Thứ bảy 31/10/2026 07:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật Việt Nam và quốc tế

Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác.

1. Khái niệm và độ tuổi người chưa thành niên ở Việt Nam và trên thế giới

Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn tham gia Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em. Bằng chứng là Việt Nam sớm có luật quốc gia cam kết thực hiện Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004), theo pháp luật Việt Nam thì quyền trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác.

Nhìn theo cách tổng quát thì mỗi quốc gia có quy định khác nhau về độ tuổi của “trẻ em”. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Bộ Luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Trẻ em năm 2016, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và một số văn bản pháp luật khác có liên quan. Tất cả các văn bản pháp luật trên đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể; bên cạnh đó, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em, theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.

Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định rằng trẻ em dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự[1]. Theo Đạo luật Người chưa thành niên của Nhật Bản thì người chưa thành niên là người dưới 20 tuổi và từ 20 tuổi trở lên được coi là người trưởng thành[2]. Đạo luật Người chưa thành niên điều chỉnh cả những người chưa thành niên vi phạm pháp luật và những người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật, quy định các thủ tục đặc biệt cho người chưa thành niên, tách biệt họ với người đã thành niên và hạn chế sử dụng hình phạt bao gồm án tử hình và tù chung thân.

Ở Vương quốc Anh, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định là 10 tuổi. Những phạm nhân trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 17 tuổi (tức là đến sinh nhật thứ mười tám của họ) được xếp vào nhóm tội phạm vị thành niên. Trong độ tuổi từ 18 đến 21 (tức là đến ngày sinh nhật thứ hai mươi mốt của họ), họ được phân loại là những phạm nhân trẻ tuổi. Người phạm tội từ 21 tuổi trở lên được gọi là người phạm tội trưởng thành. Những tội phạm vị thành niên sẽ được giải quyết bởi các Tòa án thanh thiếu niên và được gửi đến các trung tâm an toàn đặc biệt cho những người trẻ tuổi, không phải nhà tù dành cho người lớn.

Đối với Philippines, theo Đạo luật Tư pháp và Phúc lợi vị thành niên năm 2006, trẻ em dưới 15 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự, độ tuổi từ 15 tuổi đến 18 tuổi được coi là người chưa thành niên, nếu bị kết án từ 06 năm tù trở xuống thì sẽ không bị xét xử bởi Tòa án.

Như vậy, người chưa thành niên phạm tội ở mỗi nước có quy định độ tuổi khác nhau, trung bình là từ 18 tuổi trở xuống. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của pháp luật quốc tế về độ tuổi của người chưa thành niên[3]. Có sự chênh nhau không đáng kể về độ tuổi người chưa thành niên ở mỗi nước, điều này là do điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống của mỗi quốc gia mà có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn hoặc muộn hơn. Tuy vậy, nhà làm luật các nước đều đưa ra các quy định và nguyên tắc khi xử lý người chưa thành niên phạm tội đảm bảo rằng bất cứ sự xử lý nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét tới điều kiện hoàn cảnh của người chưa thành niên và mức độ của tội phạm.

2. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật hình sự Việt Nam và các nước đều thể hiện tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam (sửa đổi, bổ xung năm 2017) cũng khẳng định rõ ràng như sau: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”.

Đối với một đứa trẻ hoặc một người trẻ tuổi phạm tội ở Vương quốc Anh, Tòa án tập trung vào khả năng phục hồi nhân cách cũng như khả năng giáo dục, tái hòa nhập của người phạm tội hơn là trừng phạt. Khi xem xét xử lý người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cũng nên xem xét ảnh hưởng của bản án có thể có đối với trẻ em hoặc thanh thiếu niên (cả tích cực và tiêu cực) cũng như bất kỳ yếu tố cơ bản nào góp phần vào hành vi vi phạm của họ.

Ở Nhật Bản, hệ thống tư pháp người chưa thành niên được coi là hoạt động dựa trên các nguyên tắc nhấn mạnh sự tái hòa nhập và phục hồi. Ngay từ giai đoạn ban đầu tiếp xúc với hệ thống tư pháp hình sự cụ thể là tiếp xúc với cảnh sát địa phương, các biện pháp chuyển hướng đã được áp dụng. Hệ thống tư pháp người chưa thành niên hiện tại của Nhật Bản được thành lập dựa trên Đạo luật Người chưa thành niên năm 1948 trong thời kỳ chiếm đóng của quân Đồng minh và Tòa án gia đình là trung tâm của hệ thống này. Tòa án gia đình tồn tại ở 50 địa điểm trên toàn quốc. Ngoài ra, có 77 văn phòng địa phương ở cùng địa điểm với Tòa án rút gọn (summary courts). Đạo luật Người chưa thành niên cũng nhấn mạnh tính ưu việt của Đạo luật Phúc lợi trẻ em (1947) bởi Đạo luật Người chưa thành niên bị ảnh hưởng đáng kể bởi các cách tiếp cận công tác phúc lợi xã hội của Hoa Kỳ đối với tội phạm chưa thành niên và dựa trên nguyên tắc ưu tiên giáo dục và cải tạo hơn hình phạt hình sự.

Việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội ở Philippines được thể hiện trong Đạo luật Cộng hòa số 9344 (Đạo luật Phúc lợi và Tư pháp vị thành niên), trong đó cung cấp các thủ tục tố tụng phù hợp với trẻ em, bao gồm các chương trình và dịch vụ để phòng ngừa, chuyển hướng, phục hồi - song phương, tái hòa nhập và chăm sóc sau để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường của người chưa thành niên. Theo đó, đối với những người chưa thành niên phạm tội thì Chính phủ sẽ không áp dụng thủ tục tố tụng tư pháp mà thay vì trừng phạt và coi họ như tội phạm thì họ sẽ được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để ngăn chặn họ phạm tội trong tương lai.

Như vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam và hầu hết các nước đều đề cao mục đích giáo dục, giúp đỡ họ nhận ra sai lầm và sửa chữa để phát triển thành công dân tốt, bởi nếu khi áp dụng hình phạt với họ chỉ nhằm trừng trị mà không cải tạo, giáo dục họ thì khi chấp hành xong hình phạt, họ lại tái phạm thì việc áp dụng hình phạt không có ý nghĩa, lúc đó mục đích mà chúng ta đã đặt ra cũng không đạt được. Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên, họ là đối tượng đặc biệt được pháp luật bảo vệ dưới cả hai góc độ, khi họ là người bị hại và cả khi họ là chủ thể của tội phạm, chính sách này của Nhà nước ta thể hiện rõ và nhất quán, đồng thời cũng phù hợp với Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam đã ký kết.

3. Biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật Hình sự Việt Nam và các nước đều đề cao các biện pháp giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội hơn là áp dụng hình phạt đối với họ. Hầu hết, các nước đều quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng thay vì áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Nếu trong trường hợp bắt buộc phải áp dụng hình phạt thì mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng sẽ nhẹ hơn so với người chưa thành niên phạm tội.

Theo pháp luật hình sự của Việt Nam, trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chung áp dụng đối với cả người thành niên) thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Để được áp dụng một trong các biện pháp này đòi hỏi người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này.

Việc áp dụng hình phạt đối với người chưa đủ 18 tuổi được Điều 68 Bộ luật Hình sự Philippines quy định như sau: (i) Đối với người từ 9 tuổi đến dưới 15 tuổi mà không được miễn trách nhiệm hình sự, thì người này bị áp dụng mức phạt thấp hơn so với trường hợp bình thường ít nhất 02 bậc; (ii) Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì mức phạt bị áp dụng là mức thấp hơn 01 bậc so với mức thông thường với một thời hạn hợp lý.

Đối với trường hợp người phạm tội chưa đến 16 tuổi tại thời điểm phạm tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng và bị truy tố thì sau khi xem xét chứng cứ, Tòa án sẽ không tuyên án kết tội, mà sẽ đình chỉ mọi thủ tục tố tụng nhưng tuyên buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giáo dục của một cơ sở từ thiện hoặc thân hữu tư nhân hoặc của Nhà nước được thành lập theo luật về chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ có khuyết tật về nhân cách và trẻ phạm pháp, hoặc giao cho người có trách nhiệm khác với sự giám sát của giám đốc cơ quan phúc lợi xã hội hoặc theo sự giám sát của thanh tra trường công lập theo các điều kiện quy định dưới đây cho tới khi phạm nhân đạt đến tuổi thành niên hoặc trong thời hạn thấp hơn nếu Tòa án thấy phù hợp. Tòa án khi đặt người chưa thành niên vào tình trạng như trên, phải cân nhắc tới yếu tố tôn giáo của người chưa thành niên, hoặc yếu tố tôn giáo của cha mẹ hoặc người thân thích của người chưa thành niên, để tránh việc đưa người chưa thành niên này đặt dưới sự quản lý của tổ chức tư nhân mà không chịu sự quản lý hoặc giám sát của tổ chức tôn giáo tương ứng.

Ở Vương quốc Anh, người chưa thành niên phạm tội nhẹ có thể được chuyển đến chương trình phòng chống tội phạm vị thành niên. Ở đây họ có cơ hội để sửa chữa những gì họ đã làm sai. Ví dụ, họ có thể xin lỗi các nạn nhân và trả tiền cho bất kỳ thiệt hại nào. Nếu họ hoàn thành nghĩa vụ và hoàn thành chương trình phòng, chống tội phạm vị thành niên của mình, họ sẽ không có tiền án. Nếu họ từ chối tham gia chương trình này hoặc không hoàn thành thành công, thì họ sẽ bị chuyển đến công tố viên công cộng và sẽ bị truy tố. Hình phạt thay thế cho người chưa thành niên bao gồm: Án lệnh giới thiệu (điều này đòi hỏi người phạm tội phải tham dự một hội đồng phạm tội thanh thiếu niên (gồm hai thành viên của cộng đồng địa phương và một cố vấn từ một nhóm vi phạm thanh thiếu niên) và đồng ý một hợp đồng có những cam kết nhất định sẽ kéo dài từ ba tháng đến một năm. Mục đích là để người phạm tội bù đắp cho tác hại gây ra và giải quyết hành vi vi phạm của họ. Một án lệnh phải được áp dụng cho người phạm tội trẻ tuổi lần đầu tiên nhận tội, trừ khi Tòa án quyết định rằng một bản án khác là hợp lý, và có thể được áp dụng trong các trường hợp khác; án lệnh cải tạo thanh thiếu niên (đây là bản án cộng đồng có thể bao gồm một hoặc nhiều yêu cầu mà người phạm tội phải tuân thủ trong tối đa 03 năm. Một số ví dụ về các yêu cầu có thể được áp dụng là lệnh giới nghiêm, giám sát, công việc không được trả lương, điều trị bằng thuốc, điều trị sức khỏe tâm thần và giáo dục).

Tòa án có thể cho một người trẻ tuổi bị kết án giam giữ (được gọi là lệnh tạm giam và huấn luyện) nếu: Tội phạm họ phạm phải là rất nghiêm trọng không có lựa chọn phù hợp khác; họ đã phạm tội trước đó, thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn cho rằng người trẻ tuổi có nguy cơ phạm lỗi tiếp. Những người dưới 18 tuổi bị kết án giam giữ sẽ được gửi đến các trung tâm an toàn cho những người trẻ tuổi, mà không phải đến các nhà tù trưởng thành. Ủy ban Tư pháp Thanh niên quyết định trung tâm an toàn mà một người trẻ sẽ được gửi đến. Họ sẽ chọn một nơi nào đó, dựa trên các tiêu chí: Có thể giải quyết nhu cầu của người trẻ một cách an toàn, ví dụ, nếu họ có vấn đề về sức khỏe; phù hợp với độ tuổi, giới tính và lý lịch của họ; càng gần nhà của họ càng tốt. Nếu một người trẻ từ 12 tuổi đến 17 tuổi bị kết án tại Tòa án thanh thiếu niên, một bản án giam giữ có thể kéo dài từ bốn tháng đến hai năm. Tại Tòa án hoàng gia, bản án giam giữ cũng có thể được trao cho một người trẻ tuổi từ 10 tuổi đến 17 tuổi và trong thời gian dài hơn hai năm nếu cần thiết.

Phạt tiền cũng được áp dụng đối với người chưa thành niên như với người lớn, tiền phạt sẽ phản ánh hành vi phạm tội đã gây ra và khả năng trả tiền của người phạm tội. Đối với người phạm tội dưới 16 tuổi, trả tiền phạt là trách nhiệm của cha mẹ hoặc người giám hộ và đó sẽ là khả năng họ phải trả khi tính đến mức phạt.

Ở Nhật Bản, khi cảnh sát tư pháp xác định một người chưa thành niên phạm tội và tội phạm đó chỉ bị trừng phạt với hình phạt tiền hoặc mức phạt thấp hơn, cảnh sát đó sẽ chuyển vụ việc ra Tòa án gia đình. Đối với một hành vi phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt nặng hơn, cảnh sát sẽ chuyển vụ việc cho công tố viên (thuộc hệ thống tư pháp dành cho người đã thành niên), trừ khi trường hợp đó là vi phạm Luật Giao thông đường bộ và hành vi đã được trả tiền phạt theo hệ thống thông báo vi phạm giao thông. Công tố viên sau khi điều tra vụ án và dựa trên kết quả điều tra xác định người chưa thành niên bị nghi ngờ phạm tội sẽ bắt buộc phải chuyển người chưa thành niên này đến Tòa án gia đình. Ngay cả khi người chưa thành niên không bị nghi ngờ phạm tội, người chưa thành niên này vẫn có thể được chuyển tiếp đến Tòa án gia đình nếu công tố viên có căn cứ cho rằng sự xem xét và phán quyết của tòa án gia đình là phù hợp[4].

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Nhật Bản về người chưa thành niên phạm tội vẫn còn lưu giữ nhiều yếu tố truyền thống văn hóa, đặc biệt là sự bảo vệ của gia đình và ít đặt ra vấn đề về hình phạt hà khắc. Những yếu tố này được cho rằng có liên quan tới quá trình xã hội hóa của Nhật Bản trong gia đình và trường học, trong đó bao gồm các yếu tố bên trong, yếu tố nội tâm ngăn cản một người thực hiện một hành vi tội phạm. Ngoài ra, chính sách giáo dục, pháp luật của Nhật Bản cùng với hệ thống cảnh sát và các hoạt động ứng phó tội phạm đã khiến những người trẻ tuổi tại Nhật Bản được trưởng thành và có những hiểu biết, nhận thức đúng đắn về vai trò của gia đình, nhà trường và cảnh sát. Đồng thời, xã hội Nhật Bản cũng công nhận vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ em. Chính các yếu tố này đã góp phần tạo nên hệ thống pháp luật về người chưa thành niên tại Nhật Bản, trong đó điển hình là hệ thống hình phạt với sự nhấn mạnh vào sự tái hòa nhập và phục hồi.

Có thể thấy, đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù các nước có sự khác nhau khi quy định về độ tuổi của người chưa thành niên. Tuy nhiên, với tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự và mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội đặc biệt là người chưa thành niên, tạo điều kiện cho họ có thể sửa sai và làm lại cuộc đời, pháp luật hình sự các nước đều có những quy định khoan hồng khi xử lý người chưa thành niên phạm tội. Hình phạt áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội được quy định ở tất cả các nước đều nhẹ hơn so với người đã thành niên và ưu tiên áp dụng các hình phạt không phải tù, nhằm tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng./.

ThS. Lê Thị Hồng Xuân

Viện Nhà nước và pháp luật




[1] Điều 41 Bộ luật Hình sự. Xem tại: http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=1960&re=02&vm=04,

[2] Điều 2 Đạo luật Người chưa thành niên. Trong lần sửa đổi gần đây của Bộ luật dân sự vào 6/2018, độ tuổi của người đã thành niên được hạ từ 20 xuống 18, nội dung sửa đổi này dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2020. Xem tại: Editorial, Changing the Juvenile Law, The Japan Times, https://www.japantimes.co.jp/opinion/2017/09/02/editorials/changing-juvenile-law/#.XU0XgPXgp1o

[3] Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.

[4] Điều 42-1 Đạo luật Người chưa thành niên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, gắn với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh quan hệ lao động có nhiều thay đổi, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Đề án "Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới" của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trong toàn hệ thống Công đoàn.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.

Theo dõi chúng tôi trên: