Đặt vấn đề
Hoạt động truyền thông chính sách luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật, dù chưa được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[1]. Dưới góc độ quản lý, truyền thông chính sách là cách thức mà các cơ quan có thẩm quyền thực hiện phổ biến chính sách của Nhà nước đến với Nhân dân và xã hội nhằm thu thập thông tin, phản hồi và tạo sự đồng thuận, nhất trí cao của dư luận trước khi thực thi chính sách[2]. Dưới góc độ xã hội, truyền thông chính sách được hiểu là quá trình chủ thể chính sách tiếp cận công chúng qua các phương tiện truyền thông để giúp công chúng hiểu biết và ủng hộ chính sách[3]. Hoạt động truyền thông chính sách luôn có tính hai chiều, trong đó, Nhà nước chủ động phổ biến, cung cấp thông tin chính thống về chính sách, pháp luật. Ngược lại, các nhóm và các cá nhân có thể trình bày quan điểm của mình trước truyền thông về vấn đề của chính sách[4]. Trước bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được đưa vào xây dựng, hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới, yêu cầu truyền thông chính sách càng trở nên cấp thiết nhằm định hướng nhận thức xã hội về tín ngưỡng, tôn giáo, hạn chế cách hiểu sai lệch và chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Truyền thông chính sách trong xây dựng dự thảo Luật không chỉ là công cụ phổ biến thông tin, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong củng cố niềm tin của Nhân dân, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước.
1. Yêu cầu của truyền thông chính sách trong xây dựng dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) trong bối cảnh hiện nay
Truyền thông chính sách có vai trò quan trọng trong hầu hết các khâu của chu trình chính sách, từ giai đoạn hoạch định đến thực thi, thể chế hóa chính sách thành pháp luật. Hoạt động truyền thông chính sách giúp Nhà nước phổ biến, cung cấp thông tin tới công chúng, tạo tiền đề để người dân được tham gia, thảo luận và phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách. Một số chức năng phổ biến của hoạt động truyền thông chính sách có thể kể đến như phổ biến, phòng ngừa, phát hiện, phản bác, tiếp thu, bảo vệ… Thậm chí, truyền thông chính sách còn giúp dư luận tạo ra áp lực với Nhà nước trong giải quyết các vấn đề chính sách[5].
Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật, việc thiết kế các chính sách trọng tâm được đặt trong yêu cầu vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh mới. Theo đó, Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của dự thảo Luật gồm bốn nhóm cơ bản, gồm: (i) xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; (ii) phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; (iii) bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; (iv) đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Các chính sách này đã thể hiện mong muốn khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016). Đồng thời, tiếp tục nâng cao cơ hội thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đáp ứng đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, tiếp tục phát huy các giá trị dân chủ, văn minh của loài người và chủ nghĩa xã hội[6]. Bên cạnh đó, dự thảo Luật dần hình thành với nhiều chế định mới, tiến bộ hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, cùng với sự bùng nổ của công cuộc chuyển đổi số và những thay đổi khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hoạt động truyền thông chính sách nói chung hay truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng dự thảo Luật nói riêng, cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, truyền thông chính sách trong dự thảo Luật phải bảo đảm tính kịp thời, đa dạng và tận dụng được sức mạnh của nền tảng số. Gắn với vòng đời của một chính sách, truyền thông chính sách trong xây dựng dự thảo Luật cần được triển khai xuyên suốt, kịp thời ở mọi giai đoạn, gồm hoạch định, đánh giá tác động và sau khi chính sách được ban hành. Bên cạnh đó, phải kịp thời phổ biến dự thảo Luật đến mọi chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các tín đồ tôn giáo. Phương thức truyền thông phải đa dạng và gắn với hoạt động lấy ý kiến, phản biện xã hội đối với dự thảo Luật. Việc tận dụng không gian mạng và các nền tảng số trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay. Không chỉ dừng lại ở các kênh báo chí, truyền hình truyền thống hay các chương trình hội thảo, tọa đàm, mà phải chủ động khai thác các ứng dụng số có độ phủ rộng trong xã hội để đưa thông tin chính sách đến gần hơn với người dân. Các nền tảng như VNeID đã được triển khai rộng rãi nhưng chưa được khai thác hiệu quả cho mục đích truyền thông chính sách, do đó, cần tích hợp nội dung phổ biến pháp luật và thông tin chính sách theo hướng ngắn gọn, dễ tiếp cận và tăng tính tương tác.
Thứ hai, truyền thông chính sách trong xây dựng dự thảo Luật phải thể hiện được chức năng diễn giải và làm rõ chính sách, giúp người dân hiểu đúng, hiểu sâu về chính sách thay vì chỉ đưa tin đơn thuần. Truyền thông chính sách khác với các hoạt động truyền thông thông thường khi không chỉ công bố, đăng tải các quy định của Nhà nước, mà còn giữ vai trò diễn giải một cách rõ ràng, có hệ thống về nội dung, tinh thần và định hướng chính sách được thể hiện trong các quy định. Đây là yếu tố cần thiết bởi pháp luật thường sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành mà không phải mọi chủ thể trong xã hội đều dễ dàng hiểu đúng. Chẳng hạn, dự thảo Luật dùng nhiều thuật ngữ khoa học trong các quy định như tín đồ, chức sắc, chức việc, hiến chương tôn giáo, tư cách pháp nhân, hình thức phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ chức tôn giáo… Đối với các tín đồ tôn giáo, truyền thông chính sách tạo điều kiện để họ tiếp cận thông tin chính thống, từ đó, hiểu rõ và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng như nhận biết các quy định cấm, phòng, chống mê tín dị đoan tiêu cực trong sinh hoạt tôn giáo[7]. Việc tổ chức truyền thông đầy đủ, đa dạng về hình thức và phù hợp về nội dung mang lại hai ý nghĩa cơ bản: (i) góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức pháp lý của người dân trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) tạo nền tảng hiểu biết thống nhất về định hướng chính sách của Nhà nước, qua đó, củng cố sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn.
Thứ ba, hoạt động truyền thông chính sách trong dự thảo Luật phải được triển khai theo một cơ chế chuyên nghiệp, vừa thống nhất, chặt chẽ, vừa linh hoạt. Trước hết, tính thống nhất thể hiện ở việc trao quyền chủ trì phân định cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và hệ thống kênh truyền thông chính thống, bảo đảm sự xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, đồng thời, xây dựng kế hoạch truyền thông đồng bộ với nội dung trọng tâm, thông điệp cốt lõi và các điểm mới của chính sách. Đồng thời, qua cơ chế kiểm soát chặt chẽ, thông tin chính sách phải có độ chính xác khi tiếp cận tới người dân và kịp thời xử lý các thông tin sai lệch, nhầm lẫn. Ngoài ra, hoạt động truyền thông chính sách dự thảo Luật phải thích ứng linh hoạt với đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng vùng, miền và bối cảnh cụ thể, đồng thời, duy trì hiệu quả các kênh đối thoại hai chiều để vừa phổ biến, vừa tiếp nhận ý kiến phản hồi nhằm hoàn thiện chính sách.
Thứ tư, truyền thông chính sách phải gắn liền với nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quạn điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch về chính sách trong dự thảo Luật. Ở Việt Nam, tính chính trị trong tôn giáo là vấn đề được đặt lên hàng đầu với quan điểm nhất quán là không mơ hồ, không chủ quan, không mất cảnh giác nhưng không quá “thổi phồng, cường điệu”[8]. Chính vì vậy, trong quá trình đưa thông tin chính sách đến người dân, cần chú trọng chức năng phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ hình thành và lan rộng nhận thức sai lệch về pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo. Các cơ quan có thẩm quyền chủ động nhận diện những nội dung nhạy cảm, những vấn đề dễ bị hiểu sai hoặc bị lợi dụng để xuyên tạc trong các quy định pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó, kịp thời giải thích và làm rõ[9]. Quan trọng hơn, truyền thông chính sách phải đại diện cho tiếng nói của Nhà nước trong phản bác, đấu tranh, phơi bày các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch. Từ đó, truyền thông chính sách góp phần bảo vệ tính đúng đắn của các quy định pháp luật, giữ vững tinh thần và định hướng giá trị của pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo để củng cố niềm tin của xã hội vào Đảng và Nhà nước.
Thứ năm, truyền thông chính sách phải bảo đảm tính đối thoại hai chiều. Trong hệ quy chiếu chính trị học, truyền thông chính sách không đơn thuần là hoạt động truyền đạt thông tin từ Nhà nước đến xã hội, mà còn là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước[10]. Vì vậy, hoạt động truyền thông cần thiết lập các kênh trao đổi, tham vấn với chức sắc, chức việc, tín đồ và các tổ chức tôn giáo về những nội dung của dự thảo Luật. Cơ chế đối thoại này giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời nắm bắt những vấn đề phát sinh trong nhận thức và thực tiễn hoạt động tôn giáo, đặc biệt là các nội dung dễ gây hiểu khác nhau như thủ tục đăng ký, tổ chức hoạt động tôn giáo hay các quy định liên quan đến nhân sự, tổ chức tôn giáo… Trên cơ sở đó, việc tiếp thu, giải trình và điều chỉnh chính sách sẽ sát thực tiễn hơn, đồng thời, góp phần tạo đồng thuận trong cộng đồng tôn giáo, qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi Luật trong thực tiễn.
2. Một số kết quả và hạn chế của hoạt động truyền thông chính sách trong Luật năm 2016
Sau 08 năm có hiệu lực thi hành, Luật năm 2016 đã khẳng định vai trò là khuôn khổ pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội và tạo cơ sở bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật. Trong giai đoạn Luật có hiệu lực, không gian mạng ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở thành môi trường thông tin có sức ảnh hưởng sâu, rộng đến đời sống xã hội. Sự phổ biến của internet và các nền tảng số đã làm thay đổi cách thức tiếp cận và lan truyền thông tin chính sách, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động truyền thông chính sách, vừa đặt ra yêu cầu về kiểm soát, định hướng thông tin, đặc biệt, trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm hạn chế các thông tin sai lệch trong xã hội.
2.1. Một số kết quả đạt được
Có thể nói, truyền thông chính sách đối với Luật năm 2016 đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần hỗ trợ quá trình đưa pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội.
Thứ nhất, truyền thông chính sách đối với Luật năm 2016 đã được đa dạng về phương thức, cách thức thực hiện. Là văn bản điều chỉnh một lĩnh vực tương đối nhạy cảm, Luật năm 2016 ngay từ khi được thông qua đã gắn với hoạt động tuyên truyền, phổ biến và định hướng nhằm hỗ trợ đưa chính sách vào thực tiễn. Các cơ quan quản lý đã chủ động xây dựng và triển khai các kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tổ chức hội nghị, biên soạn tài liệu và thiết lập các chuyên mục hỏi - đáp pháp luật nhằm cung cấp thông tin đến đội ngũ cán bộ, chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo. Các cơ quan chức năng đã có nhiều tiến bộ khi từng bước sử dụng không gian mạng để đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách tín ngưỡng, tôn giáo. Từ đó, hoạt động truyền thông được thực hiện thông qua nhiều kênh như cổng thông tin điện tử, báo, tạp chí chuyên ngành và các hội nghị chuyên đề, qua đó, giúp các chủ thể từng bước tiếp cận và hiểu rõ hơn các quy định.
Thứ hai, công tác truyền thông chính sách được duy trì liên tục và mở rộng, gắn với việc phổ biến các văn bản hướng dẫn trong quá trình triển khai thi hành như Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần giúp cán bộ, công chức và các tổ chức tôn giáo kịp thời nắm bắt nội dung pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Một số địa phương có số lượng tín đồ tôn giáo lớn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật như Bắc Ninh, Ninh Bình, Gia Lai, Sóc Trăng (nay là Cần Thơ), Kon Tum (nay là Quảng Ngãi). Trong đó, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo cũng như công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã giúp đội ngũ cán bộ địa phương và chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo nâng cao kiến thức, nhận thức, nắm chắc, thông hiểu, chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo của Đảng, Nhà nước[11].
Thứ ba, hoạt động truyền thông chính sách Luật năm 2016 đã kịp thời định hướng nhận thức của người dân, hạn chế hiểu sai về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo. Trong quá trình thực thi các quy định pháp luật trong cộng đồng tôn giáo, khó tránh khỏi những cách hiểu chưa đầy đủ hoặc hiểu sai về nội dung chính sách, làm cho một số chủ thể không nắm bắt đúng quyền, nghĩa vụ và tinh thần của pháp luật. Đặc biệt, nếu kéo dài, tình trạng này có thể làm phát sinh nhận thức lệch lạc, gây khó khăn cho quá trình thực thi pháp luật, thậm chí tạo khoảng trống để các thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc tác động tiêu cực đến cộng đồng tôn giáo. Trước thực trạng đó, hoạt động truyền thông chính sách đã góp phần kịp thời giải thích, làm rõ nội dung chính sách, qua đó định hướng nhận thức xã hội và hỗ trợ bảo đảm thực thi pháp luật trong thực tiễn. Trong đó, các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Truyền hình Công an nhân dân đã phát huy vai trò nòng cốt trong việc cung cấp thông tin chính xác, xây dựng các chuyên đề, phóng sự tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức xã hội về chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo[12].
2.2. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực thi Luật năm 2016 gặp phải nhiều thách thức, vướng mắc. Trong đó, có những hạn chế bắt nguồn từ hoạt động truyền thông chính sách, làm cho các quy định chưa thực sự đi vào đời sống, tạo lỗ hổng cho các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo tinh thần chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cụ thể:
Thứ nhất, hoạt động truyền thông chính sách liên quan đến Luật năm 2016 chưa được tổ chức theo một cơ chế và chưa có tính hệ thống. Việc thiếu đầu mối chuyên trách trong xây dựng kế hoạch, tổ chức và theo dõi truyền thông làm cho hoạt động này chưa đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực nhạy cảm như tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nguồn lực dành cho truyền thông còn hạn chế, cả về kinh phí và nhân lực, trong khi việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia còn chưa thường xuyên, thiếu tính ổn định. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc truyền thông chính sách trong lĩnh vực này chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ và rõ ràng. Đến nay, Nghị định số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật cũng không đề cập cụ thể đến nội dung truyền thông chính sách, pháp luật, trong khi, xét về bản chất, truyền thông chính sách là một khâu không thể tách rời trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, giữ vai trò kết nối giữa chính sách, pháp luật với thực tiễn đời sống xã hội.
Thứ hai, nội dung truyền thông chính sách về Luật năm 2016 ở một số cơ quan báo chí, truyền thông còn thiên về đưa tin nhanh, “giật tít” để thu hút sự chú ý, trong khi thiếu các bài viết chuyên sâu nhằm phân tích, luận giải nội dung và bản chất của các quy định pháp luật. Thực trạng này làm cho thông tin về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo thường dừng ở bề nổi, chưa làm rõ đầy đủ các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền đó theo quy định của pháp luật. Theo thống kê, hàng năm có khoảng 10.000 tin, bài của các cơ quan báo chí, các loại hình báo chí đề cập về phật giáo, đặc biệt là các báo điện tử với lượt truy cập cao[13]. Tuy nhiên, không ít tin, bài về các vấn đề tôn giáo chủ yếu phản ánh sự kiện, vụ việc hoặc các hiện tượng nổi cộm mà thiếu các nội dung giải thích về quy trình đăng ký sinh hoạt tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của tín đồ hay các quy định liên quan đến tổ chức, nhân sự tôn giáo, dẫn đến việc người dân, đặc biệt là tín đồ tôn giáo có thể tiếp cận thông tin nhưng chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa và phạm vi điều chỉnh của Luật. Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh thông tin trên không gian mạng, xu hướng ưu tiên tốc độ và mức độ thu hút có thể làm gia tăng nguy cơ đơn giản hóa hoặc diễn đạt chưa chính xác nội dung chính sách. Từ đó, vô tình tạo khoảng trống thông tin, làm cho các quan điểm sai lệch hoặc xuyên tạc có điều kiện lan truyền và tác động đến nhận thức xã hội.
Thứ ba, kênh đối thoại hai chiều trong truyền thông chính sách đối với Luật năm 2016 còn gặp nhiều rào cản từ tư duy quản lý truyền thống. Ở một số địa phương, truyền thông được nhìn nhận như công cụ hỗ trợ thực thi thay vì là bộ phận cấu thành của quá trình xây dựng chính sách, dẫn đến việc chỉ được triển khai sau khi Luật đã ban hành, bỏ lỡ cơ hội lấy ý kiến xã hội và tạo đồng thuận từ sớm. Nguyên nhân của vấn đề này là do tư duy áp đặt một chiều “quản trị theo mệnh lệnh hành chính” lấn át tư duy “quản trị theo dịch vụ công” thiếu chú trọng tới phản biện từ người dân còn phổ biến[14], làm cho hoạt động truyền thông chủ yếu theo hướng từ trên xuống, chưa quan tâm đầy đủ đến nhu cầu tiếp nhận thông tin của các chủ thể liên quan, qua đó, ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông chính sách trong Luật.
Thứ tư, vai trò của công tác xã hội và những người có ảnh hưởng trong cộng đồng tôn giáo chưa được phát huy hiệu quả trong truyền thông chính sách về Luật năm 2016. Nhiều chủ thể tham gia truyền thông còn hạn chế về kiến thức pháp lý và kỹ năng truyền đạt, dẫn đến việc cung cấp thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác, vô hình trung tạo ra khoảng trống thông tin và nguy cơ phát sinh tâm lý hoài nghi, kháng cự trong xã hội. Ở cấp cơ sở, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc và tôn giáo, một bộ phận cán bộ còn e ngại khi truyền đạt các nội dung pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến chính sách. Với sự phát triển của mạng xã hội, nhiều chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo thường xuyên sử dụng không gian mạng để chia sẻ các nội dung liên quan đến đời sống tôn giáo. Tuy nhiên, việc lồng ghép nội dung chính sách, pháp luật vào các kênh này còn hạn chế, thậm chí trong một số trường hợp còn xuất hiện tình trạng truyền đạt chưa chính xác, làm ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng.
Thứ năm, sự tham gia của hoạt động truyền thông chính sách Luật năm 2016 trong công tác phòng ngừa, phản bác và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chưa thực sự quyết liệt và chưa củng cố tính đồng thuận xã hội một cách toàn diện. Trong những năm gần đây, dù hoạt động truyền thông đã từng bước thực hiện tốt chức năng phát hiện nhiều hiện tượng “núp bóng” tôn giáo, lợi dụng mê tín dị đoan biến tướng để tuyên truyền sai lệch về chính sách của Nhà nước, song, nhìn chung còn thiên về xử lý khi vấn đề đã phát sinh. Vai trò chủ động phòng ngừa, dự báo sớm những nội dung dễ bị các nhóm thù địch lợi dụng để xuyên tạc và sự tham gia quyết liệt trong phản bác, đấu tranh của hoạt động truyền thông chính sách còn hạn chế.
Những năm qua, các thế lực cực đoan, phản động liên tục sử dụng các hoạt động truyền thông dưới nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để chống phá Đảng và Nhà nước. Trong đó, các quy định trong Luật năm 2016 thường xuyên bị lợi dụng để xuyên tạc. Trên nhiều trang mạng xã hội, Luật năm 2016 cùng các văn bản liên quan đã bị bóp méo như một cơ chế kiểm soát cứng nhắc, độc tài, cho rằng Nhà nước can thiệp và hạn chế đời sống tín ngưỡng thông qua các thủ tục hành chính[15]. Một số đối tượng cho rằng, quy định trong Luật năm 2016 “không phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế” khi lấy mô hình phương Tây làm thước đo chung, mà phủ nhận quyền tự chủ của Việt Nam trong xây dựng thể chế pháp luật phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa - xã hội và trình độ phát triển. Đồng thời, các thế lực này còn đưa ra quan điểm Việt Nam “đàn áp tôn giáo” với các giáo hội tự phát mà chỉ công nhận các tổ chức tôn giáo chịu sự quản lý của Nhà nước khi Luật năm 2016 quy định về nội dung công nhận tổ chức tôn giáo[16] và bị diễn giải sai lệch thành cơ chế “xin - cho”[17]. Việc xử lý các hiện tượng lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để vi phạm pháp luật hoặc hoạt động mê tín dị đoan như các tà đạo, đạo lạ có tính chất trục lợi, trái ngược với truyền thống đạo đức của người Việt cũng trở thành cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng và xuyên tạc, quy chụp[18]. Một số cá nhân, tổ chức ở nước ngoài thường xuyên công bố các báo cáo dựa trên nguồn thông tin thiếu khách quan và kiến nghị đưa Việt Nam vào “Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC), nhằm tạo sức ép về ngoại giao, kinh tế và làm cơ sở can thiệp vào công việc nội bộ[19]. Các luận điệu xuyên tạc, sai trái kể trên thường lôi kéo tâm lý của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như các cá nhân, tổ chức cực đoan ở nước ngoài; nhóm người Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài tìm cách chống đối chế độ ở Việt Nam; cá nhân, tổ chức bất mãn trong nước[20]… Mặt khác, cơ hội được tiếp cận với thông tin chính thống của một bộ phận người dân chưa cao, dễ bị tác động bởi các thông tin sai lệch, nhất là những nhóm người sống ở vùng sâu, vùng xa hay các nhóm yếu thế trong xã hội[21]. Hệ quả là các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo có xu hướng gia tăng, tạo điều kiện cho các hiện tượng mê tín dị đoan, thương mại hóa tôn giáo phát triển, giảm niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Nhà nước…
Dù nắm bắt được thực trạng này nhưng hoạt động truyền thông chính sách đối với Luật năm 2016 cho thấy những hạn chế nhất định trong phòng ngừa, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc và lan tỏa tính đồng thuận xã hội. Hạn chế này thể hiện ở việc truyền thông chính sách chưa thật sự chủ động nhận diện, dự báo sớm những nội dung nhạy cảm hoặc các quy định dễ bị lợi dụng để xuyên tạc nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa từ sớm, từ xa. Trong nhiều trường hợp, việc phản bác còn chậm trễ, thiếu tính kịp thời, chưa tạo được sức nặng thuyết phục và chưa theo kịp tốc độ lan truyền của thông tin sai lệch trên không gian mạng, dẫn đến có thời điểm truyền thông chính thống rơi vào thế bị động, chủ yếu xử lý khi dư luận đã phát sinh. Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông chưa thực sự hình thành được nền tảng thông tin đủ mạnh để lan tỏa rộng rãi sự đồng thuận xã hội, nhất là đối với các nhóm dễ bị tác động bởi thông tin sai lệch hoặc ở những địa bàn nhạy cảm về tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, việc hợp tác truyền thông quốc tế để chủ động cung cấp thông tin, phản bác, đẩy lùi tác động của các thế lực thù địch cũng chưa được phát huy tương xứng. Vì vậy, vai trò của truyền thông chính sách trong bảo vệ chính sách, củng cố niềm tin xã hội và hỗ trợ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cần tiếp tục được tăng cường.
Ngoài ra, một số hạn chế còn xuất phát từ sự chậm đổi mới của các cơ quan truyền thông chính thống, làm giảm vai trò dẫn dắt dư luận trong môi trường thông tin đa chiều. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong truyền thông chính sách còn hạn chế, trong khi nội dung truyền thông thiếu chiều sâu, chưa phù hợp theo nhóm đối tượng và chưa tận dụng tối ưu không gian mạng. Bên cạnh đó, một số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đến công tác truyền thông, kiến thức pháp luật và kỹ năng truyền thông chính sách của một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở, còn hạn chế.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Trước yêu cầu của công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và chuyển đổi số quốc gia mạnh mẽ, dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã được đưa vào xây dựng, hoàn thiện nhằm tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua đánh giá, hoạt động truyền thông chính sách đối với dự án Luật chưa đạt hiệu quả tối ưu, chủ yếu được đẩy mạnh khi chính sách đã ban hành hoặc dự thảo Luật đã hình thành. Vì vậy, để tiếp tục khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách đối với dự thảo Luật cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế theo hướng xây dựng cơ chế truyền thông chính sách là một quy trình trong hoạt động xây dựng pháp luật nói chung. Hoạt động truyền thông chính sách cần được thực hiện đồng bộ, theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[22] và Luật Báo chí năm 2016, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012… coi đây là một bước thiết yếu không thể thiếu trong quá trình soạn thảo, thẩm định và ban hành dự án Luật. Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng các chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường phối hợp với các cơ quan báo chí và truyền thông, bảo đảm thông tin về dự án luật đến được công chúng kịp thời, chính xác và dễ tiếp cận. Mục tiêu cuối cùng là để mỗi dự án luật đều đi kèm với một chuyên đề truyền thông chính sách, giúp người dân hiểu rõ nội dung, ý nghĩa và tác động của pháp luật, đồng thời, tăng cường minh bạch và hiệu quả của quá trình lập pháp[23]. Mặt khác, cần xác định truyền thông chính sách là nội dung cấu thành trong công tác tổ chức thi hành pháp luật, bởi hoạt động này gắn liền xuyên suốt từ giai đoạn hình thành, xây dựng đến khi chính sách được triển khai trong thực tiễn.
Hai là, cần xác định rõ và trao quyền cho các chủ thể chính danh trong tổ chức truyền thông chính sách đối với dự thảo Luật. Để hoạt động này được thực hiện chuyên nghiệp, cần đề cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong cung cấp và định hướng thông tin chính thống. Trong đó, Chính phủ giữ vai trò trung tâm trong chỉ đạo, điều phối, bảo đảm thống nhất về nội dung truyền thông. Các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm cụ thể hóa nội dung truyền thông gắn với chức năng quản lý và tổ chức thi hành pháp luật. Hệ thống báo chí, truyền thông chính thống giữ vai trò lan tỏa thông tin và định hướng dư luận, lực lượng tại cơ sở và người có uy tín trong cộng đồng tôn giáo góp phần truyền tải thông tin phù hợp với từng địa bàn. Sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể này là điều kiện bảo đảm tính chính xác, thống nhất và hiệu quả của truyền thông chính sách.
Ba là, nâng cao năng lực chuyên môn cho chủ thể tham gia truyền thông chính sách trong xây dựng dự thảo Luật. Có thể thấy, năng lực truyền thông có tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của truyền thông chính sách đối với công chúng[24]. Vì vậy, việc nâng cao chuyên môn, kỹ năng cho các chủ thể tham gia truyền thông chính sách là hết sức cần thiết. Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan có thể xây dựng Bộ hướng dẫn truyền thông chính sách, đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức phụ trách truyền thông. Trong đó, trọng tâm là nâng cao năng lực truyền thông chính sách của hệ thống các cơ quan nhà nước, nhằm bảo đảm tính dân chủ của quản trị nhà nước hiện đại, tăng cường sự tham gia của xã hội, cộng đồng tôn giáo và các tổ chức tư vấn chính sách vào quá trình quản trị và xây dựng dự thảo Luật. Cùng với đó, cần tổ chức các buổi họp, hội thảo chuyên đề nhằm bổ sung kiến thức về chính sách và pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo cho các phóng viên, tình nguyện viên, cũng như người chủ trì các cơ sở tôn giáo, bảo đảm mọi thông tin phổ biến ra công chúng được chính xác, dễ hiểu và phù hợp với thực tiễn.
Bốn là, thiết lập cơ chế đối thoại hai chiều trên nền tảng số trong truyền thông chính sách đối với dự thảo Luật. Hoạt động này cần được triển khai theo kế hoạch cụ thể, xác định rõ các nội dung trọng tâm, điểm mới của dự thảo Luật để phổ biến rộng rãi, đồng thời, tiếp nhận và xử lý kịp thời ý kiến phản hồi từ xã hội, đặc biệt là tâm tư, nguyện vọng của các tín đồ tôn giáo. Các nền tảng đối thoại có thể gồm cổng thông tin điện tử, mạng xã hội chính thống, ứng dụng số như VNeID hoặc các diễn đàn trực tuyến do cơ quan nhà nước tổ chức, bảo đảm tính công khai, thuận tiện và thu hút sự tham gia rộng rãi của người dân.
Năm là, tăng cường áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi truyền thông sai lệch chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh các biện pháp tuyên truyền và định hướng thông tin, cần coi chế tài pháp lý là công cụ răn đe quan trọng đối với các hành vi cố ý xuyên tạc, bóp méo hoặc lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để gây hiểu lầm trong xã hội. Việc xác định rõ hành vi vi phạm, quy định mức xử lý phù hợp và bảo đảm thực thi nghiêm minh, kể cả áp dụng chế tài hình sự trong trường hợp nghiêm trọng, góp phần bảo vệ Dân chủ và Pháp luật trật tự trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và nâng cao hiệu lực của dự thảo Luật trong thực tiễn.
Ngoài ra, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường hợp tác, mở rộng truyền thông quốc tế về dự thảo Luật gắn với việc lan tỏa các giá trị tích cực theo định hướng của Việt Nam. Việc chủ động cung cấp thông tin chính thống trên các nền tảng số và các kênh truyền thông quốc tế không chỉ nâng cao khả năng tiếp cận của cộng đồng quốc tế, mà còn góp phần phòng ngừa, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc từ bên ngoài, bảo vệ hình ảnh và chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết luận
Có thể nói, truyền thông chính sách trong xây dựng dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) cần được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh mới. Yêu cầu này cũng phù hợp với quan điểm “đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số” mà Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra. Truyền thông chính sách dự thảo Luật cần được triển khai một cách đồng bộ, chuyên nghiệp và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, gắn với chuyển đổi số và tăng cường năng lực phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc để bảo đảm tính minh bạch, củng cố niềm tin của người dân với chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
ThS. GV. Trần Thế Nghĩa
Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội
Ảnh: Internet
[1]. Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025)
[2]. Nguyễn Đức Thắng (2024), Nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông chính sách, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/22/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-truyen-thong-chinh-sach/, truy cập ngày 10/3/2026.
[3]. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.7-8.
[4]. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (Đồng chủ biên, 2013), Đại cương về Chính sách công, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 266-267.
[5]. Lê Văn Hòa (2023), Truyền thông chính sách trong chuyển đổi số ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 330 (7/2023), tr.8.
[6]. Tờ trình số 67/TTr-CP của Chính phủ về Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) ban hành ngày 09/3/2026.
[7]. Tô Văn Phú (2026), Vai trò của truyền thông trong phòng, chống mê tín dị đoan hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 10/2023.
[8]. Đỗ Lan Hiền (2022), An ninh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, dự báo và vấn đề chính sách, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.272.
[9]. Lưu Hoài Nga (2024), Năng lực truyền thông chính sách trong quản trị nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339, tháng 4/2024.
[10]. Nguyễn Thị Ngọc Hoa, Lê Kiến Hưng (2025), Những rào cản đối với truyền thông chính sách của Việt Nam trong kỷ nguyên số, Tạp chí Lý luận chính trị, https://lyluanchinhtri.vn/nhung-rao-can-doi-voi-truyen-thong-chinh-sach-cua-viet-nam-trong-ky-nguyen-so-10382.html, truy cập ngày 05/3/2026.
[11]. Trang thông tin Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh, Những kết quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo tỉnh Bắc Ninh năm 2016, https://snv2.bacninh.gov.vn/news/-/details/57424/nhung-ket-qua-trong-cong-tac-tuyen-truyen-pho-bien-chinh-sach-phap-luat-cua-ang-nha-nuoc-cho-chuc-sac-chuc-viec-nha-tu-hanh-tin-o-cac-ton-giao-tinh-ba, truy cập ngày 07/3/2026.
[12]. Trang thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ, Đài VTV với nhiệm vụ tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, https://mst.gov.vn/dai-vtv-voi-nhiem-vu-tuyen-truyen-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-, truy cập ngày 07/3/2026.
[13]. Nguyễn Việt (2019), Hệ lụy từ cách giật tít câu view trong truyền thông, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, https://diendandoanhnghiep.vn/he-luy-tu-cach-giat-tit-cau-view-trong-truyen-thong-10054063.html truy cập ngày 07/3/2026.
[14]. Nguyễn Thị Ngọc Hoa, Lê Kiến Hưng (2025), tlđd, truy cập ngày 05/3/2026.
[15]. Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Hưng Yên, Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, https://congan.hungyen.gov.vn/dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-cua-cac-the-luc-thu-dich-phan-dong-luu-vong-xuyen-tac-cho-rang-viet-nam-dan-ap-ton-giao-c233442.html, truy cập ngày 10/3/2026.
[16]. Mục 1, Chương V Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định các tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện.
[17]. Nguyễn Mạnh Quang (2026), Không thể xuyên tạc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 01/2026, tr.95.
[18]. Thành Chung (2023), Bộ Nội vụ nói về việc xử lý ‘tà đạo’, truyền đạo trên mạng, Báo Tuổi trẻ Online, https://tuoitre.vn/bo-noi-vu-noi-ve-viec-xu-ly-ta-dao-truyen-dao-tren-mang-20230730132900017.htm, truy cập ngày 10/3/2026.
[19]. Nguyễn Thị Trường Giang (2024), Nhận diện và phản bác luận điệu xuyên tạc, chống phá chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam qua một số “hiện tượng mạng” liên quan đến tôn giáo, Tạp chí Cộng sản, Số tháng 10/2024.
[20]. Phạm Thanh Hằng (2023), Nhận diện và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 540 (2/2023), tr.67.
[21]. Uyên Nhi (2026), Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/nang-cao-hieu-luc-hieu-qua-cong-tac-quan-ly-nha-nuoc-ve-tin-nguong-ton-giao-trong-tinh-hinh-moi-9008.html, truy cập ngày 05/3/2026.
[22]. Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025)
[23]. Gia Huy (2026), Truyền thông chính sách cần trở thành quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/truyen-thong-chinh-sach-can-tro-thanh-quy-trinh-bat-buoc-trong-xay-dung-va-thi-hanh-phap-luat-102260115122400837, truy cập ngày 10/3/2026.
[24]. Lưu Hoài Nga (2024), tlđd, tr.57.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Thắng (2024), Nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông chính sách, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/22/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-truyen-thong-chinh-sach/, truy cập ngày 10/3/2026.
2. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.7-8.
3. Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (Đồng chủ biên, 2013), Đại cương về Chính sách công, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 266-267.
4. Lê Văn Hòa (2023),Truyền thông chính sách trong chuyển đổi số ở Việt Nam,Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 330 (7/2023), tr.8
5. Tờ trình số 67/TTr-CP của Chính phủ về Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) ban hành ngày 09/3/2026.
6. Tô Văn Phú (2026), Vai trò của truyền thông trong phòng, chống mê tín dị đoan hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 10/2023.
7. Đỗ Lan Hiền (2022), An ninh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, dự báo và vấn đề chính sách, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.272.
8. Lưu Hoài Nga (2024), Năng lực truyền thông chính sách trong quản trị nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339, tháng 4/2024.
9. Nguyễn Thị Ngọc Hoa, Lê Kiến Hưng (2025), Những rào cản đối với truyền thông chính sách của Việt Nam trong kỷ nguyên số, Tạp chí Lý luận chính trị, https://lyluanchinhtri.vn/nhung-rao-can-doi-voi-truyen-thong-chinh-sach-cua-viet-nam-trong-ky-nguyen-so-10382.html, truy cập ngày 10/3/2026.
10. Trang thông tin Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh, Những kết quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo tỉnh Bắc Ninh năm 2016, https://snv2.bacninh.gov.vn/news/-/details/57424/nhung-ket-qua-trong-cong-tac-tuyen-truyen-pho-bien-chinh-sach-phap-luat-cua-ang-nha-nuoc-cho-chuc-sac-chuc-viec-nha-tu-hanh-tin-o-cac-ton-giao-tinh-ba, truy cập ngày 10/3/2026.
(Nguồn: “Hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)