Thứ bảy 10/10/2026 06:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014, có hiệu lực ngày 01/01/2016, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014, có hiệu lực ngày 01/01/2016, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công chức làm công tác đăng ký hộ tịch đã tạo điều kiện thuận lợi thực hiện quyền đăng ký hộ tịch của người dân, tăng cường hiệu quả, chất lượng đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, theo thống kê của Ngành Tư pháp, số lượng yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch trong những năm gần đây vẫn có chiều hướng tăng, thậm chí có giai đoạn, có nơi còn tăng đột biến. Ngoài yếu tố lịch sử[1] thì các sai sót dẫn đến phải thực hiện việc thay đổi, cải chính hộ tịch phần lớn là do nhiều người tự ý thêm bớt, sửa chữa thông tin cá nhân trên giấy tờ hộ tịch (kể cả giấy khai sinh); sử dụng tùy tiện chữ đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh của mình, sử dụng bản sao giấy tờ hộ tịch được cấp không đúng quy định. Bên cạnh đó, do quy định pháp luật có tính cải cách, đơn giản hóa nên qua kiểm tra, thanh tra đã phát hiện nhiều trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện thay đổi, cải chính hộ tịch chưa chặt chẽ, thiếu giấy tờ, tài liệu làm cơ sở chứng minh việc có sai sót khi đăng ký hộ tịch; cho phép thay đổi/cải chính hộ tịch nhằm mục đích hợp lý hóa hồ sơ, giấy tờ cá nhân...

Bài viết này, tác giả mong muốn tập trung làm rõ một số vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành để làm cơ sở đánh giá, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật hộ tịch, bảo đảm ở mức cao nhất quyền nhân thân của công dân, đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người dân và cơ quan đăng ký hộ tịch trong việc thực hiện các yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch trong thời gian tới.

1. Pháp luật về cải chính hộ tịch chưa có quy định hướng dẫn cụ thể, dễ xảy ra tình trạng giải quyết không thống nhất giữa các cơ quan đăng ký hộ tịch, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân

Thứ nhất, về căn cứ cải chính hộ tịch

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch năm 2014 thì cải chính hộ tịch là việc “chỉnh sửa thông tin cá nhân trong sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch”.

Như vậy, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ thực hiện cải chính hộ tịch khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Sai sót có thể của người yêu cầu đăng ký hộ tịch hoặc của công chức làm công tác hộ tịch do cung cấp thông tin, ghi thông tin trong giấy tờ, sổ hộ tịch; có thể là sai sót về thông tin của chính người được cấp giấy tờ hộ tịch, cũng có thể là sai sót về thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký hộ tịch... Tuy nhiên, Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa có quy định cụ thể về “sai sót” được xác định là căn cứ để thực hiện cải chính hộ tịch, nên khi tiếp nhận yêu cầu cải chính hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch lúng túng vì phải chủ động xác định giấy tờ, tài liệu nào là căn cứ để cải chính hộ tịch, nhiều trường hợp phải tiến hành kiểm tra, xác minh trước khi giải quyết yêu cầu của người dân.

Thứ hai, việc thay đổi quy định pháp luật qua các thời kỳ dẫn đến tình trạng quê quán của con không trùng với quê quán của cha hoặc mẹ nhưng không có cơ sở để cải chính

Trong giai đoạn 1999 - 2006, theo hướng dẫn tại mẫu giấy tờ hộ tịch ban hành kèm theo Quyết định số 1203-QĐ/1998/TP-HT ngày 26/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì mục quê quán trong giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh được ghi theo nơi sinh trưởng của cha đẻ, nếu không rõ cha đẻ là ai thì theo nơi sinh trưởng của mẹ đẻ. Quy định pháp luật trong giai đoạn này dẫn đến nhiều trường hợp con và cha, mẹ không cùng quê quán với nhau, con sinh ra và lớn lên ở chính nơi là quê quán của cha đẻ hoặc mẹ đẻ nhưng quê quán được ghi trong giấy tờ hộ tịch lại là một nơi hoàn toàn khác (do cha đẻ/mẹ đẻ có quê quán và nơi sinh khác nhau). Ví dụ: Quê quán của cha là Hà Tĩnh, con sinh ra và lớn lên ở Hà Tĩnh, nhưng thông tin quê quán ghi trên giấy khai sinh là “Quảng Bình”.



Đối với những trường hợp xác định quê quán theo nguyên tắc nêu trên, vấn đề phát sinh ở thời điểm hiện nay là, khi công dân có yêu cầu cấp thẻ căn cước công dân, cơ quan công an đề nghị phải thực hiện cải chính thông tin quê quán trên giấy khai sinh để đảm bảo thống nhất với quê quán của cha, mẹ theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014[2]. Như vậy, về nguyên tắc việc đăng ký khai sinh, xác định quê quán của con theo nơi sinh trưởng của cha là đúng hướng dẫn tại thời điểm đăng ký nên xác định là không có sai sót, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu cải chính hộ tịch. Tuy nhiên, nếu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối cải chính cho những trường hợp này thì dẫn đến quê quán của con khác với quê quán của cha, mẹ; anh, chị, em cùng cha mẹ lại có quê quán khác nhau, gây khó khăn cho người dân khi sử dụng giấy tờ. Do đó, để bảo đảm thống nhất, thuận lợi cho người dân, trong thời gian tới cần xem xét bổ sung quy định hướng dẫn việc điều chỉnh (cải chính) quê quán theo hướng xác định thống nhất theo nguyên tắc xác định quê quán của Luật Hộ tịch.

Thứ ba, chưa có hướng dẫn về việc giải quyết yêu cầu cải chính thông tin trong giấy tờ hộ tịch của người chết

Hiện nay, trong nhiều quan hệ dân sự, đặc biệt là trong việc phân chia di sản thừa kế, nhiều người dân gặp khó khăn khi thông tin trên giấy khai sinh của người chết - người để lại di sản thừa kế có “sai lệch” so với các giấy tờ, hồ sơ cá nhân và giấy tờ liên quan đến tài sản, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tài sản của người để lại di sản thừa kế cũng như quyền lợi của những người có liên quan (vợ/chồng/con/cha, mẹ đẻ). Trong khi đó, hiện nay pháp luật hộ tịch chưa có hướng dẫn về việc có được giải quyết yêu cầu cải chính thông tin trong giấy tờ hộ tịch của người chết hay không?.

Theo tinh thần Luật Hộ tịch năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành[3] thì người yêu cầu giải quyết các việc hộ tịch, trong đó có yêu cầu cải chính hộ tịch, được hiểu là người còn sống, quyền yêu cầu cải chính thông tin trong các giấy tờ hộ tịch là quyền nhân thân của cá nhân, vì vậy phải do chính cá nhân đó thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự. Như vậy, nếu theo đúng tinh thần như trên thì yêu cầu cải chính thông tin trên giấy tờ hộ tịch của người đã chết không có cơ sở thực hiện. Tuy nhiên, việc cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết yêu cầu đối với những trường hợp này ảnh hưởng đến việc xác định tài sản trong trường hợp người chết là chủ sở hữu, xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế, xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan... đặc biệt là phân chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất.

2. Nhiều nội dung có yêu cầu thay đổi hộ tịch nhưng chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết hoặc quy định về việc thay đổi chưa hợp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ em

Một là, yêu cầu thay đổi quê quán

Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định phạm vi thay đổi hộ tịch bao gồm: Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự; thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch thì những thông tin mà cha, mẹ thỏa thuận lựa chọn cho con khi đăng ký khai sinh như họ, chữ đệm, tên, dân tộc thì pháp luật đều có quy định cho phép thay đổi/xác định lại (trừ thông tin về quốc tịch chỉ có thể thay đổi theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam). Trong khi đó, thông tin về quê quán cũng là một trong những thông tin cá nhân mà Luật Hộ tịch cho phép cha, mẹ được thỏa thuận lựa chọn cho con khi đăng ký khai sinh nhưng Bộ luật Dân sự và Luật Hộ tịch không có quy định cho phép thay đổi, điều này là chưa hợp lý, chưa bảo đảm quyền, lợi ích của người dân.

Do đó, đối với trường hợp người dân có yêu cầu thay đổi quê quán từ quê mẹ sang quê cha hoặc ngược lại để phù hợp phong tục, tập quán, tránh mâu thuẫn giữa cha, mẹ, gia đình hai bên (đặc biệt là trường hợp con không lấy quê quán của cha); thuận lợi cho việc đi học, lao động (một số doanh nghiệp không tuyển dụng lao động có quê tại một số tỉnh); không rõ nguồn gốc do gia đình đã thoát ly nhiều đời (đặc biệt là trường hợp có quê quán Trung Quốc); con ngoài giá thú đăng ký khai sinh xác định theo quê quán của mẹ, nay cha nhận con, muốn thay đổi quê quán của con theo quê quán của cha, thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.

Hai là, việc thay đổi hộ tịch trên giấy khai sinh của con nuôi chưa thực sự bảo đảm quyền lợi của trẻ được cho làm con nuôi

Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, nếu có sự thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, sự đồng ý của con nuôi từ 09 tuổi trở lên thì Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh (ĐKKS) cho trẻ em thu hồi giấy khai sinh và thực hiện lại việc ĐKKS với các thông tin mới về cha mẹ nuôi cho trẻ em; tại cột ghi chú của sổ ĐKKS phải ghi rõ là cha mẹ nuôi. Quy định này đáp ứng được yêu cầu về việc bảo đảm quyền lợi của trẻ em được xác định cha mẹ, đồng thời, cũng bảo vệ được bí mật trong quan hệ nhận nuôi con nuôi.

Tuy nhiên, pháp luật hộ tịch hiện hành không quy định việc thu hồi lại giấy khai sinh cũ và thực hiện việc ĐKKS lại với sự thay đổi phần khai về cha, mẹ của trẻ em (theo cha, mẹ nuôi). Trường hợp cha mẹ nuôi có yêu cầu thay đổi phần khai về cha mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký thì thực hiện theo trình tự, thủ tục thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch[4]. Sau khi thực hiện thủ tục thay đổi hộ tịch và được cấp trích lục thay đổi hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ ghi những nội dung thay đổi vào mặt sau giấy khai sinh[5]. Việc thực hiện quy định này có bất lợi là không bảo đảm giữ bí mật thông tin đối với trẻ em được nhận làm con nuôi, khi sử dụng bản chính giấy khai sinh với những thông tin về cha mẹ đẻ ghi ở mặt trước, thông tin về cha mẹ nuôi ghi ở mặt sau dễ dẫn đến tâm lý mặc cảm, tự ti của trẻ.

Ba là, quy định pháp luật hộ tịch và pháp luật dân sự chưa “theo kịp” để giải quyết nhu cầu chuyển đổi giới tính của cá nhân

Hiện nay, cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận nhiều yêu cầu thay đổi thông tin “Giới tính” trên giấy tờ hộ tịch (do công dân đã xác định lại giới tính hoặc chuyển đổi giới tính). Tuy nhiên, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về việc xác định lại giới tính không quy định việc chuyển đổi giới tính mà chỉ quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác[6]. Trên cơ sở giấy chứng nhận y tế do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp, xác nhận đương sự thuộc trường hợp xác định lại giới tính thì cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ tiếp nhận và thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch việc xác định lại giới tính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014.

Trường hợp không phải xác định lại giới tính (không được cấp giấy chứng nhận y tế phù hợp), mà là chuyển đổi giới tính, thì sẽ chỉ được đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, “việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”. Nhưng hiện nay, luật về chuyển đổi giới tính chưa được ban hành nên chưa có cơ sở pháp lý để công nhận và thực hiện việc chuyển đổi giới tính và đăng ký thay đổi hộ tịch. Do đó, trên thực tế những yêu cầu thay đổi hộ tịch cho người chuyển đổi giới tính chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Bốn là, không ít cơ quan, đơn vị có liên quan hiểu chưa đúng quy định pháp luật hộ tịch, yêu cầu cá nhân phải cải chính thông tin về quê quán trên giấy khai sinh do có sự điều chỉnh địa giới hành chính

Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định: tại thời điểm đăng ký hộ tịch, nếu có sự thay đổi về địa danh hành chính thì phần ghi địa danh hành chính trên giấy tờ hộ tịch và sổ hộ tịch được ghi theo địa danh hành chính đã được thay đổi; khi cấp bản sao trích lục hộ tịch, phần ghi địa danh hành chính trong bản sao trích lục hộ tịch phải theo đúng địa danh hành chính đã đăng ký trước đây. Trường hợp đăng ký lại khai sinh, tại thời điểm đăng ký lại, nếu địa danh hành chính đã có sự thay đổi so với địa danh ghi trong giấy tờ được cấp trước đây, thì xác định và ghi theo địa danh hành chính đã được thay đổi; việc thay đổi địa danh hành chính được ghi vào “Phần ghi chú những thay đổi sau này” tại mặt sau của giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong sổ đăng ký khai sinh.

Tuy nhiên, trên thực tế, khi công dân yêu cầu cơ quan Công an điều chỉnh thông tin về quê quán trong chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu từ địa danh hành chính cũ trước đây thành địa danh hành chính hiện nay (Ví dụ: Vĩnh Phú thành Vĩnh Phúc hoặc Phú Thọ), thì cơ quan Công an không thực hiện mà yêu cầu công dân phải làm thủ tục cải chính thông tin về “quê quán” trong giấy khai sinh. Như vậy, theo quy định pháp luật hộ tịch, những trường hợp này cơ quan đăng ký hộ tịch không có cơ sở để tiếp nhận, giải quyết, do việc thay đổi địa danh hành chính là khách quan, không phải là sai sót khi đăng ký hộ tịch. Về nguyên tắc, cơ quan Công an có thẩm quyền căn cứ vào địa danh hành chính đã thay đổi trên thực tế để điều chỉnh thông tin về “quê quán” trong sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân theo nguyện vọng của công dân.

Năm là, quy định về thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người có yêu cầu

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hộ tịch năm 2014 thì UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết việc bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp công dân Việt Nam cư trú ở trong nước (không phân biệt độ tuổi); đối với thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch, UBND cấp xã chỉ giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi, UBND cấp huyện giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước. Việc quy định thẩm quyền như trên căn cứ vào đối tượng, tính chất phức tạp của từng loại việc. Bổ sung hộ tịch là thủ tục đơn giản, chỉ căn cứ vào các giấy tờ của đương sự xuất trình để ghi bổ sung những thông tin còn thiếu vào mục tương ứng vào sổ, giấy tờ hộ tịch nên Luật quy định thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Thực tế phát sinh trường hợp công dân trên 14 tuổi yêu cầu thực hiện đồng thời cả 03 thủ tục thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch và theo đúng quy định thì họ sẽ thực hiện thủ tục thay đổi, cải chính tại UBND cấp huyện, thực hiện thủ tục bổ sung hộ tịch tại UBND cấp xã. Nhiều ý kiến cho rằng quy định trên chưa cải cách thủ tục hành chính, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, do vậy, cần bổ sung quy định UBND cấp huyện sẽ giải quyết cả 03 thủ tục trong trường hợp này.

Có thể thấy rằng, để hạn chế tình trạng yêu cầu cải chính, thay đổi hộ tịch gây ra sự xáo trộn về dữ liệu về hộ tịch, đã đến lúc mỗi công dân cần phải nhìn nhận vai trò quan trọng của những dữ liệu về hộ tịch để có ý thức ngay từ khi thiết lập các giấy tờ liên quan đến bản thân. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, nghiên cứu những bất cập, vướng mắc trên thực tế để có giải pháp phù hợp vừa đảm bảo nguyên tắc “giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc”, vừa đảm bảo tính lịch sử trong việc thiết lập các giấy tờ, thông tin hộ tịch trong thời kỳ trước.

ThS. Võ Thị Hạnh

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp





[1]. Việc thiết lập thông tin hộ tịch giai đoạn trước đây do hạn chế về cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát, trình độ cán bộ làm công tác hộ tịch nên nhiều lúc, nhiều nơi còn có sự tùy tiện, để xảy ra sai sót.

[2]. Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh.

[3]. Khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[4]. Khoản 2 Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014.

[5]. Khoản 2 Điều 28 Luật Hộ tịch năm 2014

[6]. Điều 12 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP quy định: Các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trước đó và đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 8 Nghị định này để được khám kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).

Theo dõi chúng tôi trên: