Thứ năm 08/10/2026 07:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ý nghĩa và giá trị sử dụng của Bộ pháp điển ở Việt Nam

Thuật ngữ “pháp điển” trong tiếng Anh là “codification” đi từ gốc “code” có nghĩa pháp lý thông dụng là “bộ luật” - có gốc là một từ Latin “codex”. Vào thời La Mã cổ đại, “codex” được sử dụng để chỉ các cuốn sách đóng gáy

1. Pháp điển là gì?
Thuật ngữ “pháp điển” trong tiếng Anh là “codification” đi từ gốc “code” có nghĩa pháp lý thông dụng là “bộ luật” - có gốc là một từ Latin “codex”. Vào thời La Mã cổ đại, “codex” được sử dụng để chỉ các cuốn sách đóng gáy, thay thế cho sách ống cuộn trước đó - đây là hình thức pháp điển sơ khai. Lúc đầu, đó là những tấm ván gỗ mỏng được làm thành bảng để viết lên trên, sau đó dần được chế tạo tỉ mỉ và ghép lại với nhau thành “codex” - “tập sách gỗ” nhằm thu thập, biên tập lại các bản chép tay trước đó. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm ra những bộ luật cổ xưa là minh chứng cho việc pháp điển hóa, điển hình là bộ luật nổi tiếng Hammurabi. Ở Việt Nam, “pháp điển” là một từ Việt cũ, trong đó “pháp” có nghĩa là pháp luật, “điển” có nghĩa là chuẩn mực hoặc sách được coi là mẫu mực (như từ điển - có nghĩa là cuốn sách chuẩn mực về từ ngữ). Một số từ điển Hán Việt giải thích pháp điển là một từ Việt cũ, một danh từ dùng để chỉ bộ luật, tương đương với từ “code” trong tiếng Anh.

Đến nay, sau những biến động lịch sử, những biến chuyển về khái niệm, quan điểm pháp điển, tùy theo quốc gia, văn hóa và hoàn cảnh lịch sử mà mỗi nước tiến hành pháp điển khác nhau. Nhưng về cơ bản, có thể hiểu pháp điển là việc soạn thảo, xây dựng một văn bản mới trên cơ sở tổng hợp các văn bản từ nhiều nguồn khác nhau. Văn bản mới có tính quy mô lớn hơn; các quy định được sắp xếp khoa học hơn giúp cho việc tra cứu được dễ dàng, thuận lợi (như các bộ luật, bộ luật pháp điển - khác các văn bản đơn lẻ). Tuy nhiên, trong mấy thập kỷ gần đây, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật gia tăng nhanh chóng và một yêu cầu khách quan đặt ra là phải có những mô hình xây dựng và kiểm soát pháp luật một cách hợp lý và hiệu quả. Chính vì vậy, một số quốc gia đã tiến hành pháp điển tổng thể toàn bộ hệ thống pháp luật của mình cùng một lúc nên cách làm cũng sẽ khác nhau. Xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ ở một số nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật thành văn. Tuy nhiên, về cơ bản, hiện nay có thể chia thành hai cách pháp điển: Pháp điển về mặt nội dung và pháp điển về mặt hình thức.

(i) Pháp điển về mặt nội dung (substantive codification): Đây là cách pháp điển truyền thống, nó tạo ra quy phạm mới. Cách pháp điển này là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở rà soát, hệ thống hóa, tập hợp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào một văn bản với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng các bộ luật của nước ta như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự; Bộ luật Lao động... được thực hiện theo hình thức pháp điển này. Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường. Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng pháp điển về mặt nội dung có những hạn chế như: Khó, mất nhiều thời gian, chỉ thực hiện pháp điển đối với từng lĩnh vực một mà không pháp điển tổng thể hệ thống quy phạm pháp luật được. Trong khi đó, nhu cầu rất lớn của các chủ thể trong xã hội là có thể dễ dàng tiếp cận với các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo các lĩnh vực khác nhau. Điều này chỉ có thể giải quyết được thông qua việc sử dụng cách thức pháp điển về hình thức với những ưu thế về tính tổng thể và tính thực dụng của nó.

(ii) Pháp điển hình thức (formal codification): Cách pháp điển này có tính chất gần với hệ thống hóa. Hệ thống hóa là việc tập hợp, sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật có cùng chủ đề vào với nhau với bố cục logic, phù hợp, sản phẩm là tập hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Còn pháp điển về mặt hình thức cũng là việc tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật có cùng chủ đề vào với nhau nhưng cơ quan có thẩm quyền có thể sửa đổi, điều chỉnh để các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, việc sửa đổi, điều chỉnh trong quá trình pháp điển chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, bảo đảm trật tự của Bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách pháp luật mới. Kết quả cuối cùng của quá trình pháp điển theo hình thức này là các Bộ pháp điển có tính quy mô lớn hơn các văn bản pháp luật thông thường. Như vậy, pháp điển về mặt hình thức không phải là việc tạo ra các bộ luật đồ sộ mà là việc sắp xếp các quy phạm pháp luật theo các chủ đề để tiện tra cứu.

Hoạt động pháp điển ở Việt Nam hiện nay là pháp điển về hình thức. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tập hợp, sắp xếp đầy đủ các quy phạm pháp luật từ cấp thông tư trở lên đang còn hiệu lực vào Bộ pháp điển theo trật tự hợp lý và thường xuyên, kịp thời cập nhật quy phạm pháp luật mới vào Bộ pháp điển hoặc loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển mà chưa đặt ra việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật cho phù hợp trong khi thực hiện pháp điển và cũng chưa đặt ra giá trị pháp lý của Bộ pháp điển trong áp dụng và thực hiện pháp luật, do đó, Bộ pháp điển khi được Chính phủ thông qua sẽ không thay thế/bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật sử dụng để pháp điển.

2. Ý nghĩa của Bộ pháp điển ở Việt Nam

Trong những năm qua, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều vấn đề đang đặt ra như hệ thống pháp luật còn rất phức tạp, cồng kềnh, nhiều tầng nấc; số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành rất lớn và có xu hướng tiếp tục gia tăng. Trong điều kiện đó, việc xây dựng Bộ pháp điển về mặt hình thức ở Việt Nam là hết sức cần thiết, góp phần tạo bước chuyển biến mới về chất của hệ thống pháp luật, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đồng thời, Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính thống nhất, đồng bộ; tính công khai, minh bạch; dễ tra cứu, áp dụng pháp luật; giảm chi phí tuân thủ pháp luật - thỏa mãn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ pháp điển giúp dễ dàng, thuận lợi trong việc tìm kiếm, tra cứu các quy định của pháp luật, qua đó góp phần giảm chi phí tuân thủ pháp luật

Hiện nay, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngoài việc được phát hành bằng văn bản giấy gửi đến các đối tượng cụ thể còn được đăng tải bản điện tử trên một số sơ sở dữ liệu về pháp luật trên môi trường mạng internet để giúp người dân có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật. Trong đó, có các cơ sở dữ liệu chính thống được Nhà nước xây dựng và bảo đảm giá trị của văn bản trong áp dụng và thi hành pháp luật như Công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tuy nhiên, Công báo điện tử mới chỉ là việc đăng tải đầy đủ nội dung của văn bản một cách kịp thời mà không được cập nhật các thông tin về văn bản đó khi có sự thay đổi (như đã được bãi bỏ, hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung). Do đó, các cá nhân, tổ chức khi tìm kiếm văn bản trên Công báo điện tử sẽ không thể biết được tình trạng pháp lý của văn bản đó như thế nào (còn hiệu lực hay đã hết hiệu lực, có nội dung nào được sửa đổi, bổ sung không) gây khó khăn cho việc tìm kiếm, tra cứu các quy định của pháp luật để giải quyết một công việc cụ thể. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật do Bộ Tư pháp xây dựng trên cơ sở Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ cơ bản được cập nhật kịp thời tình trạng pháp lý của các văn bản, tức là văn bản đó còn hiệu lực, hết hiệu lực toàn bộ, hết hiệu lực một phần nhưng về tình trạng pháp lý đối với từng quy định cụ thể thì vẫn chưa được chỉ rõ. Vì vậy, khi tra cứu, tìm kiếm đến từng quy định trong văn bản thì vẫn cần phải rà soát, đối chiếu, so sánh các quy định với nhau mới có thể xác định chính xác tình trạng hiệu lực của quy định đó. Ngoài ra, hiện nay có một số cơ sở dữ liệu do tư nhân xây dựng có một số tính năng ưu việt hơn so với Công báo điện tử và cơ sở dữ dữ liệu quốc gia về pháp luật như xác định rõ tình trạng pháp lý đối với từng văn bản và từng quy định cụ thể. Tuy nhiên, thông tin về tình trạng pháp lý của các văn bản do những cơ sở dữ liệu này đăng tải có nguồn gốc không bảo đảm (như không có văn bản chính thức khi phát hành; tình trạng pháp lý của văn bản không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khẳng định). Hơn nữa, cả Công báo, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật hay các cơ sở dữ liệu về pháp luật do tư nhân xây dựng mới chỉ tập hợp, sắp xếp các văn bản với nhau theo chủ đề, theo một trật tự nhất định mà chưa sắp xếp đến từng nội dung cụ thể. Trong khi đó, Bộ pháp điển đã khắc phục được toàn bộ những hạn chế của các cơ sở dữ liệu về pháp luật nêu trên. Tức là, các quy định trong Bộ pháp điển được Chính phủ xác định là đang còn hiệu lực; các quy định được sắp xếp với nhau theo một trật tự logic, khoa học để dễ dàng tra cứu, tìm kiếm; cập nhật kịp thời các quy phạm pháp luật mới ban hành và loại bỏ các quy phạm pháp luật hết hiệu lực ra khỏi Bộ pháp điển. Với cấu trúc và tính chất của Bộ pháp điển hiện nay, có thể nói rằng Bộ pháp điển góp phần tích cực, hiệu quả, giúp người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước dễ dàng, thuận tiện trong tìm kiếm, tra cứu các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực, làm giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

Thứ hai, Bộ pháp điển góp phần bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ và tính hoàn thiện của hệ thống quy phạm pháp luật

Hiện nay, một văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên ban hành kèm theo rất nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của cơ quan có thẩm quyền ở cấp dưới, làm cho hệ thống pháp luật trở nên quá đồ sộ, chưa kể đến việc các cơ quan hành pháp còn thường xuyên ban hành các văn bản để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình. Với một lượng lớn các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản pháp quy như trên tương ứng với các hình thức văn bản nhất định, chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng “lạm phát” văn bản, dẫn đến hệ quả là mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp giữa các văn bản. Thông qua việc pháp điển, sắp xếp các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhau vào một chỗ góp phần chỉ ra những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp để cơ quan nhà nước kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ cho phù hợp để bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Bên cạnh đó, việc pháp điển, sắp xếp các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhau vào một chỗ giúp cho chúng ta dễ dàng nhận ra những “khoảng trống” các quan hệ xã hội chưa có các quy phạm pháp luật điều chỉnh, để kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh các quan hệ xã hội này. Hay trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật, với việc xây dựng Bộ pháp điển giúp cho cơ quan lập pháp, cơ quan soạn thảo văn bản có cái nhìn tổng thể, toàn diện về thực trạng hệ thống pháp luật hiện nay, từ đó các điều của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành được xây dựng sẽ phù hợp và thống nhất với các quy định khác trong hệ thống pháp luật, hạn chế được trường hợp các văn bản cấp dưới trái với quy định của cấp trên hay những quy định mâu thuẫn, chồng chéo với các quy định của pháp luật khác. Có thể nói, từ kết quả pháp điển các đề mục, các chủ đề trong Bộ pháp điển sẽ giúp hoạt động lập quy được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội; bảo đảm sự phù hợp với các văn bản của cấp trên và các văn bản của cơ quan quản lý về lĩnh vực đó.

Như vậy, kết quả pháp điển các đề mục, các chủ đề trong Bộ pháp điển sẽ góp phần tích cực trong việc bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ và tính hoàn thiện của hệ thống quy phạm pháp luật từ cấp thông tư trở lên.

Thứ ba, Bộ pháp điển góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, tạo sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật

Mặc dù hiện nay, việc phát hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định cụ thể và thực hiện một các nghiêm túc nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật như: Việc phát hành văn bản quy phạm pháp luật tới các địa chỉ theo quy định về văn thư, lưu trữ có tính đặc thù là phải đăng tải trên Công báo Chính phủ (cả Công báo giấy và Công báo điện tử); đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; đăng tải trên Cổng thông tin của các bộ, ngành ban hành hoặc chủ trì soạn thảo văn bản đó… Ngoài ra, các bộ, ngành còn thực hiện các hoạt động khác như tổ chức tuyên truyền, giới thiệu các văn bản mới ban hành đến các đối tượng chịu sự tác động của văn bản hoặc tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi trong toàn xã hội (thông qua hội nghị, hội thảo, các phương tiện truyền thông như truyền hình, phát thanh, báo chí…). Tuy nhiên, với hệ thống pháp luật cồng kềnh, phức tạp như của nước ta hiện nay thì việc tiếp cận, tra cứu, tìm kiếm các quy định liên quan, giải quyết các công việc cụ thể là tương đối khó khăn. Tức là tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật bị mất đi bởi tính phức tạp của hệ thống pháp luật.

Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy, trong lĩnh vực pháp luật, tình trạng phổ biến là các quy định còn tản mạn, phân tán trong nhiều văn bản. Người dân, doanh nghiệp rất khó khăn trong tiếp cận các quy định. Có trường hợp chính cơ quan ban hành văn bản cũng không xác định được giá trị hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành, thậm chí các cơ quan nhà nước có quan điểm khác nhau về hiệu lực của một văn bản quy phạm pháp luật cũng không phải là hiếm. Trong khi đó, Bộ pháp điển là tập hợp toàn bộ các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành được sắp xếp theo một bố cục khoa học, logic; được cập nhật và sửa đổi một cách liên tục, thường xuyên gắn bó với tiến trình hoạt động lập pháp. Bộ pháp điển được đăng tải và duy trì thường xuyên, liên tục trên Cổng thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí.

Nhìn chung, từ lợi ích mà Bộ pháp điển đem lại sẽ góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật và tạo sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật.

TS. Đồng Ngọc Ba

Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: