Thứ năm 11/12/2025 12:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các biện pháp này.

Abstract: The article evaluates the provisions of the 2015 Criminal Procedure Code on special investigation and procedure measures, from which, makes recommendations to improve these measures.

1. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS) thứ hai, theo đó, Cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, phát hiện nhanh chóng và chính xác tội phạm, người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS), tiến hành các hoạt động cần thiết khác và trên cơ sở đó đưa ra các quyết định phù hợp.

Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (TTĐB) gồm: “1. Ghi âm, ghi hình bí mật; 2. Nghe điện thoại bí mật; 3. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử”[1]. Những biện pháp này đều được tiến hành một cách bí mật, vừa để bảo đảm bí mật trong quá trình điều tra, vừa giúp quá trình thu thập chứng cứ diễn ra một cách khách quan, đối phó với những tội phạm có tính chất nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi. Các biện pháp này chính là các biện pháp trinh sát kỹ thuật trước đây đã được sử dụng trong Ngành Công an, Quân đội, thuộc trường hợp bí mật nghiệp vụ, nay được đưa vào Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nghĩa là được thực hiện một cách hợp pháp và thông tin từ các biện pháp này có thể trở thành chứng cứ mà không cần phải qua bước chuyển hóa như trước đây khi cơ quan điều tra muốn sử dụng.

Nhằm bảo đảm hiệu quả cao trong việc áp dụng biện pháp điều tra TTĐB và tránh sử dụng tràn lan, ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, khoản 1, khoản 2 Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chỉ áp dụng biện pháp điều tra tố TTĐB với các tội phạm: “Tội xâm phạm an ninh quốc gia, Tội phạm về ma túy, Tội phạm về tham nhũng, Tội khủng bố, Tội rửa tiền; Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Đây là những tội phạm có tổ chức chặt chẽ, phương thức, thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm hết sức tinh vi, xảo quyệt, đối tượng phạm tội thường ngoan cố, chống đối đến cùng, không hợp tác với cơ quan tố tụng dẫn tới các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả hoặc hiệu quả thấp. Do đó, việc sử dụng biện pháp điều tra TTĐB trong các trường hợp này là cần thiết.

2. Đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Năm 2000, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (UNTOC) cùng các nghị định thư kèm theo. Công ước UNTOC là một trong những hiệp ước được phê chuẩn rộng rãi nhất về vấn đề pháp luật hình sự quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước vào ngày 08/6/2012.

Theo Điều 20 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, biện pháp điều tra đặc biệt được khuyến nghị gồm một nhóm các biện pháp điều tra khác nhau, như: Vận chuyển có kiểm soát, các hình thức giám sát, hoạt động sử dụng lực lượng bí mật. Nhằm thực thi các công ước quốc tế, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật và thu thập bí mật dữ liệu điện tử” là các biện pháp điều tra TTĐB[2]. Việc luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là cần thiết, phù hợp với tình hình hiện nay, thông qua đó đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật”[3].

Thực tế tố tụng trong một số vụ án tham nhũng, cơ quan điều tra đã sử dụng biện pháp điều tra TTĐB, sau đó chuyển hóa chứng cứ. Bên cạnh đó, một khía cạnh nữa cũng tích cực giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật khám phá ra các vụ án đưa nhận hối lộ, đó là Bộ Luật tố Tụng hình sự năm 2015 đã cho phép các cơ quan bảo vệ pháp luật được áp dụng các biện pháp điều tra TTĐB trong đấu tranh chống tham nhũng[4].

Bên cạnh những điểm tích cực trong việc quy định và áp dụng biện pháp điều tra TTĐB, kể từ khi được ban hành cho đến nay, quy định này đã bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế cần được khắc phục, cụ thể như sau:

Một là, về trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Cơ quan điều tra chỉ áp dụng biện pháp điều tra TTĐB đối với các tội phạm thuộc trường hợp quy định tại Điều 224. Tuy nhiên, Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) xác định “hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi…” là các hành vi tham nhũng và được phép sử dụng “kỹ thuật điều tra đặc biệt”. Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không coi “Tội đưa hối lộ, Tội môi giới hối lộ và Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi” là các tội phạm về tham nhũng ở Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự (mà quy định tại Mục 2 - Các tội phạm khác về chức vụ); nhưng có thể thấy rằng, các tội phạm này có mối quan hệ tương ứng và thường xảy ra cùng với các tội phạm về tham nhũng. Do vậy, nếu không áp dụng biện pháp điều tra TTĐB trong điều tra các tội phạm này sẽ không phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng và không phát huy được tác dụng của biện pháp điều tra TTĐB trong thu thập thông tin, tài liệu để đấu tranh chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Khoản 1 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định “Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng”. Trong khi đó, khoản 3 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp”. Do vậy, sẽ là thiếu sót nếu không quy định Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB; điều này không tương thích với các quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành và làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Ba là, về thẩm quyền yêu cầu quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện hành thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB, nhưng không quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương. Như vậy, nếu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương không có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp điều tra TTĐB. Trong khi đó, khoản 3 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại quy định: “Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết”. Bất cập này dẫn đến một nghịch lý: Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên không có quyền yêu cầu, chỉ có quyền phê chuẩn, trong khi Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới có cả quyền yêu cầu và quyền phê chuẩn.

Bốn là, về việc sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra TTĐB chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời”. Như vậy, điều luật quy định thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra TTĐB được “sử dụng vào việc khởi tố”, mà không quy định rõ là khởi tố vụ án hay khởi tố bị can. Do vậy, “việc khởi tố” ở đây được hiểu là khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Từ đó có thể hiểu rằng, biện pháp điều tra TTĐB có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án để thu thập thông tin, tài liệu phục vụ việc khởi tố. Tuy nhiên, hiểu như vậy sẽ mâu thuẫn với quy định “sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra TTĐB” tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Như vậy, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn thiếu sót khi không quy định rõ thông tin, tài liệu chỉ được sử dụng vào khởi tố bị can, không sử dụng vào việc khởi tố vụ án.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng năm 2015 về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Một là, sửa đổi khoản 1 Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành theo hướng quy định thêm một số tội phạm thuộc trường hợp áp dụng biện pháp điều tra TTĐB. Cụ thể: Bổ sung thêm “Tội tài trợ khủng bố, Tội đưa hối lộ, Tội môi giới hối lộ, Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi” là các tội phạm thuộc trường hợp áp dụng biện pháp điều tra TTĐB.

Hai là, sửa đổi khoản 1 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hiện hành theo hướng bổ sung “Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB”; “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền yêu cầu ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB”.

Ba là, sửa đổi khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành theo hướng: Quy định rõ thông tin, tài liệu thu thập qua việc tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được sử dụng vào việc khởi tố bị can hoặc bỏ cụm từ “khởi tố” trong khoản 1 Điều 227 bởi vì “khởi tố bị can” là một hoạt động trong quá trình điều tra, vì vậy không nhất thiết phải để cụm từ này trong quy định tại khoản 1 Điều 227 sẽ dễ gây hiểu lầm trong việc áp dụng.

Bốn là, xem xét việc bổ sung biện pháp theo dõi bí mật và sử dụng cộng tác viên bí mật là các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thực tế, bên cạnh các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì cũng còn các biện pháp khác được sử dụng trong ngành Công an, Quân đội như trinh sát nghiệp vụ, đặc tình, sổ đen... cũng nhằm mục đích phá án mà các biện pháp này lại không chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát như các biện pháp điều tra TTĐB. Sự tồn tại song song này dẫn đến một thực tế là dù được quy định trong luật nhưng trên thực tế số lượng các vụ án sử dụng được các biện pháp điều tra TTĐB là rất hạn chế. Trong việc đấu tranh chống các tổ chức tội phạm rất cần cộng tác viên trong chính tổ chức tội phạm ấy. Bộ luật Hình sự đã có quy định miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội nhưng tự thú và khai báo, góp phần tích cực phát hiện, điều tra tội phạm. Vậy có nên luật hóa biện pháp theo dõi bí mật và sử dụng cộng tác viên bí mật không? Đây là những biện pháp mà trên thực tế lực lượng chức năng đã và đang làm. Theo tác giả, cần nghiên cứu bổ sung thêm các biện pháp này vào Bộ luật Tố tụng hình sự vì tính hiệu quả, cũng như sự cần thiết trong cuộc đấu tranh với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ví dụ như trong vụ án bắt cóc, khi người thân mang tiền đến điểm hẹn đưa cho đối tượng bắt cóc để chuộc người nhà thì phải bố trí lực lượng theo dõi bí mật, tìm chứng cứ).

Hoàng Thị Hiền

Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

[1]. Xem: Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. https://phaply.net.vn, Phúc Anh “vu-an-nguyen-duy-linh-va-qui-dinh-cua-phap-luat-ve-cac-bien-phap-dieu-tra-to-tung-dac-biet-trong-dau-tranh-chong-tham-nhung-a252427.html , truy cập ngày 09/12/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: