Thứ tư 04/11/2026 04:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung quy định về công chứng điện tử

Tiếp tục phiên họp chuyên đề, ngày 1/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Công chứng (sửa đổi).

Quang cảnh phiên họp chuyên đề ngày 1/4. (Ảnh: Phạm Thắng)
Quang cảnh phiên họp chuyên đề ngày 1/4. (Ảnh: Phạm Thắng)

Trình bày Tờ trình dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long nêu rõ sự cần thiết ban hành dự án Luật Công chứng (CC) (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và hoạt động CC; khắc phục hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động CC theo chủ trương xã hội hóa, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động CC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về CC.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long.

Về quan điểm xây dựng dự án Luật, Bộ trưởng Lê Thành Long cho biết, dự án Luật tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực bổ trợ tư pháp; bảo đảm phân cấp, phân quyền hợp lý; tiếp tục xã hội hóa, giảm tải cho bộ máy nhà nước; đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch trong xã hội; đề cao trách nhiệm và vai trò đóng góp của công chứng viên (CCV), tổ chức hành nghề (TCHN) CC đối với xã hội; tiếp tục xác định CC không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần mà là một nghề bổ trợ tư pháp; CCV là người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ, được Nhà nước bổ nhiệm để cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện; hoạt động CC phải góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch trong xã hội, phòng ngừa tranh chấp, khiếu kiện, hỗ trợ hoạt động xét xử, qua đó góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội; kế thừa, phát triển những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm; nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để CC nước ta hội nhập quốc tế, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Liên minh CC quốc tế…

Cho ý kiến vào dự thảo Luật, Chủ tịch Quốc hội (QH) Vương Đình Huệ đánh giá dự án Luật được chuẩn bị công phu, sửa khá toàn diện khi Luật hiện hành có 81 điều thì chỉ giữ nguyên có 9 điều, sửa 61 điều và bổ sung nhiều điều mới. Nhấn mạnh CC là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư, đồng thời đây là loại hình dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu và cơ bản, Chủ tịch QH cho rằng, nguyên tắc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ, còn địa phương thực hiện chức năng quản lý theo quy định của pháp luật.

Luật Quy hoạch đã bỏ quy hoạch về sản phẩm dịch vụ, hàng hóa nên Chính phủ phải có chiến lược, định hướng phát triển trong từng giai đoạn, Bộ quản lý phải ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện thì địa phương có căn cứ làm. “Trong này có nói tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện nhưng chưa rõ ai ban hành. Đây là trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ. Chính phủ ban hành chiến lược, định hướng chung. Bộ Tư pháp phải ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện thành lập TCHNCC. Bỏ quy hoạch không có nghĩa không có quản lý, mà quản lý bằng phương pháp khác”, Chủ tịch QH nói.

Báo cáo tiếp thu bước đầu và bổ sung một số thông tin, Bộ trưởng Lê Thành Long nhấn mạnh, pháp luật về CC của nước ta kế thừa và phát triển liên tục qua các thời kỳ từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945. Điểm qua một số nguyên lý cơ bản về hoạt động CC ở nước ta, theo Bộ trưởng, CC của chúng ta là CC nội dung, xác định tính xác thực hợp pháp của hợp đồng giao dịch; là một nghề bổ trợ tư pháp; là dịch vụ công cơ bản do Nhà nước ủy nhiệm cho CCV thực hiện; văn bản CC có giá trị chứng cứ trước Tòa, hoạt động CC như “thẩm phán phòng ngừa”…

Giải trình thêm về thành lập TCHNCC phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Lê Thành Long cho rằng, phải xem xét thực tế, đồng thời nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đánh giá, xử lý vấn đề. Về xã hội hóa hoạt động CC, Bộ trưởng cho biết, thực tế hiện nay không thành lập mới PCC. Cả nước có 1.425 TCHNCC, trong đó có 1.320 VPCC và 105 PCC, những PCC đang hoạt động đều đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 18, 19, nhất là tự trang trải về kinh phí, thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động CC của Đảng, Nhà nước.

Về nội dung của dự thảo Luật, theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật đã xác định CC là việc CCV chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch dân sự bằng văn bản; việc chứng nhận bản dịch không còn thuộc phạm vi CC mà là hoạt động chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật về chứng thực. Như vậy, trong trường hợp CCV chỉ thực hiện việc chứng thực thì không được xem là hành nghề CC. Đồng thời, bổ sung quy định về một số hành vi bị nghiêm cấm đối với CCV, TCHNCC, cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, góp phần phát triển các TCHNCC ổn định, bền vững, tăng cường trách nhiệm, ý thức của cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc CC.

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, bảo đảm số lượng phù hợp với nhu cầu CC và phát triển ổn định, bền vững, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật quy định người muốn bổ nhiệm CCV phải được đào tạo nghề CC (bỏ quy định miễn đào tạo), theo đó những trường hợp được miễn đào tạo và tham gia khóa bồi dưỡng 03 tháng theo quy định của Luật hiện hành thì phải tham gia khóa đào tạo 06 tháng; bổ sung một số đối tượng được tham dự khoá đào tạo nghề CC 06 tháng như: Chấp hành viên trung cấp, kiểm tra viên chính ngành kiểm sát, trợ giúp viên pháp lý hạng II, thanh tra viên chính ngành tư pháp…

Dự thảo Luật còn quy định thời gian tập sự hành nghề CC là 12 tháng đối với tất cả các đối tượng để đảm bảo sự thống nhất và để người tập sự đủ thời gian trải nghiệm, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn; người tập sự phải bảo đảm thời gian tập sự theo ngày, giờ làm việc của TCHNCC; bổ sung quy định về thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự để bảo đảm người được bổ nhiệm CCV có kiến thức, kỹ năng cập nhật. Bổ sung một số trường hợp không được bổ nhiệm CCV, trường hợp bị miễn nhiệm CCV, trường hợp được và không được bổ nhiệm lại CCV cũng như điều kiện bổ nhiệm lại nhằm bảo đảm những người đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn CCV mới được bổ nhiệm.

Với mục tiêu phát triển các TCHNCC ổn định, bền vững, phù hợp với nhu cầu CC của xã hội và có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật quy định nguyên tắc phát triển TCHNCC phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, diện tích, số lượng và mật độ phân bố dân cư, nhu cầu CC hợp đồng, giao dịch trên địa bàn cấp huyện dự kiến thành lập. Cùng với đó, quy định Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm Trưởng phòng CC (PCC) thay vì giao cho Chủ tịch UBND tỉnh, TP trực thuộc Trung ương bổ nhiệm như hiện nay, quy định Sở Tư pháp là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng CC (VPCC) thay vì UBND cấp tỉnh như hiện nay để tăng cường phân cấp, phân quyền…

Với mục tiêu xây dựng quy trình CC khoa học, tạo cơ sở pháp lý để triển khai việc chuyển đổi số trong hoạt động CC theo lộ trình phù hợp, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật bỏ Phiếu yêu cầu CC trong thành phần hồ sơ yêu cầu CC nhằm đơn giản hóa hồ sơ này; cho phép xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực nếu không có bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng trong một số trường hợp cụ thể; quy định rõ các trường hợp được CC ngoài trụ sở; quy định chi tiết hơn về lời chứng nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của CCV đối với việc CC... Đối với thủ tục CC một số giao dịch cụ thể, dự thảo Luật đã quy định rõ nguyên tắc tuân thủ trình tự, thủ tục chung, đồng thời phải thực hiện thêm một số quy định đặc thù tương ứng đối với từng giao dịch cụ thể, như việc CC hợp đồng ủy quyền trong trường hợp hai bên không thể cùng đến một TCHNCC, việc CC văn bản phân chia di sản, từ chối nhận di sản...

Đặc biệt, dự thảo Luật đã bổ sung 4 điều mới để quy định về CC điện tử là việc CC được thực hiện bằng phương tiện điện tử để tạo lập văn bản CC điện tử; việc CC điện tử phải bảo đảm các nguyên tắc cụ thể; việc cung cấp dịch vụ CC điện tử chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện cụ thể, đồng thời, cũng quy định về khái niệm, thời điểm có hiệu lực, giá trị của văn bản CC điện tử và việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản CC điện tử và văn bản CC giấy; quy định về quy trình CC điện tử nhằm tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số hoạt động CC, là cơ sở để Chính phủ quy định các vấn đề cụ thể về CC điện tử và triển khai thực hiện quá trình chuyển đổi số hoạt động CC trên thực tế.

Trình bày báo cáo thẩm tra, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Ngô Trung Thành nhấn mạnh, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Công chứng với các lý do đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Riêng về CC điện tử, theo ông Ngô Trung Thành, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành việc bổ sung quy định về CC điện tử trong dự thảo Luật nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động CC, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong các giao dịch dân sự, kinh tế; bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của Luật Giao dịch điện tử năm 2023. Đồng thời cho rằng, CC điện tử là sự thay đổi về phương thức thực hiện CC chứ không được làm thay đổi bản chất và đặc điểm của mô hình CC nước ta là CC nội dung, hoạt động CC phải bảo đảm chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.

Về phạm vi CC điện tử, trong quá trình thẩm tra có 2 loại ý kiến. Cụ thể, loại ý kiến thứ nhất tán thành với dự thảo Luật không giới hạn phạm vi CC điện tử mà giao Chính phủ quy định lộ trình cụ thể. Tuy nhiên, để thực hiện chính sách này, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý xác định rõ khái niệm, nội hàm của CC điện tử để thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật; nêu giải pháp khắc phục được các hạn chế mà công nghệ chưa thể thực hiện thay con người như đã nêu trong báo cáo thẩm tra đầy đủ để có cơ sở thực hiện theo lộ trình; bổ sung quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục, hồ sơ CC điện tử để bảo đảm kiểm soát việc thực thi lộ trình CC điện tử do Chính phủ quy định vẫn phải đáp ứng các yêu cầu của CC nội dung, bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của các giao dịch được CC, tương xứng với giá trị pháp lý của văn bản CC là có giá trị chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của dự thảo Luật.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, trong điều kiện hiện nay, công nghệ chưa thể bảo đảm thay thế hoàn toàn vai trò của con người trong việc thực hiện các yếu tố bảo đảm tính xác thực về ý chí, bảo đảm giấy tờ và chứng cứ được đối soát chính xác, đầy đủ, bảo đảm nội dung của giao dịch là hợp pháp nên việc thực hiện CC điện tử cần tiến hành thận trọng, có bước đi hợp lý, trước mắt trong Luật chỉ nên quy định ở phạm vi hẹp với một số giao dịch đơn giản, không nên áp dụng đối với các giao dịch về bất động sản, thừa kế...

Bên cạnh đó, có ý kiến trong Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị trước mắt chỉ nên thí điểm CC điện tử, trên cơ sở đó tiến hành tổng kết thực tiễn làm cơ sở luật hóa nội dung này. Ý kiến khác đề nghị giao Chính phủ căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội xác định lộ trình mở rộng phạm vi giao dịch được CC điện tử, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Theo ông Ngô Trung Thành, đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành với loại ý kiến thứ nhất.

Sơn Phan

Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam điện tử

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung đáng chú ý. Trong đó, dự thảo Luật đề xuất thay thế chế định "người tập sự hành nghề luật sư" bằng "luật sư tập sự", đồng thời bổ sung một số quyền nhằm tạo điều kiện cho người tập sự tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghề nghiệp thực tiễn. Để làm rõ ý nghĩa của đề xuất này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Luật sư Huỳnh Phương Nam - Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Phòng vệ chính đáng là chế định quan trọng của pháp luật hình sự, phản ánh sự cân bằng giữa quyền tự vệ của cá nhân và yêu cầu bảo đảm trật tự pháp luật. Nghiên cứu phân tích, so sánh quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo hướng cụ thể, minh bạch và bảo đảm tốt hơn quyền con người, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Ngày 23/10/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2322/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ rà soát pháp luật, cơ chế, chính sách và tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính (Kế hoạch).
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh

Xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh

Ngày 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Cần chế tài đủ mạnh ngăn chặn thông đồng, dìm giá, bỏ cọc trong đấu giá tài sản

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Cần chế tài đủ mạnh ngăn chặn thông đồng, dìm giá, bỏ cọc trong đấu giá tài sản

Trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại tổ về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi). Góp ý tại phiên thảo luận ở Tổ 2 - Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng thông đồng, dìm giá, bỏ cọc, nhất là trong đấu giá đất. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo vệ tài sản công cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Tóm tắt: Đấu giá tài sản trực tuyến đặt ra yêu cầu xác định trách nhiệm khi nghiệp vụ đấu giá và vận hành kỹ thuật do các chủ thể khác nhau thực hiện. Bằng phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của các chủ thể trong cuộc đấu giá tài sản trực tuyến do tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện, đồng thời, so sánh tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Các vấn đề trọng tâm gồm phân định trách nhiệm, bảo mật và cung cấp dữ liệu điện tử, xử lý sự cố và bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá các quy định liên quan trong dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản (dự thảo Nghị định)[III]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp, tiếp cận dữ liệu và xác minh sự cố trong văn bản quy định chi tiết để thực hiện trách nhiệm theo đúng căn cứ pháp luật.
Phát triển công nghiệp văn hóa: Hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực sáng tạo

Phát triển công nghiệp văn hóa: Hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực sáng tạo

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng tạo thuận lợi cho sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, đồng thời bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước và sử dụng đúng mục đích các nguồn lực công.
Phát triển nhà ở cho thuê gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội

Phát triển nhà ở cho thuê gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội

Chiều ngày 28/10, tại Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Trong đó, một số đại biểu đề nghị chuyển mạnh tư duy phát triển nhà ở từ gia tăng nguồn cung sang đáp ứng đúng nhu cầu và khả năng chi trả của người dân; hoàn thiện cơ chế phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và kiểm soát giá để các chính sách ưu đãi thực sự đến được với người thụ hưởng.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Đấu giá tài sản là phương thức quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong chuyển dịch tài sản, khai thác hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau gần 10 năm thi hành, một số nội dung của Luật Đấu giá tài sản năm 2016[I], phát sinh bất cập như không còn phù hợp với thực tiễn, mâu thuẫn, chồng chéo với một số quy định trong các luật mới được ban hành gần đây. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, chi phí tuân thủ thấp, phát huy hiệu quả nguồn lực tài sản và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong giải quyết vụ án hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong giải quyết vụ án hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ án xâm phạm an ninh mạng[I] ngày càng gia tăng với tính chất phức tạp, xuyên biên giới và phụ thuộc nhiều vào môi trường số, dữ liệu điện tử trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, việc thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong các vụ án đặt ra nhiều thách thức về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, tính toàn vẹn của dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu về thu thập dữ liệu điện tử bằng việc phân tích cơ sở pháp lý, phương thức thu thập, cơ chế hợp tác xuyên biên giới và bảo đảm quyền con người; đồng thời, phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam; từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh mạng trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Xây dựng đạo luật mới tạo đòn bẩy, động lực tăng trưởng kinh tế văn hóa

Xây dựng đạo luật mới tạo đòn bẩy, động lực tăng trưởng kinh tế văn hóa

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 24/10, các đại biểu nghe Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật. Đây là đạo luật mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: