Thứ ba 22/09/2026 20:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tham vấn hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

Ngày 04/3, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì Hội nghị tham vấn chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp Nguyễn Thanh Hải cùng dự.
Tham vấn hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc phát biểu khai mạc Hội nghị tham vấn chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

Tham dự Hội nghị có đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; đại diện pháp chế một số bộ, cơ quan trung ương; đại diện một số địa phương và các chuyên gia, nhà khoa học.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc cho biết, chương trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật của chúng ta trong thời gian qua, được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật.

Qua rà soát, đánh giá có thể thấy sau 15 năm triển khai, nhiều quy định đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, khi điều kiện kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, bất cập, chưa còn phù hợp với thực tiễn, do đó việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung là cần thiết.

Theo Thứ trưởng, qua đánh giá sơ bộ và tổng hợp ý kiến từ các cơ quan, đơn vị, có thể nhận thấy yêu cầu hoàn thiện chính sách lần này cần được thực hiện bài bản, bảo đảm đúng quy trình, quy định; đồng thời phải bám sát tình hình thực tiễn thi hành pháp luật, tác động trực tiếp đến các đối tượng liên quan.

Thứ trưởng cho rằng, Hội nghị tập trung tham vấn chính sách, làm rõ những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau, nhằm hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng theo quy định trước khi trình Chính phủ xem xét. Thứ trưởng đề nghị các đại biểu tham dự tập trung thảo luận thẳng vào các nội dung trọng tâm, phát huy kinh nghiệm thực tiễn để đóng góp ý kiến cụ thể, thiết thực.

Báo cáo tóm tắt nội dung đánh giá tác động chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), Phó Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp Phan Đăng Kiên cho biết, Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 7, ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Luật được ra đời trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý thống nhất, minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ trẻ em.

Tham vấn hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Hội nghị tham vấn chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

Luật Nuôi con nuôi đã có một bước phát triển quan trọng, chuyển từ khuôn khổ pháp lý phân tán sang một hệ thống pháp lý đầy đủ, có trọng tâm, lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm mục tiêu cao nhất. Tuy nhiên, trải qua 15 năm thi hành, một số quy định của Luật Nuôi con nuôi không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, gây khó khăn hoặc giảm hiệu quả của công tác giải quyết nuôi con nuôi cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo Phó Cục trưởng Phan Đăng Kiên, hồ sơ chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) gồm 4 nhóm chính sách:

Chính sách 1: Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Nuôi con nuôi để giải quyết những khó khăn, tồn tại trong thực tiễn và đảm bảo thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Chính sách 2: Quy định cho cơ quan chuyên môn tại địa phương thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và xác nhận người Việt Nam thường trú trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em ở nước ngoài làm con nuôi nhằm tăng cường tính chủ động, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Chính sách 3: Cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số trong giải quyết nuôi con nuôi nhằm tạo thuận lợi tối đa cho người dân.

Chính sách 4: Phát triển hoạt động hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm công tác giải quyết việc nuôi con nuôi được thực hiện một cách chuyên nghiệp.

Tham vấn hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Phó Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp Phan Đăng Kiên phát biểu tại Hội nghị

Phát biểu thảo luận tại Hội nghị, các đại biểu tham dự cơ bản thống nhất với 4 nhóm chính sách đề xuất. Bên cạnh đó, các đại biểu đã tập trung góp ý, đề xuất nhiều nội dung cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện hồ sơ chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).

Có ý kiến cho rằng, hiện nay cả nước có khoảng gần 13.000 trẻ em đang được chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội và hàng chục nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được quan tâm. Do đó, việc hoàn thiện quy định về nuôi con nuôi có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhất là trong lựa chọn, thẩm định gia đình nhận nuôi nhằm bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ.

Bên cạnh đó, đối với nội dung chuyển đổi số trong lĩnh vực nuôi con nuôi, các đại biểu thống nhất với chủ trương số hóa nhằm cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ, tuy nhiên cần đánh giá kỹ tác động, bảo đảm đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia và đặc biệt chú trọng các quy định về bảo vệ dữ liệu, bảo mật thông tin trẻ em, nhất là trong trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Đồng thời, đề nghị cân nhắc quy định về giới hạn độ tuổi của người nhận con nuôi để bảo đảm phù hợp với quyền con người và thực tiễn.

Kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, có chiều sâu của các đại biểu tại Hội nghị.

Thứ trưởng nhấn mạnh, chính sách sửa đổi lần này mang tính chất xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng và các giải pháp lớn, làm cơ sở cho việc sửa đổi luật. Do đó, chính sách cần đi theo từng nhóm vấn đề, trên cơ sở đó cụ thể hóa thành các quy định phù hợp.

Về nhóm chính sách thứ nhất, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, cấu trúc lại theo hướng cụ thể hơn, làm rõ các nguyên tắc cơ bản, các quy định liên quan đến yếu tố trong nước và quốc tế.

Đối với nhóm vấn đề về thẩm quyền của cơ quan chuyên môn tại địa phương, cần nghiên cứu kỹ phương án phân cấp, phân quyền. Trong bối cảnh hiện nay, năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã đã được nâng cao, có thể xem xét mạnh dạn phân cấp nếu điều kiện bảo đảm. Tuy nhiên, việc phân cấp phải dựa trên đánh giá đầy đủ về năng lực thực thi, điều kiện bảo đảm và cơ chế giám sát, tránh hình thức.

Về cải cách thủ tục hành chính, Thứ trưởng đề nghị cần rà soát toàn bộ quy trình, đánh giá cụ thể số lượng thủ tục, mức độ trùng lặp, chồng chéo để có phương án cải cách. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu, từng bước tiến tới số hóa toàn diện, bảo đảm công khai, minh bạch và thuận lợi cho người dân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).

Theo dõi chúng tôi trên: