Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; cung cấp thông tin theo yêu cầu; người dân; doanh nghiệp; dự thảo Luật Tiếp cận thông tin.
EXPERIENCE OF SWEDEN AND JAPAN IN PROVIDING INFORMATION UPON REQUEST FROM CITIZENS AND BUSINESSES AND SUGGESTIONS FOR VIETNAM
Abstract: The provision of information upon request from citizens and businesses is a crucial legal mechanism for ensuring the exercise of the right to access information. This study analyzes the content of this provision under the 2016 Law on Access to Information, points out some limitations in its implementation, and, drawing on the legal experience of Sweden and Japan, proposes solutions to improve the regulations in the draft Law on Access to Information (amended) in Vietnam.
Keywords: Right to access information; provision of information upon request; citizens; businesses; draft Law on Access to Information.
Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền tiếp cận thông tin (TCTT) được xác định là trụ cột bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng, hiện thực hóa quyền hiến định của công dân thông qua cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, quy định này còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Trong bối cảnh các chủ trương mới về phát huy dân chủ, công khai, minh bạch và chuyển đổi số được đẩy mạnh, việc nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của một số quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển về TCTT, tiêu biểu như Thụy Điển và Nhật Bản, có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với Việt Nam, góp phần gợi mở định hướng hoàn thiện dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật) theo hướng bảo đảm hiệu quả cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu, đồng thời, cân bằng hợp lý giữa yêu cầu minh bạch với việc bảo vệ lợi ích công cộng và quyền riêng tư của cá nhân.
1. Thực trạng chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp tại Việt Nam
Quyền TCTT được ghi nhận tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ năm 2025 (Hiến pháp năm 2013), theo đó, công dân có quyền TCTT cùng các quyền tự do cơ bản khác như tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trên cơ sở quy định này, Quốc hội đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018, lần đầu tiên thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, thống nhất về quyền TCTT và trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước. Để bảo đảm thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin (Nghị định số 13/2018/NĐ-CP), cùng một số văn bản hướng dẫn khác như Thông tư số 46/2018/TT-BTC ngày 14/5/2018 của Bộ Tài chính quy định chi tiết chi phí thực tế để in, sao, chụp và gửi thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Tiếp cận thông tin (Thông tư số 46/2018/TT-BTC). Việc ban hành các văn bản này góp phần khắc phục tình trạng quy định phân tán trước đây, giúp người dân nhận diện rõ quyền của mình và phương thức thực hiện quyền. Bên cạnh đó, sự phát triển của chính quyền điện tử và Cổng dữ liệu quốc gia hỗ trợ đáng kể cho hoạt động cung cấp thông tin, rút ngắn thời gian xử lý yêu cầu và nâng cao khả năng tiếp cận của công chúng. Một số cơ quan đã xây dựng danh mục thông tin công khai và cơ chế phản hồi qua môi trường điện tử, góp phần nâng cao tính minh bạch trong công tác quản lý hành chính. Kết quả khảo sát Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh năm 2023 cho thấy, nhận thức của công chúng về quyền tham gia giám sát và TCTT, đặc biệt, trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng và quản trị địa phương, có những cải thiện nhất định[1].
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, quyền yêu cầu cung cấp thông tin được bảo đảm cho công dân Việt Nam, cụ thể: “Công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này”. Trong thực tiễn, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thể TCTT phục vụ hoạt động của mình thông qua người đại diện hoặc người được ủy quyền là công dân thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật. Quy định này phù hợp với yêu cầu thực tiễn khi doanh nghiệp thường xuyên cần TCTT để phục vụ hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và tuân thủ pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện quyền TCTT qua người đại diện hợp pháp, qua đó, bảo đảm tính bao quát và bình đẳng.
Mặc dù, đã có khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, thực tiễn triển khai thi hành pháp luật về quyền TCTT ở Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như:
Thứ nhất, quy định về “thông tin không được tiếp cận” chưa được hướng dẫn cụ thể. Việc xác định điều kiện “gây phương hại đến lợi ích Nhà nước” hoặc “bảo mật nội bộ” trong nhiều trường hợp chưa có tiêu chí rõ ràng, hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ quan, địa phương, thậm chí có thể bị chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin lạm dụng nhằm phục vụ lợi ích cá nhân[2]. Điều này làm gia tăng tính không ổn định về phạm vi quyền TCTT và ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi quyền đã được pháp luật ghi nhận. Trong bối cảnh sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, việc đề xuất mở rộng danh mục “thông tin không được tiếp cận”, gồm bí mật doanh nghiệp, dữ liệu cá nhân cần được cân nhắc thận trọng, bởi nếu thiếu cơ chế kiểm soát hợp lý, việc mở rộng này có thể làm thu hẹp quyền TCTT một cách không cần thiết.
Thứ hai, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu còn phức tạp và chưa phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số. Mặc dù, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định tương đối chi tiết về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin, nhưng nhiều thủ tục gắn liền với phương thức xử lý hồ sơ bằng giấy tờ, yêu cầu nộp đơn bằng văn bản. Điều này chưa tương thích với việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến và quản lý dữ liệu điện tử. Khối lượng thông tin điện tử ngày càng lớn, trong khi quy trình cung cấp thông tin chưa được thiết kế phù hợp với môi trường số, dẫn đến hiệu quả thực thi quyền TCTT còn hạn chế[3].
Thứ ba, mức độ chủ động trong công khai thông tin của cơ quan nhà nước chưa cao. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 phân biệt giữa “công khai thông tin” và “cung cấp theo yêu cầu”, đồng thời, quy định danh mục thông tin phải công khai rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cơ quan chưa thực hiện đầy đủ hoặc kịp thời nghĩa vụ công khai[4], buộc người dân, doanh nghiệp phải gửi yêu cầu chính thức để TCTT, làm gia tăng chi phí thời gian và giảm tính minh bạch. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật phục vụ công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu còn hạn chế; nhiều tài liệu lưu trữ dưới dạng văn bản giấy, chưa đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác; công chức phụ trách các trang thông tin điện tử thường kiêm nhiệm và thay đổi thường xuyên, ảnh hưởng đến tính ổn định, hiệu quả cung cấp thông tin.
Thứ tư, quy định về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin chưa bảo đảm tính ổn định và thống nhất. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm cung cấp thông tin chủ yếu thuộc về các cơ quan nhà nước, đồng thời, liệt kê cụ thể các cơ quan có trách nhiệm này tại khoản 2 Điều 9. Tuy nhiên, phương thức liệt kê có thể không bảo đảm tính ổn định, lâu dài trong bối cảnh tổ chức bộ máy nhà nước được sắp xếp, tinh gọn. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, nhiều thông tin quan trọng có ảnh hưởng lớn đến xã hội không chỉ do cơ quan nhà nước tạo ra và nắm giữ, mà còn thuộc về các tổ chức ngoài Nhà nước[5], song, pháp luật chưa có cơ chế phù hợp để điều chỉnh trách nhiệm cung cấp thông tin trong các trường hợp này, dẫn đến nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm hoặc thiếu trách nhiệm giải trình[6].
Thứ năm, sự thiếu đồng bộ giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và một số luật chuyên ngành làm phát sinh nhiều khó khăn trong áp dụng. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được xây dựng như một đạo luật khung, với nguyên tắc công dân được quyền TCTT, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, các luật chuyên ngành lại thiết lập các chế độ thông tin riêng với mức độ bảo mật khác nhau. Chẳng hạn, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định chặt chẽ về bảo mật thông tin sức khỏe, bệnh án và dữ liệu cá nhân của người bệnh. Theo các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bệnh, thông tin bệnh án chỉ được cung cấp cho người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp, trừ một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định[7]. Cách tiếp cận này đặt bảo mật thông tin cá nhân làm nguyên tắc ưu tiên, trong khi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 xây dựng trên nền tảng nguyên tắc công khai là chủ đạo, hạn chế là ngoại lệ. Tương tự, Luật Đất đai năm 2024 mở rộng đáng kể nghĩa vụ công khai thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; nhiều quy định yêu cầu công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, phản ánh xu hướng minh bạch chủ động và chuyển đổi số[8]. Tuy nhiên, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 vẫn duy trì các căn cứ từ chối cung cấp thông tin tương đối rộng, như thông tin có thể “gây phương hại đến lợi ích của Nhà nước”. Từ đó, cơ quan quản lý có thể viện dẫn các căn cứ chung của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 để trì hoãn hoặc hạn chế việc cung cấp hồ sơ chi tiết quy hoạch, mặc dù, Luật Đất đai năm 2024 nhấn mạnh việc yêu cầu công khai. Về lý luận, có thể áp dụng nguyên tắc “luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với luật chung”, tuy nhiên, nếu không quy định hợp lý và thống nhất giữa các văn bản pháp luật có thể làm thu hẹp quyền TCTT theo yêu cầu của cá nhân, doanh nghiệp, đồng thời, gây khó khăn cho cơ quan thực thi trong xác định phạm vi áp dụng, ưu tiên quyền công khai thông tin hay bảo vệ bí mật cá nhân, bí mật doanh nghiệp.
2. Kinh nghiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp tại một số quốc gia
Trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật, việc nghiên cứu, so sánh pháp luật, kinh nghiệm quốc tế không chỉ mang ý nghĩa so sánh, mà còn giúp nhận diện rõ các mô hình cân bằng giữa minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ lợi ích công cộng. Phân tích thực tiễn pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu giúp cung cấp những luận cứ quan trọng để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong việc hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu phù hợp với quản trị hiện đại và tiến trình chuyển đổi số hiện nay.
2.1. Kinh nghiệm của Thụy Điển
Thụy Điển được xem là hình mẫu kinh điển trong pháp luật so sánh về quyền TCTT công, không chỉ bởi việc ghi nhận từ rất sớm mà còn bởi cách thức thiết lập quyền TCTT như cấu phần cốt lõi của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong hệ thống pháp luật Thụy Điển, quyền yêu cầu cung cấp thông tin của công dân và doanh nghiệp không được tiếp cận như thủ tục hành chính đơn thuần, mà được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và dân chủ. Hiện, quyền yêu cầu cung cấp thông tin của người dân, doanh nghiệp tại Thụy Điển được điều chỉnh chủ yếu bởi Đạo luật công khai thông tin và bảo mật (Public Access to Information and Secrecy Act), trên cơ sở các quy định hiến định về tự do ngôn luận và quyền TCTT, đồng thời, được cụ thể hóa thông qua các hướng dẫn áp dụng thực thi tại các cơ quan công quyền.
Thứ nhất, về nguyên tắc công khai thông tin và cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu cung cấp thông tin.
Trong hệ thống pháp luật Thụy Điển, nguyên tắc công khai thông tin được nâng lên thành “nguyên tắc hiến định cốt lõi”[9]. Thông qua Đạo luật về tự do báo chí (Freedom of the Press Act), Thụy Điển xác lập quyền tiếp cận rộng rãi của công chúng và giới báo chí đối với các thông tin chính thức mà cơ quan nhà nước nắm giữ, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong khu vực công. Tư duy lập pháp của Thụy Điển đặt quyền TCTT là nguyên tắc cơ bản, trong khi các quy định về bí mật chỉ là những ngoại lệ hẹp. Theo Đạo luật công khai thông tin và bảo mật, mọi rào cản đối với quyền TCTT phải dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể, rõ ràng, minh bạch. Cơ chế này giúp ngăn ngừa việc lạm dụng lý do bảo mật nhằm từ chối cung cấp thông tin một cách tùy tiện từ phía các cơ quan nhà nước[10].
Tại Thụy Điển, việc hiến định hóa nguyên tắc công khai là biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn xu hướng thu hẹp quyền TCTT trong quá trình thi hành pháp luật. Cách tiếp cận này thể hiện quan điểm chính sách rõ ràng: Nhà nước phải chứng minh lý do hạn chế quyền, thay vì người dân phải chứng minh lý do TCTT. Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc để hoàn thiện các cơ sở hạn chế TCTT trong pháp luật về TCTT.
Thứ hai, về phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin.
Pháp luật Thụy Điển áp dụng cách tiếp cận rộng rãi khi trao quyền TCTT cho mọi cá nhân mà không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú hay mục đích sử dụng thông tin[11]. Đặc điểm nổi bật trong các hướng dẫn thi hành là người yêu cầu không phải giải trình lý do TCTT, cơ quan công quyền không được thiết lập các rào cản mang tính hình thức hay các thủ tục hành chính phức tạp làm cản trở quyền TCTT. Việc loại bỏ nghĩa vụ nêu lý do thể hiện cách tiếp cận coi quyền TCTT là quyền hiến định độc lập, không phụ thuộc vào mục đích của người yêu cầu. Cơ chế này góp phần bảo đảm quyền TCTT được thực thi trên thực tế, thay vì chỉ tồn tại trên phương diện hình thức.
Thứ ba, về phạm vi thông tin được cung cấp.
Thụy Điển sử dụng khái niệm “tài liệu chính thức” với phạm vi rộng và theo hướng linh hoạt. Khái niệm này gồm toàn bộ các dạng thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc lưu giữ, như tài liệu giấy, thư điện tử, bản ghi âm, video và dữ liệu kỹ thuật số[12]. Trong bối cảnh quản trị hiện đại, nhiều dạng dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động của cơ quan công quyền, như tệp tin điện tử, lịch sử truy cập hoặc dữ liệu kỹ thuật số, cũng được coi là tài liệu chính thức. Cách tiếp cận bao trùm này giúp hệ thống pháp luật thích ứng với sự phát triển của công nghệ, bảo đảm hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số vẫn chịu sự giám sát của công chúng.
Thứ tư, về giới hạn TCTT và nghĩa vụ xem xét từng phần tài liệu.
Mặc dù, pháp luật Thụy Điển quy định các căn cứ hạn chế tiếp cận nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, đời sống riêng tư và lợi ích kinh tế, nhưng các hạn chế này luôn được áp dụng theo nguyên tắc “giới hạn trong phạm vi cần thiết”. Điểm nổi bật là nghĩa vụ xem xét từng phần tài liệu, theo đó, trường hợp một tài liệu chứa cả thông tin mật và thông tin có thể công khai, cơ quan nắm giữ thông tin có trách nhiệm bóc tách, che giấu phần thông tin mật để cung cấp phần còn lại. Nghĩa vụ này vừa tối ưu hóa tính minh bạch, vừa buộc các cơ quan nhà nước nâng cao trách nhiệm giải trình trong phân loại và xử lý thông tin.
Thứ năm, về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Quyền TCTT tại Thụy Điển được bảo đảm bằng quy trình xử lý đơn giản và nhanh chóng. Pháp luật quy định việc cung cấp thông tin phải được thực hiện “ngay lập tức” hoặc trong thời hạn ngắn nhất có thể, bảo đảm tính thời sự của thông tin. Thủ tục được thiết kế theo hướng giảm thiểu các yêu cầu hành chính không cần thiết. Chính sự đơn giản trong thủ tục và tính nghiêm ngặt về thời hạn đã giúp quyền TCTT trở thành công cụ kiểm soát quyền lực hiệu quả của công chúng.
Kinh nghiệm của Thụy Điển cho thấy, việc hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu cần chuyển từ tư duy “cho phép cung cấp thông tin” sang tư duy “nghĩa vụ cung cấp thông tin”. Nguyên tắc công khai là chủ đạo, bí mật là ngoại lệ; không yêu cầu người dân, doanh nghiệp nêu lý do tiếp cận; nghĩa vụ cung cấp từng phần tài liệu; thủ tục đơn giản, nhanh chóng là những yếu tố bảo đảm hiệu quả thực chất của quyền TCTT. Đây là những kinh nghiệm có giá trị quan trọng mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc để hoàn thiện các quy định pháp luật về các căn cứ từ chối cung cấp thông tin trong dự thảo Luật. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp, việc mở rộng này có thể làm suy giảm tính thực chất của quyền TCTT.
2.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Khác với mô hình TCTT công theo hướng mở rộng như Thụy Điển, pháp luật Nhật Bản tiếp cận quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư. Cách tiếp cận này phản ánh sự thận trọng trong kỹ thuật lập pháp của Nhật Bản trong bối cảnh xã hội có mức độ nhạy cảm cao đối với việc xử lý thông tin cá nhân, đồng thời, cho thấy mô hình điều chỉnh “kép”, minh bạch thông tin và bảo vệ đời sống riêng tư được đặt trong trạng thái cân bằng.
Cơ chế chung về TCTT theo yêu cầu tại Nhật Bản được quy định chủ yếu trong Luật Tiếp cận thông tin do các cơ quan hành chính nắm giữ năm 1999 (Act on Access to Information Held by Administrative Organs). Theo đó, bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nào cũng có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hành chính “tiết lộ” các tài liệu hành chính do cơ quan đó quản lý. Quy định này cho thấy, phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin tương đối rộng, gồm công dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Đối tượng của yêu cầu cung cấp thông tin là các “tài liệu hành chính”. Theo Điều 2 của Luật, tài liệu hành chính được hiểu là các văn bản, hình ảnh hoặc dữ liệu điện tử được cơ quan hành chính tạo lập hoặc thu thập trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và được lưu giữ để phục vụ hoạt động của cơ quan. Phạm vi khái niệm này tương đối rộng, cho phép người dân, doanh nghiệp tiếp cận nhiều loại thông tin liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước, như quyết định hành chính, báo cáo, tài liệu chuyên môn hoặc dữ liệu phục vụ hoạch định và thực thi chính sách.
Về thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, pháp luật Nhật Bản quy định người có nhu cầu phải nộp đơn yêu cầu cung cấp thông tin đến cơ quan hành chính có liên quan. Trong đơn yêu cầu, người đề nghị cần nêu rõ các thông tin cần thiết như họ tên, địa chỉ và mô tả tài liệu hành chính cần tiếp cận ở mức độ đủ để cơ quan nhà nước có thể xác định được tài liệu đó. Sau khi tiếp nhận yêu cầu, người đứng đầu cơ quan hành chính có trách nhiệm xem xét và đưa ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cung cấp thông tin.
Mặc dù, nguyên tắc chung là cơ quan nhà nước phải cung cấp tài liệu hành chính khi có yêu cầu hợp lệ, pháp luật Nhật Bản vẫn đặt ra một số trường hợp ngoại lệ nhằm bảo vệ lợi ích cần thiết của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Theo Điều 5 của Luật, cơ quan hành chính có thể từ chối cung cấp thông tin trong một số trường hợp nhất định, gồm thông tin có thể gây phương hại đến an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế hoặc trật tự, an toàn xã hội; thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; các thông tin liên quan đến quá trình thảo luận, xem xét nội bộ của cơ quan nhà nước mà việc công khai có thể ảnh hưởng đến tính khách quan trong quá trình ra quyết định.
Trong trường hợp tài liệu hành chính vừa chứa thông tin có thể công khai, vừa chứa thông tin thuộc diện hạn chế tiếp cận, pháp luật Nhật Bản cho phép cơ quan hành chính cung cấp một phần thông tin. Theo Điều 6 của Luật, cơ quan nhà nước có thể loại bỏ những nội dung không được công khai và cung cấp phần thông tin còn lại cho người yêu cầu. Cơ chế này giúp bảo đảm tối đa quyền TCTT của người dân, doanh nghiệp, đồng thời, vẫn bảo vệ những lợi ích cần được giữ bí mật.
Một trong những nhóm thông tin cần được bảo vệ đặc biệt trong quá trình cung cấp thông tin là thông tin cá nhân. Hệ thống pháp luật Nhật Bản thiết lập khuôn khổ điều chỉnh riêng thông qua Luật Bảo vệ thông tin cá nhân (Act on the Protection of Personal Information - APPI). Đạo luật này quy định các nguyên tắc thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân nhằm bảo đảm việc khai thác và cung cấp thông tin không xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân. Theo APPI, “thông tin cá nhân được hiểu là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân cụ thể, gồm các dữ liệu như tên, ngày sinh, địa chỉ, mã số định danh cá nhân và các thông tin khác có thể được sử dụng để xác định danh tính của cá nhân đó, dưới nhiều hình thức lưu trữ khác nhau như văn bản, âm thanh hoặc dữ liệu điện tử”. Bên cạnh đó, APPI phân biệt giữa thông tin cá nhân thông thường và thông tin cá nhân cần được bảo vệ đặc biệt, gồm các dữ liệu liên quan đến chủng tộc, địa vị xã hội, tiền sử bệnh tật, hồ sơ tội phạm, tín ngưỡng hoặc các thông tin có thể dẫn đến phân biệt đối xử. Đối với nhóm thông tin này, pháp luật đặt ra yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt hơn, trong đó, phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trước khi xử lý trong những trường hợp luật định.
Liên quan trực tiếp đến cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu, pháp luật Nhật Bản ghi nhận quyền của cá nhân được yêu cầu tổ chức, doanh nghiệp hoặc cơ quan đang nắm giữ dữ liệu tiết lộ thông tin cá nhân liên quan đến mình. Việc cung cấp thông tin có thể được thực hiện dưới dạng văn bản hoặc dữ liệu điện tử theo yêu cầu của chủ thể dữ liệu. Trường hợp từ chối cung cấp, chủ thể xử lý dữ liệu có nghĩa vụ nêu rõ lý do theo quy định của pháp luật.
Cùng với quyền được TCTT, APPI còn bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu được yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc xóa thông tin cá nhân nếu dữ liệu không chính xác, không đầy đủ hoặc việc sử dụng đã vượt quá mục đích ban đầu. Cơ chế này buộc các chủ thể nắm giữ thông tin phải thường xuyên rà soát, cập nhật và bảo đảm tính chính xác của dữ liệu trước và sau khi cung cấp theo yêu cầu.
Ngoài ra, trong trường hợp xảy ra vi phạm dữ liệu cá nhân, APPI yêu cầu đơn vị xử lý phải báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho cá nhân liên quan, đồng thời, thiết lập cơ chế xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi không tuân thủ, gồm phạt tiền ở mức cao và các biện pháp công khai thông tin vi phạm nhằm bảo đảm tính răn đe. Những quy định này cho thấy, pháp luật Nhật Bản không xem cung cấp thông tin theo yêu cầu là cơ chế độc lập, mà đặt cơ chế này trong tổng thể quản trị dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư.
Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, trong bối cảnh số hóa và phát triển kinh tế dữ liệu, việc hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu không thể tách rời khuôn khổ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm này của Nhật Bản để thiết kế cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Luật Tiếp cận thông tin và pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tránh tình trạng xung đột hoặc chồng chéo trong quá trình áp dụng, đồng thời, bảo đảm quyền TCTT không trở thành công cụ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân.
3. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực TCTT cần hướng tới thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng về phát huy dân chủ, bảo đảm thực chất quyền TCTT của công dân; đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, các quy định của Luật cũng cần được cập nhật theo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong cung cấp thông tin, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và phù hợp với xu hướng đổi mới tư duy, kỹ thuật lập pháp trong giai đoạn hiện nay.
Dự thảo Luật công bố lấy ý kiến vào ngày 12/02/2026, quy định chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu từ Điều 23 đến Điều 28. Trên cơ sở tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin.
Quyền TCTT là quyền con người cơ bản, gắn với quyền tự do ngôn luận. Theo xu hướng lập hiến hiện đại, quyền này thường được ghi nhận cho “mọi người”, gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú hợp pháp. Hiến pháp năm 2013 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định quyền TCTT dành cho công dân, chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền TCTT như một quyền phổ quát theo chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhu cầu TCTT của nhà đầu tư, tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài ngày càng gia tăng. Việc giới hạn chủ thể tiếp cận chỉ là “công dân” có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch của môi trường đầu tư kinh doanh. Do đó, Việt Nam cần nghiên cứu, mở rộng và ghi nhận trong Hiến pháp nguyên tắc “mọi người có quyền TCTT”, đồng thời, hoàn thiện pháp luật về TCTT theo hướng: mọi người thực hiện quyền TCTT theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Cách tiếp cận này vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa bảo đảm tính mở của hệ thống pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Thứ hai, về nguyên tắc cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản theo hướng lồng ghép nguyên tắc công khai thông tin là cốt lõi với nguyên tắc cân bằng lợi ích để hoàn thiện quy định pháp luật về thông tin được cung cấp theo yêu cầu. Vì vậy, Điều 23 dự thảo Luật cân nhắc sửa đổi theo hướng:
“Điều 23. Thông tin được cung cấp theo yêu cầu
1. Mọi thông tin do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ đều được cung cấp theo yêu cầu, trừ trường hợp thuộc phạm vi hạn chế tiếp cận theo quy định của Luật này.
2. Thông tin thuộc diện phải công khai nhưng chưa được công khai, đã hết thời hạn công khai hoặc tạm thời không thể tiếp cận do sự kiện bất khả kháng vẫn phải được cung cấp theo yêu cầu.
3. Đối với thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm:
a) Xem xét cung cấp phần thông tin không thuộc diện hạn chế tiếp cận;
b) Thực hiện biện pháp loại trừ phần thông tin thuộc diện hạn chế trước khi cung cấp.
4. Trong trường hợp thông tin không thuộc diện bắt buộc cung cấp nhưng việc cung cấp là cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe cộng đồng hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, đơn vị phải xem xét và quyết định trên cơ sở cân bằng lợi ích”.
Kinh nghiệm của Thụy Điển cho thấy, nguyên tắc công khai phải được xem là triết lý cốt lõi, trong đó, thông tin thuộc về công chúng, trừ những trường hợp thật sự cần bảo vệ. Ngược lại, kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, cần có cơ chế cân bằng giữa minh bạch và bảo vệ quyền riêng tư, bí mật kinh doanh và lợi ích quốc gia. Do đó, pháp luật cần thiết kế cơ chế đánh giá dựa trên các tiêu chí như: tính cần thiết của việc hạn chế; mức độ ảnh hưởng đến lợi ích được bảo vệ; tính tương xứng giữa lợi ích công cộng đạt được và thiệt hại có thể phát sinh.
Quy định về cung cấp thông tin một phần có thể tham khảo quy định về mã hóa thông tin tại Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của Tòa án[13]. Đây là biểu hiện của tư duy bảo vệ quyền theo nguyên tắc tương xứng được thừa nhận rộng rãi trong lý luận hiến pháp hiện đại.
Thứ ba, về thời hạn cung cấp thông tin.
Hiệu quả của quyền TCTT phụ thuộc trực tiếp vào tính kịp thời của việc cung cấp thông tin. Nếu thông tin được cung cấp khi đã mất tính kịp thời hoặc không còn khả năng bảo vệ lợi ích của người yêu cầu, quyền này sẽ bị vô hiệu hóa trên thực tế. Kinh nghiệm của Thụy Điển cho thấy, đối với tài liệu sẵn có và không cần xử lý kỹ thuật, cơ quan nhà nước phải cung cấp ngay hoặc trong thời hạn ngắn nhất có thể. Cách tiếp cận này xuất phát từ nhận thức minh bạch là trạng thái bình thường của hoạt động công vụ, không phải là thủ tục hành chính đặc biệt. Trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số tại Việt Nam, việc quy định cơ chế cung cấp ngay đối với thông tin sẵn có là khả thi. Đặc biệt, người dân có thể thực hiện thủ tục yêu cầu bằng các thao tác đơn giản trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc thông qua ứng dụng VNeID.
Thứ tư, về cơ chế từ chối cung cấp thông tin và bảo đảm quyền của người yêu cầu.
Từ chối cung cấp thông tin thực chất là quyết định hành chính hạn chế quyền con người, do đó, cần được kiểm soát chặt chẽ. Cần bổ sung quy định về từ chối cung cấp thông tin vào Điều 27 dự thảo Luật như sau:
“Điều 27. Từ chối yêu cầu cung cấp thông tin
7. Thông báo quyền khiếu nại, tố cáo hoặc quyền khởi kiện vụ án hành chính cho người yêu cầu được biết”.
Quy định này đặt hoạt động từ chối cung cấp thông tin trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo đảm quyền được bảo vệ bằng tư pháp. Khi quyết định từ chối có thể trở thành đối tượng khởi kiện trong tố tụng hành chính, cơ quan hành chính buộc phải cân nhắc thận trọng hơn về căn cứ pháp lý, tính cần thiết và tính tương xứng của việc hạn chế quyền.
Kết luận
Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp giữ vai trò then chốt trong bảo đảm quyền TCTT, đồng thời, thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Qua phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam cho thấy, mặc dù, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý cơ bản, nhưng cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Nghiên cứu kinh nghiệm của Thụy Điển và Nhật Bản cho thấy, hai cách tiếp cận khác nhau nhưng đều hướng tới bảo đảm hiệu quả thực chất của quyền TCTT trên cơ sở cân bằng giữa minh bạch và bảo vệ lợi ích công, quyền riêng tư. Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị hiện nay, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin cần tập trung hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin theo hướng rõ ràng, khả thi và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, qua đó, bảo đảm quyền TCTT được thực thi hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong giai đoạn mới./.
Bùi Lê Hiếu
Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng
& Nguyễn Hà Phương Anh, Lưu Thị Hoài Thu
Học viện Tòa án
Ảnh: Internet
[1]. UNDP (2023), 2023 PAPI shows progress in citizen perceptions on local anti-corruption efforts and e-governance amid concerns on transparency and the economy, https://www.undp.org/vietnam/press-releases/2023-papi-shows-progress-citizen-perceptions-local-anti-corruption-efforts-and-e-governance-amid-concerns-transparencyt, truy cập ngày 03/02/2026.
[2]. Nguyễn Thị Hồng Thúy (2016), Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 43.
[3]. Nền tảng quảng bá Việt Nam (2025), Sửa Luật Tiếp cận thông tin: Tăng quyền cho người dân, https://www.vietnam.vn/en/sua-luat-tiep-can-thong-tin-tang-quyen-cho-nguoi-dan, truy cập ngày 03/02/2026.
[4]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2021), Luật Tiếp cận thông tin - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện, https://lsvn.vn/luat-tiep-can-thong-tin-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-hoan-thien1627602568-a106813.html, truy cập ngày 05/3/2026.
[5]. Nguyễn Ngọc Quang (2016), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam dưới góc độ của chủ thể bảo đảm quyền, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 84 - 85.
[6]. Dương Văn Quý (2026), Kiến nghị sửa đổi một số quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=666, truy cập ngày 03/02/2026.
[7]. Khoản 2 Điều 10, Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
[8]. Điều 24, Điều 75 Luật Đất đai năm 2024.
[9]. Ministry of Justice Sweden (2020), Public Access to Information and Secrecy - The legislation in brief, Public access to information and secrecy - The legislation in brief, truy cập ngày 08/02/2026.
[10]. Ministry of Justice Sweden (2020), tlđd, tr. 3, 6 - 7.
[11]. Ministry of Justice Sweden (2020), tlđd, tr. 8.
[12]. Ministry of Justice Sweden (2020), tlđd, tr. 2.
[13]. “1. Việc mã hóa thông tin trong bản án, quyết định phải đảm bảo chính xác, không trùng lặp thông tin, không làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định. 2. Các thông tin về tên, địa chỉ của cá nhân, cơ quan, tổ chức và những thông tin khác liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình có trong bản án, quyết định của Tòa án mà việc công bố sẽ vi phạm nguyên tắc hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này phải được mã hóa. Ví dụ 1: “ông Nguyễn Văn Huy” được thay bằng “ông A”. “Công ty trách nhiệm hữu hạn Bình Minh” được thay bằng “Công ty trách nhiệm hữu hạn B”. Ví dụ 2: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 501 đường Lý Thường Kiệt, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” được thay bằng “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại đường M, phường N, quận P, thành phố Hà Nội”. Không mã hóa tên của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng; địa danh hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ví dụ 3: “địa chỉ: Số 501 đường Lý Thường Kiệt, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” được thay bằng “địa chỉ: đường M, phường N, quận P, thành phố Hà Nội”. 4. Bản án, quyết định sau khi được mã hóa phải được định dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Văn Quý (2026), Kiến nghị sửa đổi một số quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=666, truy cập ngày 03/02/2026.
2. Ministry of Justice Sweden (2020), Public Access to Information and Secrecy - The legislation in brief, Public access to information and secrecy - The legislation in brief, truy cập ngày 08/02/2026.
3. Nền tảng quảng bá Việt Nam (2025), Sửa Luật Tiếp cận thông tin: Tăng quyền cho người dân, https://www.vietnam.vn/en/sua-luat-tiep-can-thong-tin-tang-quyen-cho-nguoi-dan, truy cập ngày 03/02/2026.
4. Nguyễn Ngọc Quang (2016), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam dưới góc độ của chủ thể bảo đảm quyền, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Hồng Thúy (2016), Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
6. UNDP (2023), 2023 PAPI shows progress in citizen perceptions on local anti-corruption efforts and e-governance amid concerns on transparency and the economy, https://www.undp.org/vietnam/press-releases/2023-papi-shows-progress-citizen-perceptions-local-anti-corruption-efforts-and-e-governance-amid-concerns-transparencyt, truy cập ngày 03/02/2026.