Thứ tư 05/08/2026 20:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng án lệ của CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên năm 1980 - CISG). Ngày 01/01/2017, Công ước Viên năm 1980 đã bắt đầu có hiệu lực áp dụng chính thức tại Việt Nam. Công ước Viên đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển

1. Cơ sở để áp dụng án lệ của CISG trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế

Bên cạnh áp dụng án lệ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì trung tâm trọng tài thương mại có thể áp dụng án lệ của CISG để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế. Theo thống kê của PACE thì số lượng án lệ của CISG là khoảng 3000[2]. Trong số các án lệ có liên quan đến CISG có rất nhiều phán quyết của trọng tài quốc tế. Các vụ kiện của CISG được báo cáo trên hai nguồn chính sau: www.uncitral.org (website chính thức của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc) và www.cisg.law.pace.edu (website chuyên về CISG - là hệ thống cơ sở dữ liệu của Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University). Trong số các án lệ của CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam về tranh chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh - Tanico (Việt Nam) và Công ty NG Nam Bee (Singapore), được xét xử tại tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao TP. Hồ Chí Minh, bản án tuyên ngày 04/5/1996, trong đó, Tòa án Việt Nam đã tham chiếu các Điều 29, Điều 53, Điều 61.3 và 64.1 của CISG[3].

Tuy nhiên, án lệ của CISG chỉ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế mà một trong các bên tranh chấp là Việt Nam còn đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại tại Việt Nam thì chưa có một quy chế pháp lý nào cho phép áp dụng án lệ của CISG.

Có thể coi CISG và Luật Thương mại Việt Nam là hai nguồn luật độc lập cùng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế. Theo đó, CISG điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế; Luật Thương mại Việt Nam điều chỉnh cả hợp đồng thương mại quốc tế và trong nước. Nếu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại được áp dụng CISG thì mặc nhiên các án lệ của CISG cũng có giá trị áp dụng để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

Theo khoản 1 Điều 1 của CISG: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng thương mại quốc tế giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước; hoặc

b. Khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước”.

Theo đó, có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Trường hợp 1: Khi các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia là thành viên của CISG (Điều 1.1.a CISG).

Kể từ thời điểm CISG có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam, các hợp đồng thương mại quốc tế được giao kết bởi doanh nghiệp Việt Nam sẽ được điều chỉnh bởi CISG trong trường hợp bên còn lại có trụ sở thương mại tại quốc gia là thành viên của CISG. Tuy nhiên, CISG tôn trọng quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng của các bên[4]. Theo Điều 6 CISG, các bên có thể loại trừ việc áp dụng Công ước. Do vậy, các bên có thể loại trừ việc áp dụng CISG nếu như trong hợp đồng bổ sung một điều khoản chọn luật. Ví dụ, các bên có thể thỏa thuận rõ “CISG năm 1980 không được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng này”.

- Trường hợp 2: Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG (Điều 1.1.b CISG).

Trường hợp này, chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại một nước là thành viên của Công ước hoặc không cần bên nào có trụ sở thương mại tại quốc gia thành viên Công ước, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chọn luật, miễn là các quy định của tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của một quốc gia thành viên Công nước. Như vậy, việc có áp dụng Công ước Viên hay không phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên tắc của tư pháp quốc tế. Cụ thể, các quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên. Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng. Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia thành viên Công ước Viên 1980 thì toàn bộ quy định của Công ước này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể[5].

Ngoài ra, còn có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Khi các bên lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Dựa trên nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế[6], nếu đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở tại một quốc gia chưa phải là thành viên CISG, các bên trong hợp đồng được phép lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng.

- Khi cơ quan giải quyết tranh chấp (Tòa án, Trọng tài thương mại) lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài hoặc trọng tài thương mại Việt Nam, trọng tài nước ngoài. Thẩm phán hay trọng tài viên có thể lựa chọn CISG làm luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng.

Như vậy, đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại ở Việt Nam (không có yếu tố nước ngoài) thì đương nhiên không thể áp dụng các án lệ của CISG cũng không thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại mà chỉ có thể sử dụng các án lệ của CISG để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

2. Thực tiễn áp dụng án lệ CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Để có thể được giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chính là ý chí của hai bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, nó phải được tồn tại dưới những hình thức nhất định và có thể được hình thành trong những giai đoạn khác nhau của hợp đồng[7]. Dù thỏa thuận trọng tài được xác lập trước hoặc sau khi có tranh chấp đều có giá trị pháp lý như nhau. Nó có thể tồn tại dưới hình thức một, một số điều khoản trong hợp đồng hoặc các bên có thể lập một văn bản riêng, trong đó chỉ có nội dung là thỏa thuận trọng tài. Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì thỏa thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản.

Thủ tục tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài. Nguồn luật áp dụng đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định như sau: (i) Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; (ii) Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật do các bên lựa chọn; nếu không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất. Trường hợp luật Việt Nam, luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tại Việt Nam, thực tiễn đã có áp dụng án lệ CISG được ghi nhận tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Tuy nhiên, án lệ này chỉ trích dẫn văn bản CISG mà không dẫn chiếu tới án lệ nào của CISG. Trong thực tế tham khảo ý kiến của Ban thư ký VIAC cho thấy sự khó khăn trong việc các án lệ CISG để xét xử các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế là khi Việt Nam chưa gia nhập CISG, thì việc viện dẫn CISG (nếu không có sự thỏa thuận của các bên rằng CISG là luật áp dụng cho hợp đồng) thì sẽ tạo ra nguy cơ bị Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài do trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[8].

Trên thực tế thì hệ thống án lệ của CISG đã được Trung tâm Trọng tài thương mại của Việt Nam sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điển hình là án lệ về tranh chấp giữa một công ty Pháp (người mua) và một công ty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán không giao phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên xảy ra tranh chấp về số tiền bồi thường. Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp) đã áp dụng Điều 25, 35, 47, 49,75 và 77 CISG năm 1980 để giải quyết tranh chấp. Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh tại VIAC đã có cách giải quyết khá tương đồng với CISG. Cụ thể, tranh chấp giữa nguyên đơn Việt Nam (người mua) và bị đơn Hàn Quốc (người bán). Do hàng hóa người bán giao có khuyết tật, không phù hợp với hợp đồng, người mua đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên không thỏa thuận được về số tiền bồi thường. Tranh chấp được giải quyết tại VIAC. Nhìn chung cả án lệ của CISG và tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng quốc tế được giải quyết tại VIAC đều là vi phạm cơ bản liên quan đến nội dung hợp đồng (phẩm chất hàng hóa). Người mua yêu cầu người bán khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại.

Khi tính toán các khoản bồi thường, án lệ của CISG và VIAC đều theo nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán, chứng minh một cách hợp lý, khách quan. Các nguyên tắc về đòi bồi thường thiệt hại ghi nhận trong pháp luật Việt Nam (Luật Thương mại năm 2005) và CISG là khá tương thích.

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một thành viên của CISG thì xu hướng viện dẫn và áp dụng án lệ của CISG sẽ trở nên phổ biến tại các trung tâm trọng tài quốc tế ở Việt Nam. Ngay cả khi chưa có nhiều án lệ CISG liên quan đến Việt Nam thì các trọng tài viên cũng có quyền viện dẫn các án lệ CISG của Tòa án và Trọng tài nước ngoài.

Tuy nhiên, theo tác giả thì thực tiễn áp dụng án lệ của CISG trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại trọng tài thương mại cho thấy một số điểm bất cập:

Một là, nhận thức, thái độ và thói quen sử dụng án lệ của các trọng tài viên còn hạn chế. Trong quá trình áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế thì luật thực định (bộ luật, luật, văn bản quy phạm pháp luật khác…) vẫn được trọng tài viên ưu tiên sử dụng mà chưa “mặn mà” trong việc áp dụng án lệ và liên hệ với thực tiễn.

Hai là, trọng tài viên gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và phân tích các án lệ của CISG. Điều này dễ hiểu, với trọng tài viên thì việc tìm hiểu, sử dụng án lệ không hề dễ dàng, yêu cầu nhiều thời gian với những đòi hỏi khó về chuyên môn và kỹ năng. Để sử dụng hiệu quả án lệ, các trọng tài viên cần tìm được câu trả lời cho những câu hỏi lớn như: (i) Tại sao phải sử dụng án lệ; (ii) Tìm án lệ ở đâu; (iii) Sử dụng án lệ gì; (iv) Sử dụng như thế nào? Tuy nhiên, trên thực tế, các trọng tài viên thường “loay hoay” trong việc tìm kiếm câu trả lời một cách hiệu quả.

3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ của CISG tại các trung tâm trọng tài ở Việt Nam

Theo khuyến nghị của Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), các cơ quan áp dụng pháp luật tại các quốc gia thành viên cần có một hệ thống báo cáo án lệ về Công ước Viên. Hệ thống này sẽ tập hợp và báo cáo các án lệ có liên quan đến Công ước này cho Ban thư ký của UNCITRAL để cơ quan này đưa lên hệ thống cơ sở dữ liệu “CLOUT” (Case Law on UNCITRAL Texts[9]). Do đó, xây dựng và phát triển một danh sách các án lệ tiêu biểu (hay còn gọi là án lệ điển hình) về các vấn đề chính yếu của CISG là hết sức có ý nghĩa đối với hoạt động xét xử của trọng tài thương mại tại Việt Nam. Theo tác giả, việc xây dựng và phát triển các án lệ của CISG ở Việt Nam cần tuân thủ các nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc thiện chí (good faith)

Việc giải thích từng điều khoản CISG phải tuân thủ yêu cầu: “Khi giải thích Công ước này, cần chú trọng đến tính chất quốc tế của nó, đến sự cần thiết phải hỗ trợ cho việc áp dụng thống nhất Công ước và tuân thủ trong thương mại quốc tế”[10]. Điều đó có nghĩa là, các bên tranh chấp hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp có quyền tự giải thích quy định của CISG, tuy nhiên cần lưu ý đến tính chất quốc tế và đảm bảo CISG được áp dụng một cách thống nhất.

Thứ hai, bổ sung cho “khoảng trống” pháp lý của CISG (gap filling)

CISG không quy định chi tiết mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Vì vậy, những vấn đề này cần được giải thích theo quy định tại Điều 7.2 CISG như sau: Các vấn đề liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Công ước này mà không quy định cụ thể trong Công ước, thì sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình thành, hoặc nếu không có các nguyên tắc này, thì căn cứ theo luật áp dụng được lựa chọn theo quy tắc của tư pháp quốc tế.

Thứ ba, căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế (usage and practices)

Điều 9.1 CISG quy định: “Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận và bởi các thực tiễn giao dịch đã được họ tự thiết lập”. Do đó, việc giải thích để áp dụng CISG cũng cần căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế. Tuy nhiên, CISG yêu cầu các tập quán được sử dụng phải có tính chất phổ biến trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách thường xuyên đối với hợp đồng cùng chủng loại trong lĩnh vực buôn bán liên quan để điều chỉnh hợp đồng của mình hoặc điều chỉnh việc ký kết hợp đồng đó[11]. Thực tế, các tập quán thương mại quốc tế như INCOTERMS và UCP thường được các trọng tài lựa chọn áp dụng.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ của CISG trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại, đòi hỏi các trọng tài viên cần tích cực nâng cao trình độ chuyên môn thông qua khóa tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn từ các trung tâm trọng tài, Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế (VBLV), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)… từ đó, hình thành thói quen và kỹ năng để nghiên cứu và vận dụng án lệ CISG trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế. Để nghiên cứu và áp dụng án lệ của CISG, các trọng tài viên có thể tiếp cận nguồn tài liệu về án lệ của CISG từ các trang thông tin điện tử của UNCITRAL hoặc Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University... Các án lệ được giới thiệu ở những mức độ chi tiết khác nhau và có thể tra cứu theo nhiều cách như theo điều khoản của CISG, theo tên vụ tranh chấp, theo quốc gia[12].

ThS. Trịnh Tuấn Anh
Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng, Hòa giải viên Trung tâm Trọng tài thương mại phía Nam (STAC)
ThS. Nguyễn Thị Hoài Thương
Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng
ThS. Lê Thị Thoa
Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Nguyễn Thị Mai (2014), “Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[2]Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Án lệ của CISG trong thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[3] Xem: Án lệ số 74/VPPT ngày 04/5/1996 truy cập ngày truy cập ngày 22/12/2020.

[4]Nông Quốc Bình (2011), Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 4/2011, tr. 18 - 23.

[5] Nông Quốc Bình (2011), Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 10/2011, tr. 3 - 8.

[6] Bành Quốc Tuấn (2017), “Giáo trình tư pháp quốc tế”, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật.

[7] Tưởng Duy Lượng (2016), Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Trọng tài thương mại và thực tiễn xét xử, Nxb. Tư pháp.

[8] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh & VIAC (2015), Hủy phán quyết trọng tài”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[9] James P. Quinn (2005),The Interpretation and Application of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Int‟l Trade & Bus. L. Rev. 221, 224.

[10] Điều 7.1 CISG 1980.

[11] Điều 9.2 CISG.

[12]Ngô Nguyễn Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Thái Hy (2020), “Đọc hiểu CISG qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp tiêu biểu”, Nxb. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.

Theo dõi chúng tôi trên: