Thứ sáu 01/05/2026 01:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chia sẻ kinh nghiệm của Liên bang Nga về hoàn thiện và thực thi pháp luật trong lĩnh vực luật sư, hành nghề luật sư

Triển khai Kế hoạch hoạt động năm 2024 của Tổ công tác hỗn hợp Việt Nam - Liên bang Nga ban hành kèm theo Quyết định số 415/QĐ-BTP ngày 22/3/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ngày 07/11/2024, Bộ Tư pháp Việt Nam (Vụ Hợp tác quốc tế và Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp Việt Nam) phối hợp với Bộ Tư pháp Liên bang Nga tổ chức Tọa đàm trực tuyến chia sẻ kinh nghiệm của Liên bang Nga về hoàn thiện và thực thi pháp luật trong lĩnh vực luật sư, hành nghề luật sư. Tọa đàm tổ chức vào ngày 07/11/2024.

Toàn cảnh Tọa đàm

Về phía Việt Nam, ông Nguyễn Hữu Huyên - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và bà Đặng Kim Hoa - Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp cùng chủ trì Tọa đàm. Tham dự tọa đàm có đại diện một số Bộ, ngành, Sở Tư pháp, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.

Về phía Liên bang Nga, Tọa đàm có sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp Liên bang Nga, Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Nguyễn Hữu Huyên cho biết, Luật Luật sư được ban hành lần đầu năm 2006, sau đó được sửa đổi năm 2012, đến nay trải qua hơn 17 năm thi hành đã bộc lộ những điểm hạn chế nhất định cần được hoàn thiện. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tích cực chuẩn bị hồ sơ trình dự án Luật Luật sư mới thay thế Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài, Vụ trưởng Nguyễn Hữu Huyên khẳng định Liên bang Nga luôn là địa chỉ tin cậy đối với Việt Nam vì hệ thống luật hai nước có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt, Việt Nam có rất nhiều chuyên gia pháp luật hàng đầu đã từng tham gia học tập, tu nghiệp tại Liên bang Nga. Tại buổi Tọa đàm, Vụ trưởng mong muốn và đề nghị hai bên tích cực cùng chia sẻ kinh nghiệm về thể chế cũng như thực tiễn thực thi pháp luật liên quan đến hành nghề luật sư, góp phần giúp Việt Nam hoàn thiện pháp luật luật sư trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Hữu Huyên - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế phát biểu khai mạc Tọa đàm

Chia sẻ về nội dung quản lý tổ chức và hoạt động luật sư tại Việt Nam, bà Dương Thu Phương, Trưởng Phòng Quản lý luật sư, tư vấn pháp luật, Cục Bổ trợ tư pháp cho biết, các luật sư hành nghề chủ yếu thông qua các Văn phòng luật sư, Công ty luật hoặc số ít hành nghề với tư cách cá nhân tại các cơ quan, tổ chức, bảo đảm tuân thủ nguyên tắc hành nghề luật sư, trong đó đề cao tính độc lập, trung thực, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư. Ở Việt Nam, quản lý đối với tổ chức, hoạt động luật sư được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư. Ở Trung ương, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan; ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý tổ chức, hoạt động luật sư. Hành nghề luật sư là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, cá nhân và tổ chức muốn hành nghề phải đáp ứng một số tiêu chuẩn, điều kiện nhất định về chứng chỉ hành nghề, điều kiện hành nghề, đăng ký hoạt động tại cơ quan có thẩm quyền. Việc triển khai đầy đủ, trách nhiệm các văn bản pháp luật, Đề án, Chiến lược phát triển đội ngũ luật sư, nghề luật sư đã góp phần thúc đẩy hoạt động hành nghề luật sư cũng như tính chuyên nghiệp về dịch vụ pháp lý của luật sư tại Việt Nam. Tính đến tháng 10/2024, Việt Nam có khoảng 19.200 luật sư, hơn 5.900 tổ chức hành nghề luật sư. Số lượng tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam là hơn 90 công ty/chi nhánh, với khoảng 300 luật sư nước ngoài đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

Bà Dương Thu Phương, Trưởng Phòng Quản lý luật sư, tư vấn pháp luật, Cục Bổ trợ tư pháp chia sẻ tại Tọa đàm

Về yêu cầu sửa đổi Luật Luật sư và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bà Dương Thu Phương nhấn mạnh, trong tiến trình cải cách tư pháp cũng như hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hỗ trợ các dịch vụ, trong đó có dịch vụ pháp lý thì yêu cầu sửa đổi toàn diện Luật Luật sư nhằm đáp ứng những điều kiện trong tình hình mới là rất cần thiết. Bà Phương cho biết thêm, một trong những định hướng lớn khi sửa đổi Luật Luật sư là bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật liên quan đến luật sư và hành nghề luật sư; kế thừa, phát triển những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm và phù hợp; đồng thời, sửa đổi, bổ sung các quy định để phù hợp với thực tiễn hoạt động luật sư và hành nghề luật sư nhằm phát triển nghề luật sư chất lượng, bền vững, với đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hành nghề, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý lành mạnh; nâng cao trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư; tăng cường vai trò quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư.

Các đại biểu tham dự Tọa đàm

Trao đổi tại Tọa đàm, đại diện Bộ Tư pháp Liên bang Nga cũng chia sẻ một số vấn đề nổi bật trong lĩnh vực hành nghề luật sư tại Nga. Trước hết, về văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động luật sư, Luật Luật sư của Nga được thông qua năm 2002 đến nay tròn 22 năm; từ đó đến nay, không có nhiều thay đổi, chỉ có 02 lần sửa đổi lớn vào năm 2019 và tháng 4/2024. Bên cạnh Luật Luật sư, một trong những văn bản quan trọng điều chỉnh hoạt động luật sư là Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư được thông qua năm 2003. Bộ Quy tắc này đặt ra các quy định bắt buộc đối với từng luật sư về hành vi khi thực hiện hoạt động, dựa trên các tiêu chí đạo đức và truyền thống nghề nghiệp, các tiêu chuẩn quốc tế và quy tắc của nghề luật sư cũng như cơ sở và trình tự xử lý kỷ luật đối với luật sư.

Về điều kiện trở thành luật sư, theo Luật Luật sư, những người có quyền nhận tư cách luật sư ở Liên bang Nga bao gồm: (i) có bằng đại học ngành luật hoặc luật học; (ii) có ít nhất 02 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp lý hoặc hoàn thành chương trình thực tập tại tổ chức hành nghề luật sư; (iii) thông qua kỳ thi chuyên môn, bao gồm phần kiểm tra viết và phỏng vấn trực tiếp; kể từ ngày 01/3/2022, việc kiểm tra chỉ được thực hiện thông qua hệ thống thông tin tự động hóa thống nhất, giúp thực hiện việc kiểm tra kết quả một cách tự động và ẩn danh. Sau khi cơ quan địa phương ghi nhận thông tin về việc cấp tư cách luật sư vào Sổ đăng ký quốc gia về luật sư, luật sư sẽ được cấp chứng chỉ, đây là tài liệu duy nhất xác nhận tư cách luật sư, khi đó, luật sư mới được hành nghề. Chứng chỉ này xác nhận quyền của luật sư được tự do ra, vào các Tòa án bất kỳ để thực hiện hoạt động nghề nghiệp. Sau khi nhận được chứng chỉ, các luật sư vẫn cần phải tiếp tục nâng cao trình độ hàng năm và được chứng nhận. Hiện nay, các lớp học này được thực hiện trực tuyến và miễn phí.

Về việc kỷ luật luật sư, khi đơn được gửi đến, Ủy ban chuyên môn sẽ xem xét xử lý trong thời hạn 02 tháng và chuyển kết luận cho Hội đồng đoàn luật sư. Sau đó, Hội đồng đoàn luật sư xem xét trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày ra kết luận. Hội đồng đoàn luật sư ra quyết định cuối cùng về việc áp dụng biện pháp lỷ luật. Quyết định của Hội đồng đoàn luật sư về việc chấm dứt tư cách luật sư có thể bị kháng cáo tại Tòa án hoặc Hội đồng luật sư Liên bang trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày luật sư biết hoặc phải biết về quyết định này. Dựa trên kết quả xem xét, Hội đồng luật sư Liên bang có thể giữ nguyên hoặc thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định kỷ luật và đưa ra quyết định mới.

Về cơ cấu tổ chức, mỗi địa phương, có 01 Đoàn luật sư được thành lập, hiện có khoảng 89 đoàn. Các Đoàn luật sư được liên kết bởi Đoàn luật sư Liên bang.

Các cơ quan địa phương có 01 danh sách phê duyệt đăng ký luật sư ở nước ngoài hành nghề tại Liên bang Nga. Hiện Liên bang Nga có khoảng 265 luật sư nước ngoài trong danh sách này. Nếu không có trong danh sách, những luật sư nước ngoài không được hành nghề tại Nga. Các luật sư nước ngoài phải chứng minh được tài liệu, chứng chỉ luật sư từ nước của họ.

Tại buổi Tọa đàm, các đại biểu đến từ hai nước đã tích cực trao đổi, làm rõ một số vấn đề giống nhau và khác nhau trong các quy định hiện hành về luật sư, hành nghề luật sư.

Kết thúc Tọa đàm, bà Đặng Kim Hoa - Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp khẳng định phía Bộ Tư pháp Việt Nam đã nhận được những chia sẻ rất quý giá từ các chuyên gia, đồng nghiệp của Liên bang Nga liên quan đến nội dung về tiêu chuẩn trở thành luật sư, việc tổ chức kỳ thi để trở thành luật sư, quản lý nhà nước và nhiệm vụ của các hội nghề nghiệp luật sư ở Liên bang Nga. Những chia sẻ đó rất hữu dụng cho quá trình sửa đổi Luật Luật sư của Việt Nam trong thời gian tới. Thay mặt Bộ Tư pháp, Phó Cục trưởng Đặng Kim Hoa trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Bộ Tư pháp Liên bang Nga, đồng thời cảm ơn tất cả các đại biểu tham dự, chia sẻ, đóng góp ý kiến cho sự thành công của Tọa đàm.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.

Theo dõi chúng tôi trên: