Thứ ba 03/03/2026 07:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Từ khóa: giám sát; điều ước quốc tế; Quốc hội.

Abstract: The article studies, analyzes and evaluates some shortcomings and limitations in the supervision activities of the National Assembly of Vietnam regarding the implementation of international treaties, thereby making some recommendations and proposals to improve the legal framework, ensuring that the supervision of the implementation of international treaties is increasingly practical and effective.

Keywords: Supervision; international treaties; National Assembly.

Đặt vấn đề

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã luôn tích cực, chủ động tham gia ngày càng sâu, rộng vào các tổ chức, định chế quốc tế, ký kết nhiều điều ước quốc tế thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong bối cảnh đó, nếu coi việc ký kết các điều ước quốc tế là bước đi đầu tiên, mở đường cho Việt Nam “đến gần hơn” với quốc tế thì việc tuân thủ nghiêm ngặt “luật chơi chung” mới thực sự là bước đi thực chất để Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, góp phần khẳng định quyết tâm và củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Để công tác thực hiện điều ước quốc tế đi vào nền nếp, bên cạnh vai trò của các chủ thể trực tiếp thực hiện và bị tác động bởi điều ước quốc tế thì vai trò giám sát của Quốc hội đối với công tác này là đặc biệt quan trọng.

1. Trách nhiệm của các quốc gia trong việc tuân thủ điều ước quốc tế

Theo Điều 24 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 (Công ước Viên), việc thực hiện điều ước quốc tế được đặt ra kể từ khi điều ước quốc tế đó chính thức có hiệu lực. Ngoài ra, một số điều ước quốc tế hoặc một phần của một điều ước quốc tế được thực hiện trước ngày có hiệu lực trong các trường hợp: (i) nếu điều ước quốc tế đó có quy định; (ii) nếu những quốc gia tham gia đàm phán có thỏa thuận như thế bằng một cách khác (khoản 1 Điều 25 Công ước Viên). Để bảo đảm điều ước quốc tế được thực hiện nghiêm chỉnh, Công ước Viên đặt ra những nguyên tắc cơ bản sau: (i) nguyên tắc Pacta sunt servanda (mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành thiện chí); (ii) một bên không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do cho việc không thi hành một điều ước; (iii) những quy định của một điều ước sẽ không ràng buộc đối với các bên về mọi hành vi hay sự kiện xảy ra trước ngày điều ước đó có hiệu lực, trừ khi có một ý định khác xuất phát từ điều ước hoặc được thể hiện bằng một cách khác; (iv) một điều ước sẽ ràng buộc mỗi bên trong phạm vi toàn lãnh thổ của bên đó, trừ khi có một ý định khác xuất phát từ điều ước hoặc thể hiện bằng một cách khác (các điều 26, 27, 28, 29 Công ước Viên).

Thực tiễn quá trình xây dựng các điều ước quốc tế cho thấy, bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc về quyền, nghĩa vụ của các thành viên, cách thức triển khai, thực hiện các cam kết trong điều ước quốc tế thì hầu hết các văn kiện này đều quy định về biện pháp giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện điều ước quốc tế đó[1]. Việc giải quyết các bất đồng hay tranh chấp có thể được thực hiện bởi các hình thức khác nhau, tùy thuộc vào ý chí của các bên thống nhất trong quá trình xây dựng điều ước quốc tế, có thể là biện pháp hòa giải không có sự tham gia của bên thứ ba hoặc có thể bằng những thiết chế mạnh hơn như trọng tài, Tòa án. Theo đó, phần mở đầu của Công ước Viên đã khẳng định: “Những tranh chấp về các điều ước, cũng như những tranh chấp quốc tế khác, phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình và phù hợp với những nguyên tắc công lý và những nguyên tắc của pháp luật quốc tế”. Để cụ thể hóa tinh thần này, Điều 66 Công ước Viên đã đưa ra quy định về các thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh bằng biện pháp tư pháp, trọng tài và hòa giải.

Có thể thấy, nếu các quốc gia không thực hiện đúng, nghiêm chỉnh các cam kết tại các điều ước quốc tế mà mình là thành viên thì quốc gia đó hoàn toàn có thể phải đối mặt với những hậu quả pháp lý được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế. Chẳng hạn, phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (the International Court of Justice - ICJ) ngày 02/02/2018 về thiệt hại môi trường và bồi thường trong vụ kiện “Một số hoạt động do Nicaragua thực hiện tại khu vực biên giới”, vi phạm quy định của Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước RAMSAR năm 1971 mà hai bên là thành viên (Costa Rica kiện Nicaragua) với khoản bồi thường cho Costa Rica số tiền là 378.890,59 USD[2], đã trở thành phán quyết điển hình và là minh chứng rõ nét cho thấy tính chất nghiêm trọng, phức tạp của việc không tuân thủ “luật chơi chung” tại các điều ước quốc tế mà mỗi quốc gia là thành viên.

Ở khía cạnh khác, việc không thực hiện đầy đủ các cam kết tại các điều ước quốc tế còn làm ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia. Theo Tài liệu về điều khoản tham chiếu của nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (Asia/Pacific Group on Money Laundering - APG) quy định các quốc gia thành viên có trách nhiệm phải thực hiện 40 khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (Financial Action Task Force on Money Laundering - FATF)[3]. Do đó, Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của APG có trách nhiệm thực hiện thiện chí các khuyến nghị của FATF. Tuy nhiên, tháng 6/2023, FATF đã đưa Việt Nam vào Danh sách giám sát tăng cường (còn gọi là Danh sách Xám)[4], đồng thời, đưa ra 17 khuyến nghị hành động đối với Việt Nam để giải quyết các thiếu hụt trong cơ chế phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Việc Việt Nam bị đưa vào Danh sách Xám của FATF có thể dẫn đến những bất lợi nhất định trong cách nhìn nhận và đánh giá của quốc tế nói chung, đặc biệt, liên quan đến hoạt động đối ngoại, kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế của Việt Nam.

Như vậy, với tính chất như một công cụ pháp lý không thể thiếu để duy trì và cân bằng lợi ích giữa các quốc gia, “công thức chung” của việc ký kết các điều ước quốc tế là các quốc gia cần thực hiện tận tâm, thiện chí các cam kết quốc tế này. Theo đó, bất cứ hành vi vi phạm quy định điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng có khả năng khiến Việt Nam phải đối mặt với những rủi ro như: chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế đối với Việt Nam; chấm dứt tư cách thành viên của Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên quan; bị khởi kiện từ các chủ thể có quyền theo các điều ước quốc tế, đặc biệt, những điều ước quốc tế liên quan đến thương mại, đầu tư quốc tế hay bị ảnh hưởng xấu tới hình ảnh, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của việc thực hiện điều ước quốc tế, để bảo đảm cho tiến trình thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam được diễn ra đầy đủ, nghiêm chỉnh, công tác giám sát đã trở thành công cụ hiệu quả giúp Quốc hội kịp thời phát hiện các vi phạm hoặc sai sót trong thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp, khắc phục nhanh chóng những vấn đề vướng mắc, hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy pháp lý mà Chính phủ, Nhà nước có khả năng đối mặt, góp phần tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện các điều ước quốc tế

Trong những năm qua, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế bao trùm trên nhiều lĩnh vực và cấp độ khác nhau như điều ước quốc tế song phương, điều ước quốc tế đa phương; điều ước quốc tế khu vực, điều ước quốc tế toàn cầu. Từ việc chỉ tham gia với tư cách thành viên gia nhập, đến nay, Việt Nam đã tham gia với vai trò trực tiếp đàm phán, xây dựng các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, việc giám sát thực hiện các điều ước quốc tế của Quốc hội còn tồn tại một số hạn chế nhất định như:

Trong gần một thập kỷ, kể từ khi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016 có hiệu lực cho đến nay, về cơ bản, khuôn khổ pháp lý phục vụ cho việc thực hiện điều ước quốc tế nói riêng và giám sát hoạt động này nói chung ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế chưa thực sự được quan tâm đúng mức so với tầm quan trọng và ý nghĩa của nhiệm vụ này. Hiện, việc giám sát mới chủ yếu được thực hiện qua công tác đánh giá tính tương thích của pháp luật trong nước với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên hoặc chuẩn bị ký kết[5].

Về khía cạnh giám sát chuyên đề từ các Ủy ban của Quốc hội: hiện, chỉ có 01 chuyên đề giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên được thực hiện từ năm 2019 - 2020. Bên cạnh đó, một số chuyên đề giám sát do Ủy ban Đối ngoại Quốc hội thực hiện, như: việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia từ năm 2022 - 2024; các điều ước quốc tế giữa Việt Nam - Liên Bang Nga năm 2018; các thỏa thuận hợp tác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia; Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc giải quyết vấn đề di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước năm 2018.

Hiệu quả hoạt động giám sát thực hiện điều ước quốc tế của Quốc hội chưa cao xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, trình tự, thủ tục giám sát thực hiện điều ước quốc tế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng. Mặc dù, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có quy định về quy trình, thủ tục thực hiện quyền giám sát của Quốc hội nhưng đây là hoạt động giám sát nói chung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nên chưa thực sự phù hợp và còn gặp khó khăn trong giám sát thực hiện điều ước quốc tế. Ví dụ: Điều 7 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, trong đó, trình tự, thủ tục giám sát hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế tuân theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa có điều khoản quy định trực tiếp về vai trò của Quốc hội cũng như trình tự, thủ tục giám sát đối với việc thực hiện điều ước quốc tế.

Thứ hai, thẩm quyền chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế chưa thống nhất và cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan để thực hiện công tác này chưa được quy định rõ ràng, cụ thể:

- Về thẩm quyền chịu trách nhiệm giám sát: khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15 ngày 18/02/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15) quy định, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại có trách nhiệm giám sát các hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế. Trong khi đó, theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016, cơ quan có thẩm quyền giám sát việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Bên cạnh đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa quy định cụ thể về thẩm quyền của các cơ quan trong việc giám sát hoạt động này. Sự thiếu thống nhất trong các quy định về thẩm quyền dẫn đến việc thực hiện công tác giám sát chưa thực sự hiệu quả, các cơ quan được giao nhiệm vụ gặp nhiều lúng túng trong hiểu, thực hiện công việc được phân công.

- Về cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan: pháp luật chưa quy định đầy đủ về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đặc biệt là các Ủy ban của Quốc hội trong việc thực hiện công tác này. Ví dụ: Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15 chỉ giao Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế mà chưa quy định rõ ràng, cụ thể việc phân công, phối hợp giữa các Ủy ban của Quốc hội có liên quan trong giám sát đối với từng lĩnh vực khác nhau. Trên thực tế, những năm qua, số lượng điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và ký kết ngày càng nhiều[6], nội dung của các điều ước quốc tế ngày càng đa dạng, phức tạp và nhạy cảm như: các FTA thế hệ mới không chỉ liên quan đến vấn đề thương mại thuần túy mà còn liên quan đến những lĩnh vực phi thương mại như lao động, môi trường, nhân quyền...; các điều ước quốc tế với các cấp độ từ song phương, khu vực đến toàn cầu, bao trùm trên nhiều lĩnh vực khác nhau như quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, ngoại giao, môi trường, giáo dục... Với tính chất phong phú, phức tạp bao trùm trên nhiều lĩnh vực khác nhau của điều ước quốc tế, để công tác giám sát được thực hiện hiệu quả, kịp thời, việc phối kết hợp giữa các cơ quan hữu quan nói chung và các Ủy ban của Quốc hội nói riêng là thực sự cần thiết.

Thứ ba, quy định về phương thức giám sát thực hiện điều ước quốc tế chưa cụ thể, rõ ràng: Điều 7 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định trình tự, thủ tục giám sát hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế tuân theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, việc giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua nhiều cách thức, quy định khá tản mạn trong hệ thống pháp luật, chưa được hệ thống hóa rõ ràng. Điều này, làm cho các chủ thể giám sát lúng túng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến tính toàn diện, hiệu quả của hoạt động giám sát điều ước quốc tế.

Thứ tư, chưa có quy định về các tiêu chí để đánh giá kết quả hoạt động giám sát thực hiện điều ước quốc tế. Do đó, việc đánh giá, xem xét tính hiệu quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các chủ thể trực tiếp tham gia công tác giám sát điều ước quốc tế rất khó để lượng hóa.

Thứ năm, công tác giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế chưa thực hiện thường xuyên, mang nặng tính hình thức, chưa đi vào thực chất. Nguyên nhân một phần xuất phát từ việc Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa quy định cụ thể về thời gian định kỳ giám sát. Trong bối cảnh số lượng các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết ngày càng nhiều, để góp phần bảo đảm việc thực hiện các điều ước quốc tế được thực hiện hiệu quả, việc giám sát thực hiện điều ước quốc tế được xem là hoạt động mang tính đặc thù, đòi hỏi cần được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm kịp thời nhắc nhở, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc thực hiện công tác này.

Thứ sáu, nhận thức, năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ trực tiếp tham gia công tác giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế còn hạn chế. Do số lượng các điều ước quốc tế Việt Nam tham gia ngày càng nhiều, tính chất và mức độ phức tạp ngày càng cao đòi hỏi kỹ năng, trình độ chuyên môn của các cán bộ trực tiếp tham gia giám sát là rất lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, năng lực của các chủ thể này chưa thực sự đáp ứng yêu cầu; nhận thức về vị trí, vai trò của điều ước quốc tế chưa đầy đủ, rõ ràng.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về hoạt động giám sát thực hiện điều ước quốc tế, trong đó, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đặc biệt là Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, đối với các vấn đề cụ thể sau:

- Quy định rõ các chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) có thẩm quyền giám sát; vai trò, trách nhiệm, cơ quan thuộc Quốc hội được giao chủ trì thực hiện công tác giám sát, làm rõ vai trò phối hợp giữa các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, ngành và cơ quan có liên quan trong việc giám sát; trình tự, thủ tục thực hiện việc giám sát.

- Nghiên cứu bổ sung quy định thời gian định kỳ giám sát để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

- Quy định rõ các phương thức giám sát để bảo đảm tính rõ ràng, khả thi.

- Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả, mức độ hoàn thành trách nhiệm của các chủ thể trực tiếp tham gia giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, chẳng hạn, có thể căn cứ vào hai tiêu chí là mức độ hoàn thành nội dung công việc và tiến độ thực hiện nhiệm vụ, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho những đánh giá, giám sát tiếp theo nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp tham gia giám sát, đồng thời, phát hiện kịp thời những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện điều ước quốc tế.

Thứ hai, nâng cao năng lực, nhận thức, số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện hoạt động giám sát điều ước quốc tế. Để nâng cao chất lượng công tác điều ước quốc tế nói chung, giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế nói riêng không thể không nhắc đến yếu tố “con người”. Do đó, việc tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm cho các nhóm đối tượng này là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Thứ ba, về phạm vi giám sát điều ước quốc tế, trên thực tế, số lượng các điều ước Việt Nam tham gia ký kết ngày càng nhiều, vì vậy, để hoạt động giám sát đi vào thực chất, cần cân nhắc phân loại, ưu tiên, giới hạn số lượng các điều ước quốc tế đưa vào danh sách cần giám sát theo một số tiêu chí sau:

- Điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội theo khoản 1 Điều 29 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, như: điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; điều ước quốc tế về việc thành lập, tham gia tổ chức quốc tế và khu vực nếu việc thành lập, tham gia, rút khỏi tổ chức đó ảnh hưởng đến chính sách cơ bản của quốc gia về đối ngoại, quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, tiền tệ; điều ước quốc tế làm thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội; điều ước quốc tế có quy định trái với luật, nghị quyết của Quốc hội; điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký với người đứng đầu Nhà nước khác.

- Điều ước quốc tế được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ký theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, như: các điều ước quốc tế có quy định khác hoặc chưa được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, quy định trái pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc điều ước quốc tế mà việc thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội.

- Điều ước quốc tế khác theo ngành, lĩnh vực dự kiến được giám sát theo kế hoạch.

Kết luận

Trước bối cảnh thế giới có nhiều biến chuyển khó lường, điều ước quốc tế đã trở thành công cụ pháp lý đắc lực giúp cân bằng tối đa lợi ích giữa các quốc gia, góp phần duy trì hòa bình, an ninh thế giới. Là một phần không tách rời trong trật tự thế giới đa cực, Việt Nam luôn nỗ lựclàm tròn” vai trò, nghĩa vụ của mình với tư cách là quốc gia thành viên của các cam kết quốc tế. Theo đó, giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế là công việc cần thiết, cần được quan tâm, đầu tư thích đáng với mục tiêu góp phần thực hiện tốt hơn các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, từ đó, giúp nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời, giảm thiểu các rủi ro về pháp lý cũng như các rủi ro khác mà Việt Nam có thể phải đối mặt./.

Nguyễn Khánh Linh

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Chẳng hạn, Phần XV Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; Điều XVIII Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES); Điều 11 Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA) năm 1985; Điều 14 Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Nhà nước Ca-ta năm 2012, có hiệu lực đối với Việt Nam năm 2018; Điều 16 Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Lít-va về nhận trở lại công dân hai nước năm 2019…

[2]. Xem tại: https://www.iucn.org/news/world-commission-environmental-law/201804/icj-renders-first-environmental-compensation-decision-summary-judgment, truy cập ngày 14/7/2025.

[3]. Xem tại: https://apgml.org/about-us/documents/default.aspx, truy cập ngày 14/7/2025.

[4]. Theo FATF, Danh sách Xám còn được gọi là danh sách “Các khu vực pháp lý có rủi ro cao đang được giám sát chặt chẽ hơn” để xác định các quốc gia đang có những thiếu sót chiến lược trong chế độ chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố nhưng đã cam kết giải quyết những thiếu sót này. Các quốc gia trong Danh sách Xám phải chịu sự giám sát chặt chẽ hơn và phải xử lý những điểm yếu của mình trong khung thời gian đã thỏa thuận (xem tại: https://www.sanctionscanner.com/knowledge-base/fatf-blacklists-and-greylists-171, truy cập ngày 14/7/2025).

[5]. Ví dụ: Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), trong đó, lần đầu tiên, vấn đề trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định để phù hợp với yêu cầu của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng và Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 33/2024/NĐ-CP ngày 27/3/2024 quy định việc thực hiện Công ước Cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học,… Việc đánh giá khả năng gia nhập Nghị định thư chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường không; bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia cần phải so sánh, đối chiếu với các điều ước quốc tế khác trong cùng lĩnh vực mà Việt Nam là thành viên như Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

[6]. Trong năm 2023, Bộ Tư pháp đã thẩm định 50 điều ước quốc tế (tăng 56% văn bản so với cùng kỳ năm 2022), góp ý 331 điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu về điều khoản tham chiếu của nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG).

2. Bốn mươi Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), https://www.fatfgafi.org/content/dam/fatfgafi/recommendations/FATF%20Standards%20-%20 40%20Recommendations%20rc.pdf, truy cập ngày 14/7/2025.

3. Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) ngày 02/02/2018 về thiệt hại môi trường và bồi thường trong vụ kiện một số hoạt động do Nicaragua thực hiện tại khu vực biên giới, vi phạm quy định của Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước RAMSAR năm 1971 mà hai bên là thành viên (Costa Rica kiện Nicaragua), https://www.iucn.org/news/world-commission-environmental-law/201804/icjrenders-first-environmental-compensation-decision-summary-judgment, truy cập ngày 14/7/2025.

4. Quy chế hoạt động của Nhóm Châu Á- Thái Bình Dương về rửa tiền.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (435) tháng 8/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: