Thứ năm 15/10/2026 20:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý nhà nước về việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Hiện nay, bên cạnh Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

1 Bất cập trong pháp luật về quản lý nhà nước đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính và kiến nghị hoàn thiện

Một là, các văn bản pháp luật hiện hành chưa tập trung điều chỉnh nội dung quản lý nhà nước về biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Hiện nay, bên cạnh Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP), thì việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật sau: Nghị định số 112/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo TTHC và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (Nghị định số 112/2013/NĐ-CP); Nghị định số 17/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 17/03/2016 sửa đổi Nghị định 112/2013/NĐ-CP; Thông tư số 42/2010/TT-BCA của Bộ Công an ban hành ngày 04/11/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính; Luật Hải quan năm 2014; Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31/08/2015 quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật.

Tuy nhiên, nội dung quản lý nhà nước về biện pháp tạm giữ người theo TTHC hiện nay vẫn chưa được chú trọng, mà chỉ được coi như một nội dung trong quá trình triển khai thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nói chung. Ví dụ: Quyết định số 717/QĐ-TTg ngày 15/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; Quyết định số 1950/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan tư pháp địa phương”. Đầu năm 2016, Bộ Tư pháp cũng đã tiến hành kiện toàn “Tổ công tác liên ngành tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012”.

Ở các địa phương thì từ cuối năm 2015, nhiều Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành kế hoạch, quyết định, chỉ thị chỉ đạo về việc triển khai và tăng cường thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn trong năm 2016. Như vậy, cơ sở pháp lý cho việc triển khai thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì khá đầy đủ, nhưng riêng đối với biện pháp tạm giữ người theo TTHC thì chưa thực sự được quan tâm đúng mức, trong khi việc áp dụng biện pháp này dễ ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Hai là, việc ban hành văn bản hướng dẫn báo cáo thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa kịp thời

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định về việc thực hiện báo cáo tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo định kỳ 06 tháng và hàng năm. Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 2015, Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31/08/2015 quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật mới được ban hành. Tuy nhiên, ngay cả khi đã ban hành mẫu văn bản báo cáo nhưng nội dung báo cáo thống kê việc áp dụng biện pháp tạm giữ người cũng không rõ ràng (chỉ bao gồm nội dung số lượng quyết định tạm giữ người và chia thành hai cột: đối với người thành niên và chưa thành niên). Nghiên cứu cho thấy các báo cáo ở địa phương thường bỏ sót nội dung tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ như: Long An[1], Quảng Ngãi[2], Tiền Giang[3], Tuyên Quang[4], Quảng Nam[5], Hậu Giang[6], thành phố Cao Lãnh[7]…). Điểm thiếu sót này khiến cho công tác theo dõi tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ người gặp khó khăn bởi Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật sẽ thiếu dữ liệu để lập được bảng thống kê chi tiết làm căn cứ để Bộ Tư pháp tổng kết tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong đó có biện pháp tạm giữ người. Đây cũng chính là lý do khiến cho báo cáo tình hình thi hành pháp luật Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 của Bộ Tư pháp cũng chỉ tổng hợp được tổng số quyết định tạm giữ người theo TTHC năm 2015 và báo cáo tình hình thi hành pháp luật Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 của Bộ Tư pháp 06 tháng đầu năm 2016 không có nội dung về việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC. Đây thực sự là một thiếu sót lớn bởi thực tế chúng ta dường như đang “bỏ ngỏ” hoạt động quản lý nhà nước về vấn đề này. Điều này đồng nghĩa với việc trên thực tế nếu xảy ra sai phạm trong quá trình tạm giữ người theo TTHC như người không có thẩm quyền tiến hành tạm giữ; tạm giữ những người không thuộc đối tượng bị tạm giữ; bức cung, nhục hình trong quá trình tạm giữ,... thì cũng khó có thể kiểm soát. Thực tế cho thấy, khi xảy ra hậu quả nghiêm trọng thì những vụ việc tạm giữ người trái pháp luật mới bị phát hiện[8]. Như vậy, nếu không quản lý sát sao về công tác báo cáo tình hình tạm giữ người theo TTHC, thì chúng ta khó phát hiện các bất cập để khắc phục và nguy cơ công dân bị xâm phạm các quyền cơ bản vẫn có thể xảy ra.

Ba là, biểu mẫu báo cáo công tác theo dõi công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa phù hợp

Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31/08/2015 quy định về chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật (Thông tư số 10/2015/TT-BTP) đã ban hành mẫu văn bản báo cáo công tác theo dõi công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nội dung báo cáo thống kê việc áp dụng biện pháp tạm giữ người cũng không rõ ràng (chỉ bao gồm nội dung số lượng quyết định tạm giữ người và chia thành hai cột: đối với người thành niên và chưa thành niên). Chính vì vậy, Thông tư số 10/2015/TT-BTP cần sửa đổi biểu mẫu báo cáo này để thể hiện rõ hơn tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính khi địa phương có áp dụng biện pháp tạm giữ người trong quá trình xử lý vi phạm. Biểu mẫu này cần nêu rõ: Số lượng quyết định; đối tượng bị áp dụng là người thành niên hoặc chưa thành niên; số lượng quyết định ban hành trái thẩm quyền; số lượng quyết định bị khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại; trường hợp địa phương không áp dụng biện pháp này thì cũng nêu rõ trong báo cáo.

Bốn là, về công tác kiểm tra và thanh tra việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Hiện nay, chúng ta không có quy định riêng về công tác kiểm tra, thanh tra việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC mà chỉ có quy định về công tác kiểm tra và thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung - đây được xem là hai trong số các nội dung quản lý công tác xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 21, Điều 22 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.

- Về công tác kiểm tra: Công tác kiểm tra có thể được tiến hành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; đề nghị của bộ, ngành, UBND cấp tỉnh; đề nghị của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp trên cơ sở theo dõi tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; hoặc việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý liên ngành đang có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập hoặc đối với vụ việc phức tạp[9]. Phương thức kiểm tra có thể là: kiểm tra theo định kỳ, theo chuyên đề, địa bàn; kiểm tra đột xuất; hoặc kiểm tra liên ngành. Ở một số địa phương xảy ra tình trạng trùng lắp, chồng chéo giữa các đoàn kiểm tra khiến hiệu quả của công tác kiểm tra chưa được như mong đợi[10]. Bên cạnh đó, quy định về các trường hợp tiến hành kiểm tra cũng như quy định về thẩm quyền kiểm tra còn chưa phù hợp.

Chính vì vậy, tác giả kiến nghị cần bổ sung thêm vào Nghị định 81/2013/NĐ-CP một số nội dung về công tác kiểm tra như sau:

(i) Bổ sung các điểm đ và e khoản 2 Điều 21 liên quan đến các trường hợp phải tiến hành kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính, như sau:

Điều 21. Kiểm tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:

“1….

2. Việc kiểm tra được tiến hành trong các trường hợp sau đây:…

“đ) Qua theo dõi thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phát hiện việc áp dụng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có dấu hiệu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;

e) Khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của cá nhân, tổ chức phản ánh việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa chính xác hoặc có dấu hiệu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”.

(ii) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 21 cho phù hợp với việc bổ sung quy định tại điểm đ và điểm e như trên. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật trong việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện việc kiểm tra đối với các vụ vi phạm có tính chất phức tạp, mang tính liên ngành, trong phạm vi toàn quốc. Bên cạnh đó, cũng xác định trách nhiệm của Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp trong việc giúp UBND cấp tỉnh, huyện thực hiện việc kiểm tra theo thẩm quyền, cụ thể:

“a) Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định kiểm tra đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ và e khoản 2 Điều này. Đối với vụ việc quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều này mà có tính chất phức tạp, mang tính liên ngành, trong phạm vi toàn quốc, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật thuộc Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện việc kiểm tra.

Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện thực hiện việc kiểm tra theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều này.”

- Về công tác thanh tra: Công tác thanh tra ở các bộ và cơ quan ngang bộ chủ yếu được thực hiện bởi thanh tra bộ. Ngoài ra, các cơ quan quản lý chuyên ngành thuộc bộ như tổng cục, cục cũng được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực mình quản lý. Điều 22 Nghị định 81/2013/NĐ-CP có quy định về công tác phối hợp thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, việc phối hợp thanh tra thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính giữa Bộ Tư pháp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; giữa Sở Tư pháp với các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBND cấp huyện được thực hiện trong trường hợp có kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức, báo chí về việc áp dụng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Thực hiện quy định này, các bộ, cơ quan ngang bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành nhiều văn bản quy định về quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước như: Quyết định số 29/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc ban hành quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước đối với công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nội dung quy định: “Phối hợp thanh tra trong trường hợp có kiến nghị, phản ảnh của cá nhân, tổ chức, báo chí về việc áp dụng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính” (khoản 4 Điều 5).

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn một cách chi tiết để triển khai thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước. Chính vì vậy, Chính phủ cần ban hành Nghị định về công tác kiểm tra, phối hợp thanh tra, trong đó, có quy định xử lý trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói chung và tạm giữ người theo TTHC nói riêng vi phạm chế độ công vụ trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và xử lý việc thực hiện kết luận sau thanh tra, kiểm tra để các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và phối hợp thanh tra tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
  1. Bất cập trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính và một số kiến nghị
Một là, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định trường hợp thủ trưởng vắng mặt thì có thể giao quyền cho cấp phó để áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm2012 và cả các văn bản quy phạm pháp luật khác hiện nay vẫn chưa quy định rõ thế nào được coi là vắng mặt, thời gian vắng mặt là bao lâu để được quyền giao cho cấp phó hoặc chỉ cần không có mặt tại trụ sở cơ quan tại thời điểm phát hiện ra hành vi vi phạm cần phải áp dụng biện pháp tạm giữ người hay phải không có mặt trong suốt khoảng thời gian cần ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ người mới được coi là vắng mặt. Điều này khiến cho việc áp dụng trên thực tế còn dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Điều luật cũng quy định rằng việc giao quyền này phải được thực hiện bằng văn bản và phải thể hiện rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền.

Như vậy, có thể hiểu rằng, việc giao quyền này có thể được thực hiện trước khi có tình huống (là căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp tạm giữ người) xảy ra. Thực tế cũng cho thấy không phải khi xuất hiện căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ người thì thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền mới làm văn bản giao quyền, mà việc giao quyền này thủ trường có thể ban hành văn bản giao quyền thường xuyên cho cấp phó trước khi thủ trưởng vắng mặt tại cơ quan[11].

Một trường hợp khác là cấp phó được giao quyền bởi thủ trưởng tiền nhiệm và vì lý do nào đó cấp trưởng khuyết (do điều động, được bổ nhiệm giữ chức vụ khác, do sức khỏe không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ…) và hiện chưa có cấp trưởng mới thì cấp phó có được tạm giữ người theo văn bản giao quyền của cấp trưởng tiền nhiệm hay không[12]. Thực tế giải quyết vấn đề này cho thấy cấp phó vẫn thực hiện quyền đã được giao theo văn bản giao quyền của cấp trưởng tiền nhiệm cho đến khi có văn bản giao quyền mới của cấp trưởng kế tiếp. Cách giải quyết này trên thực tế là khá phù hợp, tuy nhiên, vấn đề là chúng ta đang thiếu cơ sở pháp lý quy định nguyên tắc kế thừa quyền được giao. Vì vậy, để tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC, tác giả kiến nghị bổ sung nội dung này vào Nghị định 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Điều 123 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó: “Trường hợp cấp phó được giao quyền bởi thủ trưởng tiền nhiệm và vì lý do nào đó cấp trưởng khuyết (do điều động, được bổ nhiệm giữ chức vụ khác, do sức khỏe không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ…) và hiện chưa có cấp trưởng mới, thì cấp phó vẫn thực hiện quyền đã được giao theo văn bản giao quyền của cấp trưởng tiền nhiệm cho đến khi có văn bản giao quyền mới của cấp trưởng kế tiếp và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật”.

Hai là, về mẫu văn bản giao quyền ban hành kèm theo Nghị định 81/2013/NĐ-CP về giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Hiện nay, mẫu văn bản giao quyền được quy định tại Nhóm III. Mẫu văn bản khác được ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Tên của mẫu văn bản giao quyền này là “Văn bản giao quyền xử phạt vi phạm hành chính”. Văn bản này có thể có nhiều tên loại khác nhau như: công văn, thông báo, quyết định giao quyền. Tuy nhiên, tính chất của công văn, thông báo, quyết định là khác nhau, nên không thể cho phép chủ thể có thẩm quyền lựa chọn một trong ba tên loại văn bản này, mà nên dùng một tên gọi thống nhất.

Bên cạnh đó, phần căn cứ ban hành văn bản giao quyền lại căn cứ vào khoản 2 Điều 123 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Điều này đồng nghĩa với việc mẫu văn bản này không chỉ giao quyền về xử phạt vi phạm hành chính mà còn giao cả quyền tạm giữ người theo TTHC. Tuy nhiên, nếu sử dụng chung mẫu này cho cả mẫu giao quyền tạm giữ người theo TTHC là không phù hợp. Thêm vào đó, mặc dù hướng dẫn trong mẫu văn bản này là thực hiện theo quy định Thông tư số 01/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành ngày 19/01/2011 hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính, tuy nhiên, thể thức, kỹ thuật trình bày chưa chính xác.

Chính vì vậy, tác giả kiến nghị Chính phủ cần ban hành thêm mẫu văn bản riêng để giao quyền tạm giữ người theo TTHC và tên gọi của mẫu văn bản này là “Quyết định giao quyền tạm giữ người theo TTHC”, không dùng chung với mẫu văn bản giao quyền xử phạt vi phạm hành chính vì nội dung, căn cứ và mục đích áp dụng của hai văn bản này là khác nhau.

Ba là, về quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Biểu mẫu Quyết định tạm giữ người theo TTHC hiện nay được thực hiện theo mẫu số 12 (Quyết định tạm giữ người theo TTHC) được ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc bố trí các thành phần thể thức văn bản chưa phù hợp. Chính vì vậy, để đảm bảo thống nhất biểu mẫu văn bản thì biểu mẫu Quyết định tạm giữ người theo TTHC hiện nay cần được sửa đổi.

Bên cạnh đó, quy định đóng dấu quyết định tạm giữ người còn phát sinh nhiều bất cập trên thực tế. Cụ thể, khoản 1 Điều 13 Nghị định 112/2013/NĐ-CP quy định: “Quyết định tạm giữ người theo TTHC phải đóng dấu cơ quan của người ra quyết định tạm giữ”. Tuy nhiên, trường hợp phải tạm giữ người khi chủ thể có thẩm quyền tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra đột xuất hoặc phải tạm giữ người ở nơi xa xôi, hẻo lánh; hoặc trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa,…, thì người ra quyết định tạm giữ sẽ gặp khó khăn trong việc mang theo con dấu để thực hiện đúng như quy định nêu trên. Bên cạnh đó, trường hợp cấp phó được chủ thể có thẩm quyền giao quyền tạm giữ người bằng văn bản, thì cấp phó cũng khó có thể thực hiện quy định trên. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/07/2016 về quản lý, sử dụng con dấu, thì “con dấu phải được quản lý chặt chẽ tại trụ sở của cơ quan, tổ chức và chỉ chức danh nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức mới được quyết định việc mang con dấu ra ngoài trụ sở để sử dụng giải quyết công việc”. Như vậy, trường hợp cấp phó được giao quyền tạm giữ người, nhưng không được giao con dấu ra ngoài trụ sở, thì vô hình chung quy định của pháp luật đang làm khó chủ thể áp dụng pháp luật. Bởi lẽ, nếu buộc phải tạm giữ mà không ra quyết định, không đóng dấu thì trái quy định của pháp luật, mà làm đúng như quy định thì khó có thể thực hiện.

Chính vì vậy, tác giả đề xuất sửa khoản 5 Điều 24 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/07/2016 về quản lý, sử dụng con dấu, theo đó: “Con dấu phải được quản lý chặt chẽ tại trụ sở của cơ quan, tổ chức và chỉ chức danh nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức mới được quyết định việc mang con dấu ra ngoài trụ sở để sử dụng giải quyết công việc. Trường hợp cơ quan bị khuyết người đứng đầu, thì cấp phó được giao quyền theo văn bản giao quyền của người đứng đầu tiền nhiệm có thể mang con dấu ra ngoài trụ sở để sử dụng giải quyết công việc và phải tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật”. Quy định như vậy thì cấp phó được giao quyền tạm giữ người mới có thể được giao con dấu ra ngoài trụ sở để thực hiện thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Bốn là, về công tác thanh tra, kiểm tra việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Bên cạnh việc cần sửa đổi quy định của pháp luật cho phù hợp như tác giả đã phân tích ở trên thì những yếu kém trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi, bởi lực lượng thanh tra còn “mỏng” nên không thể thanh tra, kiểm tra và phát hiện hết các vi phạm cần xử lý. Để khắc phục tình trạng này, cần các giải pháp sau:

(i) UBND cấp tỉnh thành lập đoàn kiểm tra liên ngành theo từng lĩnh vực để thực hiện kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

(ii) Giao thêm cho Sở Tư pháp chức năng giúp UBND tỉnh tổng hợp công tác thanh tra, kiểm tra trên địa bàn của tỉnh về hoạt động xử lý vi phạm hành chính nói chung và tạm giữ người theo TTHC nói riêng.

(iii) UBND cấp tỉnh cần yêu cầu thanh tra của các sở và cơ quan tương đương sở chủ động thường xuyên tổ chức thanh tra đột xuất, thanh tra khi có phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, báo chí về việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức..., trên địa bàn theo quy định, có như vậy mới hạn chế được các sai phạm trong quá trình thực thi công vụ của chủ thể có thẩm quyền, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Năm là, thiếu biên chế công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC nói riêng

Thực tế cho thấy rằng, đội ngũ công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật hiện nay vẫn còn thiếu về số lượng. Chẳng hạn, theo Quyết định số 1950/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan tư pháp địa phương” (Quyết định 1950/QĐ-TTg), thì số biên chế công chức, viên chức của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật gồm khoảng từ 42 - 45 người, nhưng đến ngày 31/03/2016, Cục mới chỉ có: 01 Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng và 20 công chức, viên chức và lao động hợp đồng[13]. Qua báo cáo của các bộ, ngành,… cho thấy, hiện nay, ngoài Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, có thêm Bộ Quốc phòng đã triển khai việc kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, còn lại đa số các bộ, cơ quan ngang bộ đều chỉ bố trí được từ 01 - 02 chuyên viên kiêm nhiệm thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Quá trình bổ sung biên chế chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở các địa phương cũng gặp nhiều khó khăn. Theo Quyết định số 1950/QĐ-TTg, thì Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính tại Sở Tư pháp Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh ít nhất 07 biên chế công chức, Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ với ít nhất là 05 biên chế, các địa phương cũng bố trí ít nhất từ 03 - 05 biên chế công chức. Tuy nhiên tính đến ngày 31/03/2016 mới có 60/63 tỉnh, thành phố thành lập phòng chuyên môn trực thuộc Sở Tư pháp (Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật) để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định còn lại một số địa phương vẫn phải bố trí cán bộ kiêm nhiệm. Việc bố trí các công chức kiêm nhiệm như trên là một giải pháp “tình thế” nên chưa mang lại hiệu quả cao. Nhiều công chức kiêm nhiệm lại chưa được đào tạo đầy đủ về nghiệp vụ nên chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ ảnh hưởng tới công tác quản lý.

Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và tạm giữ người theo TTHC nói riêng đạt hiệu quả thì cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế chuyên trách đang thiếu hụt hiện nay.

Sáu là, về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính cũng như hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ khác tiến hành các hoạt động này. Tuy nhiên, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 tập trung chủ yếu về việc tuyên truyền về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó trọng điểm là các nội dung (các trường hợp vi phạm, mức xử phạt,…) thông qua các hình thức như: Biên soạn chuyên mục hỏi đáp về Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 phát trên đài truyền thanh, truyền hình; tổ chức sinh hoạt tuyên truyền, phổ biến pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhân Ngày Pháp luật Việt Nam 09/11, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật...[14]. Trong khi đó, nội dung liên quan tới các biện pháp ngăn chặn nhất là tạm giữ người theo TTHC ít được coi trọng. Đây chính là lý do khiến người dân không có kiến thức đầy đủ hoặc thậm chí hiểu sai về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này.

Công tác tuyên truyền chưa phù hợp với những đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, khu vực có trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết pháp luật thì những hình thức tuyên truyền, phổ biến mang tính đại trà như: Hội nghị, băng rôn, tờ gấp, khẩu hiệu…, nhìn chung chưa mang lại hiệu quả cao. Đây chính là những vùng mà người dân do trình độ hiểu biết pháp luật thấp nên dễ bị lôi kéo lợi dụng vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới hoặc vi phạm các quy định về bảo vệ rừng,…

Bên cạnh đó, để tránh tình trạng tạm giữ người trái pháp luật do chủ thể có quyền tạm giữ chưa cập nhật được các quy định pháp luật[15], thì Bộ Tư pháp cần triển khai các hoạt động tập huấn, phổ biến các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các nghị định hướng dẫn thi hành về việc áp dụng biện pháp tạm giữ người theo TTHC một cách sâu rộng để nâng cao khả năng áp dụng pháp luật một cách đúng đắn vào đời sống thực tiễn tránh trường hợp chủ thể có thẩm quyền cứ phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì “giữ nhầm hơn bỏ sót” mà không đối chiếu với các quy định của pháp luật gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Bảy là, điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước

Để đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước về công tác theo dõi thi hành pháp luật về tạm giữ người theo TTHC đạt hiệu quả thì cũng cần phân bổ thêm kinh phí và các điều kiện, phương tiện khác như kinh phí bảo đảm cho việc triển khai, chế độ thông tin, trang thiết bị, phương tiện làm việc, cơ sở dữ liệu, kho lưu trữ tang vật, phương tiện... Chính vì vậy, để tháo gỡ những khó khăn trên thì Bộ Tài chính cần ban hành thông tư hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí cho công tác quản lý và thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan, đơn vị chủ động bố trí ngân sách thực hiện nhiệm vụ này.

Như vậy với việc phân tích các điểm còn hạn chế cũng như đưa ra các kiến nghị để khắc phục những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính nói chung và biện pháp tạm giữ người nói riêng, tác giả hy vọng rằng, trong thời gian tới, công tác quản lý nhà nước đối với biện pháp này sẽ tốt hơn, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trên thực tế ./.

ThS.Vũ Thị Ngọc Dung

* Giảng viên Khoa luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

[1]Báo cáo số 81/BC-UBND ngày 08/5/2015 của UBND tỉnh Long An về công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính 06 tháng đầu năm 2015 trên địa bàn tỉnh.

[2]Báo cáo kết quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. http://www.quangngai.gov.vn/sotp/Pages/qnp-ketquacongtacthihanh-qnpnd-945-qnpnc-23-qnpsite-1.html. Truy cập ngày 10/12/2015.

[3]Báo cáo số 196/BC-UBND ngày 06/11/2014 của UBND tỉnh Tiền Giang về kết quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014.

[4]Báo cáo số 81/BC-STP ngày 20/10/2015 của Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang về kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp năm 2015.

[5]Báo cáo số 05/BC-STP ngày 22/01/2015 về Tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

[6]Báo cáo số 158/BC-UBND ngày 17/12/2014 của UBND tỉnh Hậu Giang về kết quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014.

[7]Báo cáo số 191/BC-UBND ngày 13/10/2015 của UBND thành phố Cao Lãnh về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015.

[8] Kiều Nhi - Hải Dương, http://tamnhin.net/hai-cong-an-lanh-an-tu-treo-vi-tam-giu-nguoi-trai-phap luat-33080.html, truy cập lúc 09h48’, ngày 18/03/2016.

[9] Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.

[10] Thái Thị Tuyết Dung (Chủ nhiệm), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh “Quản lý nhà nước về hoạt động xử phạt vi phạm hành chính”, năm 2016.

[11]Ví dụ: Công văn số 1734/UBND-TH ngày 18/5/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Long An về việc ủy quyền điều hành, xử lý công việc của UBND tỉnh hoặc xem Phụ lục 5 của luận văn.

[12]Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên) (2015), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb.Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tập 2, tr.323.

[13] Báo cáo số 172/BC-BTP ngày 11/7/2016 của Bộ Tư pháp Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 06 tháng đầu năm 2016.

[14] Cổng giao tiếp điện tử UBND TP. Hà Nội, Triển khai cuộc thi “Tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính”, ngày 22/8/2013,http://hanoi.gov.vn/30/-/hn/ZVOm7e3VDMRM/7320/109686/8/trien-khai-cuoc-thi-tim-hieu-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh.html;jsessionid=eupEKTNFViNLWR4J9ge-GW4K.app2.

[15] Khi quay video clip “Năng lượng” ca sĩ Hồ Quỳnh Hương và đoàn làm phim đã bị yêu cầu dừng quay và tạm giữ không đúng quy định của pháp luật. Bình luận về vấn đề này, bà Nguyễn Thế Thanh - nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch TP. Hồ Chí Minh cho biết:“Trước đây, quy trình giấy phép sản xuất băng đĩa có hai công đoạn, trước tiên các hãng băng đĩa phải xin giấy phép sản xuất để sử dụng khi đi dựng cảnh, quay ngoại cảnh. Tiếp theo, sau khi hoàn thành công đoạn một, các hãng mang giấy phép sản xuất cùng đĩa đã hoàn thành để xin cấp giấy phép phát hành đĩa. Tuy nhiên, các địa phương không cập nhật văn bản pháp luật mới, cơ quan quản lý văn hóa đã bỏ giấy phép sản xuất băng đĩa rồi.Xem: Ái Nhân, Quỳnh Trang, “Không thể buộc đoàn phim dừng quay”, http://plo.vn/van-hoa-giai-tri/khong-the-buoc-doan-phim-dung-quay-253623.html, truy cập lúc 19h00’ ngày 15/09/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.

Theo dõi chúng tôi trên: