐQT nói chung. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật này không có quy định nào riêng về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT, không có quy định thể hiện sự khác biệt về quyền, nghĩa vụ giữa thành viên độc lập và các thành viên khác của HĐQT. Pháp luật hiện hành trao cho công ty cổ phần quyền được quy định trong điều lệ những nội dung về quyền, nghĩa vụ của HĐQT và thành viên HĐQT để bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật và thực tiễn quản trị nội bộ, bao gồm cả việc quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Nhưng khi rà soát, trên thực tế, ít có công ty quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Việc thiếu vắng những quy định này có thể dẫn đến những hệ lụy ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò, cũng như hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT trong cơ cấu quản trị của công ty cổ phần.

2. Một số đề xuất hoàn thiện quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Một là, về định nghĩa thành viên độc lập HĐQT: Pháp luật doanh nghiệp nên bổ sung định nghĩa về thành viên độc lập HĐQT theo hướng xác định rõ chức năng của chủ thể này, cụ thể là chức năng giám sát và kiểm soát hoạt động điều hành công ty. Qua đó, việc áp dụng các chế định về loại thành viên này trên thực tế sẽ thuận lợi hơn, đồng thời củng cố địa vị pháp lý của thành viên độc lập trong cơ cấu quản trị công ty.

Hai là, quy trình lựa chọn thành viên độc lập HĐQT: Thực tế, một cá nhân được đề cử làm thành viên độc lập bởi thành viên điều hành, các cổ đông chi phối, cổ đông lớn hoặc cổ đông có quyền kiểm soát thì thành viên đó khó có quan điểm độc lập. Đó là lý do vì sao việc xác định tính độc lập của một thành viên độc lập không thể chỉ căn cứ vào các tiêu chuẩn cơ học, mà còn phải căn cứ vào quy trình giới thiệu thành viên vào danh sách đề cử. Cụ thể, phải bảo đảm rằng các thành viên độc lập được đề cử bởi các tổ chức độc lập hoặc các tổ chức đại diện cho cổ đông nhỏ, cổ đông thiểu số.

Ba là, về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT: Vai trò của thành viên độc lập là rất quan trọng đối với hoạt động quản trị công ty. Việc quy định đặc thù về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm cho các thành viên này thể hiện được vai trò của mình trong hoạt động quản trị công ty, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông và sự phát triển của công ty. Điều đó có nghĩa là, không thể đồng nhất quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập với các thành viên khác trong HĐQT. Vì vậy, nên có những quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của của thành viên độc lập để thành viên này có thể thực hiện được vai trò của mình.

ThS. Nguyễn Đức Anh

Khoa Pháp luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Marco Ventoruzzo, Arad Reisberg, Pierre-Henri Conac, Sebastian Mock, Gen Gotō, Mario Notari, Comparative Corporate Law, American Casebook Series, 2015, p. 259.

[2]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Comparative Company Law, Oxford University Press, 2019, p. 286.

[3]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 320.

[4]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 321.

[5]. Điều 8.3 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[6]. Điều 8.4 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[7]. Điều 8.2 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[8]. Marco Ventoruzzo, Arad Reisberg, Pierre-Henri Conac, Sebastian Mock, Gen Gotō, Mario Notari, Comparative Corporate Law, American Casebook Series, 2015, p. 259.

[9]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 319.

[10]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 288.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: