Chủ nhật 06/09/2026 14:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật Việt Nam và quốc tế

Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác.

1. Khái niệm và độ tuổi người chưa thành niên ở Việt Nam và trên thế giới

Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn tham gia Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em. Bằng chứng là Việt Nam sớm có luật quốc gia cam kết thực hiện Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004), theo pháp luật Việt Nam thì quyền trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác.

Nhìn theo cách tổng quát thì mỗi quốc gia có quy định khác nhau về độ tuổi của “trẻ em”. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Bộ Luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Trẻ em năm 2016, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và một số văn bản pháp luật khác có liên quan. Tất cả các văn bản pháp luật trên đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể; bên cạnh đó, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em, theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.

Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định rằng trẻ em dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự[1]. Theo Đạo luật Người chưa thành niên của Nhật Bản thì người chưa thành niên là người dưới 20 tuổi và từ 20 tuổi trở lên được coi là người trưởng thành[2]. Đạo luật Người chưa thành niên điều chỉnh cả những người chưa thành niên vi phạm pháp luật và những người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật, quy định các thủ tục đặc biệt cho người chưa thành niên, tách biệt họ với người đã thành niên và hạn chế sử dụng hình phạt bao gồm án tử hình và tù chung thân.

Ở Vương quốc Anh, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định là 10 tuổi. Những phạm nhân trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 17 tuổi (tức là đến sinh nhật thứ mười tám của họ) được xếp vào nhóm tội phạm vị thành niên. Trong độ tuổi từ 18 đến 21 (tức là đến ngày sinh nhật thứ hai mươi mốt của họ), họ được phân loại là những phạm nhân trẻ tuổi. Người phạm tội từ 21 tuổi trở lên được gọi là người phạm tội trưởng thành. Những tội phạm vị thành niên sẽ được giải quyết bởi các Tòa án thanh thiếu niên và được gửi đến các trung tâm an toàn đặc biệt cho những người trẻ tuổi, không phải nhà tù dành cho người lớn.

Đối với Philippines, theo Đạo luật Tư pháp và Phúc lợi vị thành niên năm 2006, trẻ em dưới 15 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự, độ tuổi từ 15 tuổi đến 18 tuổi được coi là người chưa thành niên, nếu bị kết án từ 06 năm tù trở xuống thì sẽ không bị xét xử bởi Tòa án.

Như vậy, người chưa thành niên phạm tội ở mỗi nước có quy định độ tuổi khác nhau, trung bình là từ 18 tuổi trở xuống. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của pháp luật quốc tế về độ tuổi của người chưa thành niên[3]. Có sự chênh nhau không đáng kể về độ tuổi người chưa thành niên ở mỗi nước, điều này là do điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống của mỗi quốc gia mà có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn hoặc muộn hơn. Tuy vậy, nhà làm luật các nước đều đưa ra các quy định và nguyên tắc khi xử lý người chưa thành niên phạm tội đảm bảo rằng bất cứ sự xử lý nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét tới điều kiện hoàn cảnh của người chưa thành niên và mức độ của tội phạm.

2. Nguyên tc xử lý người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật hình sự Việt Nam và các nước đều thể hiện tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam (sửa đổi, bổ xung năm 2017) cũng khẳng định rõ ràng như sau: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”.

Đối với một đứa trẻ hoặc một người trẻ tuổi phạm tội ở Vương quốc Anh, Tòa án tập trung vào khả năng phục hồi nhân cách cũng như khả năng giáo dục, tái hòa nhập của người phạm tội hơn là trừng phạt. Khi xem xét xử lý người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cũng nên xem xét ảnh hưởng của bản án có thể có đối với trẻ em hoặc thanh thiếu niên (cả tích cực và tiêu cực) cũng như bất kỳ yếu tố cơ bản nào góp phần vào hành vi vi phạm của họ.

Ở Nhật Bản, hệ thống tư pháp người chưa thành niên được coi là hoạt động dựa trên các nguyên tắc nhấn mạnh sự tái hòa nhập và phục hồi. Ngay từ giai đoạn ban đầu tiếp xúc với hệ thống tư pháp hình sự cụ thể là tiếp xúc với cảnh sát địa phương, các biện pháp chuyển hướng đã được áp dụng. Hệ thống tư pháp người chưa thành niên hiện tại của Nhật Bản được thành lập dựa trên Đạo luật Người chưa thành niên năm 1948 trong thời kỳ chiếm đóng của quân Đồng minh và Tòa án gia đình là trung tâm của hệ thống này. Tòa án gia đình tồn tại ở 50 địa điểm trên toàn quốc. Ngoài ra, có 77 văn phòng địa phương ở cùng địa điểm với Tòa án rút gọn (summary courts). Đạo luật Người chưa thành niên cũng nhấn mạnh tính ưu việt của Đạo luật Phúc lợi trẻ em (1947) bởi Đạo luật Người chưa thành niên bị ảnh hưởng đáng kể bởi các cách tiếp cận công tác phúc lợi xã hội của Hoa Kỳ đối với tội phạm chưa thành niên và dựa trên nguyên tắc ưu tiên giáo dục và cải tạo hơn hình phạt hình sự.

Việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội ở Philippines được thể hiện trong Đạo luật Cộng hòa số 9344 (Đạo luật Phúc lợi và Tư pháp vị thành niên), trong đó cung cấp các thủ tục tố tụng phù hợp với trẻ em, bao gồm các chương trình và dịch vụ để phòng ngừa, chuyển hướng, phục hồi - song phương, tái hòa nhập và chăm sóc sau để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường của người chưa thành niên. Theo đó, đối với những người chưa thành niên phạm tội thì Chính phủ sẽ không áp dụng thủ tục tố tụng tư pháp mà thay vì trừng phạt và coi họ như tội phạm thì họ sẽ được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để ngăn chặn họ phạm tội trong tương lai.

Như vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam và hầu hết các nước đều đề cao mục đích giáo dục, giúp đỡ họ nhận ra sai lầm và sửa chữa để phát triển thành công dân tốt, bởi nếu khi áp dụng hình phạt với họ chỉ nhằm trừng trị mà không cải tạo, giáo dục họ thì khi chấp hành xong hình phạt, họ lại tái phạm thì việc áp dụng hình phạt không có ý nghĩa, lúc đó mục đích mà chúng ta đã đặt ra cũng không đạt được. Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên, họ là đối tượng đặc biệt được pháp luật bảo vệ dưới cả hai góc độ, khi họ là người bị hại và cả khi họ là chủ thể của tội phạm, chính sách này của Nhà nước ta thể hiện rõ và nhất quán, đồng thời cũng phù hợp với Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam đã ký kết.

3. Biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật Hình sự Việt Nam và các nước đều đề cao các biện pháp giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội hơn là áp dụng hình phạt đối với họ. Hầu hết, các nước đều quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng thay vì áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Nếu trong trường hợp bắt buộc phải áp dụng hình phạt thì mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng sẽ nhẹ hơn so với người chưa thành niên phạm tội.

Theo pháp luật hình sự của Việt Nam, trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chung áp dụng đối với cả người thành niên) thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Để được áp dụng một trong các biện pháp này đòi hỏi người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này.

Việc áp dụng hình phạt đối với người chưa đủ 18 tuổi được Điều 68 Bộ luật Hình sự Philippines quy định như sau: (i) Đối với người từ 9 tuổi đến dưới 15 tuổi mà không được miễn trách nhiệm hình sự, thì người này bị áp dụng mức phạt thấp hơn so với trường hợp bình thường ít nhất 02 bậc; (ii) Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì mức phạt bị áp dụng là mức thấp hơn 01 bậc so với mức thông thường với một thời hạn hợp lý.

Đối với trường hợp người phạm tội chưa đến 16 tuổi tại thời điểm phạm tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng và bị truy tố thì sau khi xem xét chứng cứ, Tòa án sẽ không tuyên án kết tội, mà sẽ đình chỉ mọi thủ tục tố tụng nhưng tuyên buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giáo dục của một cơ sở từ thiện hoặc thân hữu tư nhân hoặc của Nhà nước được thành lập theo luật về chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ có khuyết tật về nhân cách và trẻ phạm pháp, hoặc giao cho người có trách nhiệm khác với sự giám sát của giám đốc cơ quan phúc lợi xã hội hoặc theo sự giám sát của thanh tra trường công lập theo các điều kiện quy định dưới đây cho tới khi phạm nhân đạt đến tuổi thành niên hoặc trong thời hạn thấp hơn nếu Tòa án thấy phù hợp. Tòa án khi đặt người chưa thành niên vào tình trạng như trên, phải cân nhắc tới yếu tố tôn giáo của người chưa thành niên, hoặc yếu tố tôn giáo của cha mẹ hoặc người thân thích của người chưa thành niên, để tránh việc đưa người chưa thành niên này đặt dưới sự quản lý của tổ chức tư nhân mà không chịu sự quản lý hoặc giám sát của tổ chức tôn giáo tương ứng.

Ở Vương quốc Anh, người chưa thành niên phạm tội nhẹ có thể được chuyển đến chương trình phòng chống tội phạm vị thành niên. Ở đây họ có cơ hội để sửa chữa những gì họ đã làm sai. Ví dụ, họ có thể xin lỗi các nạn nhân và trả tiền cho bất kỳ thiệt hại nào. Nếu họ hoàn thành nghĩa vụ và hoàn thành chương trình phòng, chống tội phạm vị thành niên của mình, họ sẽ không có tiền án. Nếu họ từ chối tham gia chương trình này hoặc không hoàn thành thành công, thì họ sẽ bị chuyển đến công tố viên công cộng và sẽ bị truy tố. Hình phạt thay thế cho người chưa thành niên bao gồm: Án lệnh giới thiệu (điều này đòi hỏi người phạm tội phải tham dự một hội đồng phạm tội thanh thiếu niên (gồm hai thành viên của cộng đồng địa phương và một cố vấn từ một nhóm vi phạm thanh thiếu niên) và đồng ý một hợp đồng có những cam kết nhất định sẽ kéo dài từ ba tháng đến một năm. Mục đích là để người phạm tội bù đắp cho tác hại gây ra và giải quyết hành vi vi phạm của họ. Một án lệnh phải được áp dụng cho người phạm tội trẻ tuổi lần đầu tiên nhận tội, trừ khi Tòa án quyết định rằng một bản án khác là hợp lý, và có thể được áp dụng trong các trường hợp khác; án lệnh cải tạo thanh thiếu niên (đây là bản án cộng đồng có thể bao gồm một hoặc nhiều yêu cầu mà người phạm tội phải tuân thủ trong tối đa 03 năm. Một số ví dụ về các yêu cầu có thể được áp dụng là lệnh giới nghiêm, giám sát, công việc không được trả lương, điều trị bằng thuốc, điều trị sức khỏe tâm thần và giáo dục).

Tòa án có thể cho một người trẻ tuổi bị kết án giam giữ (được gọi là lệnh tạm giam và huấn luyện) nếu: Tội phạm họ phạm phải là rất nghiêm trọng không có lựa chọn phù hợp khác; họ đã phạm tội trước đó, thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn cho rằng người trẻ tuổi có nguy cơ phạm lỗi tiếp. Những người dưới 18 tuổi bị kết án giam giữ sẽ được gửi đến các trung tâm an toàn cho những người trẻ tuổi, mà không phải đến các nhà tù trưởng thành. Ủy ban Tư pháp Thanh niên quyết định trung tâm an toàn mà một người trẻ sẽ được gửi đến. Họ sẽ chọn một nơi nào đó, dựa trên các tiêu chí: Có thể giải quyết nhu cầu của người trẻ một cách an toàn, ví dụ, nếu họ có vấn đề về sức khỏe; phù hợp với độ tuổi, giới tính và lý lịch của họ; càng gần nhà của họ càng tốt. Nếu một người trẻ từ 12 tuổi đến 17 tuổi bị kết án tại Tòa án thanh thiếu niên, một bản án giam giữ có thể kéo dài từ bốn tháng đến hai năm. Tại Tòa án hoàng gia, bản án giam giữ cũng có thể được trao cho một người trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 17 tuổi và trong thời gian dài hơn hai năm nếu cần thiết.

Phạt tiền cũng được áp dụng đối với người chưa thành niên như với người lớn, tiền phạt sẽ phản ánh hành vi phạm tội đã gây ra và khả năng trả tiền của người phạm tội. Đối với người phạm tội dưới 16 tuổi, trả tiền phạt là trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ và đó sẽ là khả năng họ phải trả khi tính đến mức phạt.

Ở Nhật Bản, khi cảnh sát tư pháp xác định một người chưa thành niên phạm tội và tội phạm đó chỉ bị trừng phạt với hình phạt tiền hoặc mức phạt thấp hơn, cảnh sát đó sẽ chuyển vụ việc ra Tòa án gia đình. Đối với một hành vi phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt nặng hơn, cảnh sát sẽ chuyển vụ việc cho công tố viên (thuộc hệ thống tư pháp dành cho người đã thành niên), trừ khi trường hợp đó là vi phạm Luật Giao thông đường bộ và hành vi đã được trả tiền phạt theo hệ thống thông báo vi phạm giao thông. Công tố viên sau khi điều tra vụ án và dựa trên kết quả điều tra xác định người chưa thành niên bị nghi ngờ phạm tội sẽ bắt buộc phải chuyển người chưa thành niên này đến Tòa án gia đình. Ngay cả khi người chưa thành niên không bị nghi ngờ phạm tội, người chưa thành niên này vẫn có thể được chuyển tiếp đến Tòa án gia đình nếu công tố viên có căn cứ cho rằng sự xem xét và phán quyết của tòa án gia đình là phù hợp[4].

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Nhật Bản về người chưa thành niên phạm tội vẫn còn lưu giữ nhiều yếu tố truyền thống văn hóa, đặc biệt là sự bảo vệ của gia đình và ít đặt ra vấn đề về hình phạt hà khắc. Những yếu tố này được cho rằng có liên quan tới quá trình xã hội hóa của Nhật Bản trong gia đình và trường học, trong đó bao gồm các yếu tố bên trong, yếu tố nội tâm ngăn cản một người thực hiện một hành vi tội phạm. Ngoài ra, chính sách giáo dục, pháp luật của Nhật Bản cùng với hệ thống cảnh sát và các hoạt động ứng phó tội phạm đã khiến những người trẻ tuổi tại Nhật Bản được trưởng thành và có những hiểu biết, nhận thức đúng đắn về vai trò của gia đình, nhà trường và cảnh sát. Đồng thời, xã hội Nhật Bản cũng công nhận vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ em. Chính các yếu tố này đã góp phần tạo nên hệ thống pháp luật về người chưa thành niên tại Nhật Bản, trong đó điển hình là hệ thống hình phạt với sự nhấn mạnh vào sự tái hòa nhập và phục hồi.

Có thể thấy, đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù các nước có sự khác nhau khi quy định về độ tuổi của người chưa thành niên. Tuy nhiên, với tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự và mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội đặc biệt là người chưa thành niên, tạo điều kiện cho họ có thể sửa sai và làm lại cuộc đời, pháp luật hình sự các nước đều có những quy định khoan hồng khi xử lý người chưa thành niên phạm tội. Hình phạt áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội được quy định ở tất cả các nước đều nhẹ hơn so với người đã thành niên và ưu tiên áp dụng các hình phạt không phải tù, nhằm tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng./.

ThS. Lê Thị Hồng Xuân

Viện Nhà nước và pháp luật




[1] Điều 41 Bộ luật Hình sự. Xem tại: http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=1960&re=02&vm=04,

[2] Điều 2 Đạo luật Người chưa thành niên. Trong lần sửa đổi gần đây của Bộ luật dân sự vào 6/2018, độ tuổi của người đã thành niên được hạ từ 20 xuống 18, nội dung sửa đổi này dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2020. Xem tại: Editorial, Changing the Juvenile Law, The Japan Times, https://www.japantimes.co.jp/opinion/2017/09/02/editorials/changing-juvenile-law/#.XU0XgPXgp1o

[3] Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.

[4] Điều 42-1 Đạo luật Người chưa thành niên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: